Cách mưu cầu lẽ thật (27)

Về chủ đề “buông bỏ” trong “Cách mưu cầu lẽ thật”, chúng ta đã thông công tới nội dung liên quan đến quan niệm và tưởng tượng trong phần “buông bỏ những rào cản giữa bản thân với Đức Chúa Trời và sự thù địch đối với Ngài”. Mấy lần trước, chúng ta đã thông công về “buông bỏ quan niệm và tưởng tượng về Đức Chúa Trời nhập thể”, hôm nay chúng ta tiếp tục thông công về nội dung này. Về quan niệm và tưởng tượng đối với Đức Chúa Trời nhập thể, chúng ta đã thông công một số chủ đề liên quan đến nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, phải không? Vậy lần trước chúng ta đã thông công những gì? Chúng ta đã thông công về một số biểu hiện cụ thể liên quan đến những gì nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể sống thể hiện ra và bộc lộ, cùng một số nguyên tắc làm người và làm việc trong nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể, sau đó chúng ta thông công về những chuyện mà Đức Chúa Trời nhập thể không làm trong phương diện nhân tính. Việc thông công về những phương diện này giúp người ta hiểu rõ hơn về thực chất tâm tính của xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể, nguyên tắc làm người và làm việc cũng như một số biểu hiện và sự bộc lộ cụ thể của Ngài. Vậy khi thông công về những biểu hiện này của Đức Chúa Trời nhập thể, cho dù là một số sự thật và ví dụ hay là nguyên tắc làm việc cụ thể của Ngài, thì chúng đều liên quan đến những chuyện nhỏ trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Nhìn bề ngoài thì Đức Chúa Trời nhập thể chẳng có những kỳ tích vĩ đại hay những hành động cao cả khiến người ta sùng bái như trong quan niệm và tưởng tượng của con người, mọi biểu hiện của Đức Chúa Trời nhập thể đều rất bình thường, rất thông thường. Chính vì Đức Chúa Trời nhập thể sống giữa nhân loại bình thường và bại hoại này, cho nên những biểu hiện bình thường và thực tế này của Ngài một mặt là biểu hiện tất nhiên phải có trong nhân tính của xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể, mặt khác chúng cũng là nhu cầu bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể khi sống giữa nhân loại. Đương nhiên, những biểu hiện bình thường và thực tế này cũng cho người ta một số thông tin hoặc con đường liên quan đến việc nhận biết Đức Chúa Trời. Chúng giúp người ta thông qua những gì Đức Chúa Trời nhập thể sống thể hiện ra và nguyên tắc thực tế của Ngài trong chuyện làm người giữa nhân gian, mà nhận biết sự thực tế và bình thường của Đức Chúa Trời, cũng như nhận biết Đức Chúa Trời ở trên trời, có thể hiểu chính xác hơn về Đức Chúa Trời ở trên trời, hiểu chính xác về thực chất của Đức Chúa Trời khi Ngài là một con người bình thường và thông thường ở dưới đất.

Có người nói: “Những chuyện và ví dụ này mà Ngài giảng liên quan đến nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể đều rất thông thường, đều là những chuyện vô cùng nhỏ nhặt và không đáng để mắt đến trong cuộc sống thường nhật. Ngài có thể giảng về một vài sự thật khiến người ta cảm thấy thần bí khôn dò, cảm thấy đặc biệt vĩ đại được không?”. Ta nói rằng, đến nay đúng là vẫn chưa có những chuyện như vậy. Bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể sống trong thực tế của nhân tính bình thường như vậy, lại ở trong một hoàn cảnh sống đặc thù nhất định, ngoài làm công tác của chính Đức Chúa Trời ra, phần thời gian còn lại, Ngài ở trong phạm vi cuộc sống của nhân tính bình thường mà tiếp xúc với các anh chị em hoặc xử lý một số vấn đề vụn vặt trong hội thánh. Cho nên ngoài những ví dụ liên quan đến nguyên tắc, tín điều làm người và làm việc mà chúng ta đã thông công ra, thì không có những kỳ tích vĩ đại hay việc làm siêu phàm nào như các ngươi tưởng tượng. Chuyện này có lẽ con người không ngờ tới, cũng có lẽ không hợp với quan niệm và tưởng tượng của con người, nhưng sự thật chính là như vậy. Khi thông công về chủ đề Đức Chúa Trời nhập thể này thì chủ yếu chúng ta nói đến một số biểu hiện, cách sống thể hiện ra cùng những nguyên tắc làm người và làm việc cụ thể của Đức Chúa Trời nhập thể trong nhân tính bình thường. Những điều này khác với những giai thoại của thế gian kể về các vĩ nhân và danh nhân. Khi người trong thế gian kể về một vĩ nhân, danh nhân hoặc cao nhân, họ luôn muốn kể rằng người này khác với người thường ra sao, siêu phàm và vĩ đại thế nào, kể về sức hút nhân cách của người đó, chủ yếu là kể rằng người đó cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp thế nào. Còn chủ đề liên quan đến Đức Chúa Trời nhập thể mà chúng ta nói thì lại hoàn toàn trái ngược với nội dung mà thế gian kể về những cao nhân và vĩ nhân này. Chúng ta chủ yếu nói về sự bình thường, thực tế, thông thường và không siêu phàm của Đức Chúa Trời nhập thể. Chúng ta toàn giảng những ví dụ cụ thể, còn là những ví dụ nhỏ nhặt trong cuộc sống, nói về chuyện nguyên tắc, quan điểm làm người và làm việc của Ngài là gì. Những tư tưởng, quan điểm, nguyên tắc, cách thức làm người và làm việc này đều dựa trên lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường. Chúng ta chủ yếu nói về cách mà Ngài làm người và làm việc. Còn trên thế gian, rất ít người nói về cách làm người, cho dù có người từng nói về chủ đề này, thì họ cũng không nói ra được bao nhiêu ví dụ cụ thể, càng không nói ra được nguyên tắc làm người nào. Họ không kể rằng các danh nhân, vĩ nhân có nguyên tắc tích cực, cách thức tích cực, hay tư tưởng và quan điểm đúng đắn nào trong chuyện làm người và làm việc. Họ chỉ kể về công lao, tài năng, sự học và tinh thần của người đó, còn kể về chuyện nhờ công lao, tài năng, sự học và tinh thần ấy mà người đó chiếm giữ vị trí chủ đạo như thế nào giữa nhân loại. Những điều họ kể lại hoàn toàn trái ngược với nhân tính bình thường mà Đức Chúa Trời nhập thể sở hữu và có sẵn mà chúng ta thông công hôm nay. Những gì mà xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể khiến cho các ngươi nhận biết và hiểu, chính là những nguyên tắc, tín điều làm người, làm việc được sống thể hiện ra và có trong nhân tính bình thường, thực tế của Đức Chúa Trời nhập thể. Những nguyên tắc, tín điều làm người và làm việc này vừa vặn phù hợp với những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với nhân loại mà Ngài muốn cứu rỗi. Chỉ có xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể mới có dạng nhân tính như vậy, mới có được các tư tưởng và quan điểm khác nhau – cùng các nguyên tắc, tín điều làm người và làm việc của Ngài – ở trong nhân tính bình thường và thực tế. Do đó Ngài mới có thể ở trong nhân tính như vậy mà đại diện cho Đức Chúa Trời để làm công tác của chính Đức Chúa Trời, hoàn thành công tác và chức vụ mà Đức Chúa Trời nhập thể nên làm tốt trong thời đại này, mới có thể công bố trọn vẹn cho nhân loại về tâm tính đại diện mà Đức Chúa Trời muốn bày tỏ trong thời đại này, và dĩ nhiên Ngài cũng hoàn toàn đảm nhận được công tác bày tỏ lẽ thật mà Đức Chúa Trời muốn làm trong giai đoạn công tác này. Nếu thực chất nhân tính mà xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể có, sống thể hiện và bộc lộ ra lại không bình thường, thực tế và thông thường như chúng ta đã thông công, hoặc nếu Ngài không có những nguyên tắc và tín điều làm người mà chúng ta đã thông công, thay vào đó lại có thực chất nhân tính của những danh nhân, vĩ nhân mà người ngoại đạo kể về hoặc tôn sùng, thì kết quả sẽ thế nào? (Thưa, thì Ngài sẽ không thể dẫn dắt chúng con đi con đường kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác.) Vậy thì tình cảnh sẽ khác hẳn. Giả dụ xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể có thực chất nhân tính của các vĩ nhân hoặc danh nhân ngoại đạo, cao lớn, siêu phàm, khác với người thường và thần bí khôn dò. Một người như vậy thì làm người và làm việc không có ranh giới, miệng đầy lời dối trá, làm người và làm việc không có khuôn phép, không thật thà, cũng không an phận và không đúng bổn phận, sự mưu cầu, tư tưởng và quan điểm của người đó giống hệt của người ngoại đạo, nghĩa là mưu cầu những điều cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp, chú trọng ân tứ, tri thức và siêu năng lực, vậy thì đối với các ngươi, một người như vậy có thể dẫn các ngươi đi lên con đường nào? (Thưa, người đó không thể dẫn người ta đi lên con đường được cứu rỗi, ngược lại người ta đi theo người đó thì sẽ chỉ ngày càng bại hoại, ngày càng tà ác.) Một người như vậy thì bản thân họ đã không có nguyên tắc tích cực trong việc làm người, cách thức và nguyên tắc làm người của họ đều không tích cực, mà đều thuộc về Sa-tan, vậy thì nguyên tắc và tín điều làm người của người thuộc về Sa-tan này đại diện rất rõ cho thực chất nhân tính của họ. Họ có thực chất nhân tính như vậy thì sự mưu cầu của họ và con đường họ đi sẽ là gì? Sẽ hoàn toàn giống hệt của Sa-tan. Sự mưu cầu của họ và con đường họ đi đều đến từ Sa-tan, đều tương hợp với Sa-tan. Vậy chẳng phải những ai đi theo họ cũng sẽ đi theo sự dẫn dắt của họ, có cùng sự mưu cầu và đi cùng con đường giống họ sao? (Thưa, phải.) Những người này sẽ đi theo sự dẫn dắt của họ, bắt chước nguyên tắc làm người của họ, cũng sẽ giống như họ mà mưu cầu tri thức, địa vị, mưu cầu sự siêu nhiên, mưu cầu những điều cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp, mưu cầu mọi điều siêu phàm, và mọi thứ mà trong mắt con người là thần bí khôn dò. Đi theo người như vậy thì không một ai có thể được cứu rỗi, mà ngược lại sẽ ngày càng sa đọa. Một tập thể như vậy thì không thể được gọi là hội thánh, chủ yếu là vì họ đã rời bỏ công tác của Đức Chúa Trời, cũng không có công tác của Đức Thánh Linh. Thủ lĩnh mà họ đi theo cũng không phải do Đức Chúa Trời thiết lập, càng không phải do Đức Chúa Trời sai đến. Ngay cả khi bản thân họ tự xưng là hội thánh thì cũng vô ích thôi, Đức Chúa Trời không ngó ngàng đến họ. Họ có xưng mình là hội thánh cỡ nào đi nữa, thì Đức Chúa Trời cũng không thừa nhận họ, Đức Thánh Linh cũng sẽ không làm công tác trên họ. Thủ lĩnh đó thích gì thì dạy người ta làm nấy, bên trong họ có cái gì thì cung ứng cho người ta cái nấy, và đó cũng là thứ người ta nhận được từ họ. Họ không có lẽ thật, không cung ứng điều tích cực nào hay hướng dẫn đúng phương hướng nào cho người ta, vậy thì người ta không thể nào đạt được lẽ thật từ họ. Cùng lắm người ta chỉ có thể học được từ họ chút tri thức, chút kỹ năng nghiệp vụ của thế giới ngoại đạo hoặc năng lực trong một lĩnh vực nào đó. Tóm lại, một người không có sự bình thường và thực tế, hoặc không có thực chất thần tính làm sự sống như vậy, thì không thể được gọi là Đức Chúa Trời nhập thể, không thể dẫn con người đến trước mặt Đức Chúa Trời, cũng không thể dẫn con người đi lên con đường được cứu rỗi. Căn cứ vào những sự thật này, thì giữa nhân gian, ngoài xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể ra, có người nào có thể đại diện cho Đức Chúa Trời để làm công tác của Đức Chúa Trời không? (Thưa, không có.) Có người nào có thể đại diện cho Đức Chúa Trời để cứu rỗi nhân loại khỏi tâm tính bại hoại không? (Thưa, không có.) Bất kỳ một thành viên nào trong nhân loại thông thường cũng đều có sự sống và thực chất nhân tính gần như giống nhau, đều là sự sống và thực chất nhân tính đã bị Sa-tan làm bại hoại, nhân loại đều lấy tâm tính bại hoại làm sự sống. Do đó, bất kể xét từ nhân tính của con người hay từ thực chất sự sống của con người, thì toàn nhân loại không một ai có thể đảm nhận công tác này của Đức Chúa Trời nhập thể, cũng không con người bại hoại nào có thể đại diện cho Đức Chúa Trời để cứu rỗi nhân loại bại hoại khỏi sự bại hoại. Đương nhiên, những sự thật này cũng nói cho người ta biết rằng: Không một con người bại hoại nào có thể nói cho nhân loại biết điều tích cực là gì và điều tiêu cực là gì, không một con người bại hoại nào có thể nói cho người ta biết lẽ thật là gì hay tâm ý của Đức Chúa Trời rốt cuộc là gì. Điều mà nhân loại bại hoại cung ứng cho con người chỉ có tri thức, các loại kỹ năng, bản lĩnh hoặc ân tứ mà nhân loại bại hoại mưu cầu, đủ loại thủ đoạn làm người và làm việc, triết lý xử thế, cùng các loại tư tưởng và quan điểm đến từ Sa-tan. Con người, bất kể thuộc chủng tộc nào, đều có một điểm chung, điểm chung này là gì? Con người ai cũng xem những thứ tương đối tích cực hoặc tương đối thiện ý, bảo thủ, truyền thống ở nhân gian là điều tích cực, và cố dùng chúng để thay thế lẽ thật, thay thế tâm ý của Đức Chúa Trời. Người ta cho rằng giữ vững những thứ này là đạt được con đường thật và có thể được cứu rỗi rồi. Trên thực tế, những thứ này chẳng liên quan chút nào đến các yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Ngươi thấy đấy, giữa nhân gian, bất kể là người khôn khéo đến đâu, bất kể có ân tứ cao thế nào, tài năng và sự học cao đến đâu, hoặc có nhân tính bề ngoài lương thiện và nhân nghĩa ra sao, thì cũng không một ai có thể hiểu được lẽ thật, không một ai biết phân định đâu là điều tích cực và đâu là điều tiêu cực. Trước khi Đức Chúa Trời làm công tác, trước khi Đức Chúa Trời bày tỏ lời, gần như toàn bộ nhân loại đều xem văn hóa truyền thống là điều tích cực, thậm chí có người còn tôn thờ văn hóa truyền thống như lẽ thật. Cho nên bất kể xét từ góc độ nào, nếu không phải Đức Chúa Trời nhập thể ở trong nhân tính bình thường mà bày tỏ những lẽ thật này và làm những công tác này, thay vào đó lại để cho bất kỳ một thành viên nào đó trong nhân loại làm công tác này, thì họ sẽ chỉ dẫn dắt con người đi lên con đường lệch khỏi lời Đức Chúa Trời và lệch khỏi tâm ý của Đức Chúa Trời.

Chúng ta hãy xem một ví dụ đơn giản. Chẳng hạn như, bảo người ta lựa chọn trang phục cho chương trình múa, người ta sẽ chọn thế nào? Về mặt lý thuyết, mọi người đều biết rằng người tin Đức Chúa Trời mà làm chương trình múa, nhất là làm video đăng công khai trên mạng, thì trang phục mặc trên người và diện mạo tinh thần của người ta đều đại diện cho dân của Đức Chúa Trời. Do đó, khi chọn trang phục thì nên chọn trang phục đoan trang đứng đắn, không nên mặc trang phục kỳ dị. Nói đến đoan trang đứng đắn thì phải xem xét kỹ. Trong quan niệm của con người, trang phục thế nào được xem là đoan trang đứng đắn? Chính là trang phục mà các dân tộc thường mặc nhất, trang phục tương đối truyền thống, tương đối bảo thủ mà mọi người nhìn vào đều thấy thích hợp, không phải trang phục kỳ dị, không phải chạy theo trào lưu. Đây chính là trang phục đoan trang đứng đắn trong quan niệm của mọi người. Quan điểm của đa số anh chị em trong hội thánh đối với việc lựa chọn trang phục khi làm chương trình là gì? Ngươi thấy đấy, lúc quay phim, quan điểm của người phụ trách trang phục thực ra cũng đại diện cho quan điểm của đa số mọi người. Kiểu dáng quần áo họ chọn đều là những trang phục mà đa số mọi người thường mặc vào thập niên 80, 90. Màu sắc đa số là màu xanh dương, màu kaki hoặc màu xám, chỉ là có cái đậm hơn một chút, có cái nhạt hơn một chút. Xét tổng thể thì chỉ có hai, ba loại màu sắc đơn giản như vậy. Tại sao họ không chọn một vài màu sắc tươi sáng? Trong quan niệm của mọi người, người tin Đức Chúa Trời đều là những người tốt và đoan trang đứng đắn, mặc quần áo thì nên chọn mấy loại màu sắc bình thường nhất và phổ biến nhất này. Ngươi thấy đấy, một chuyện rất đơn giản là lựa chọn kiểu dáng và màu sắc trang phục thôi đã tỏ lộ hoàn toàn quan niệm, tư tưởng và quan điểm sai lầm trong lòng người ta về chuyện tin Đức Chúa Trời. Tức là, bên trong con người có một quan niệm rất nghiêm trọng, nhiều người cho rằng tin Đức Chúa Trời thì phải thủ cựu, phải khôi phục truyền thống. Trong quan niệm của họ cho rằng những thứ truyền thống, cổ hủ, lạc hậu, hủ lậu này mới là điều tích cực, mới là điều làm Đức Chúa Trời đẹp lòng. Có phải đa số mọi người đều cho là vậy không? (Thưa, phải.) Đây là những thứ trong đầu óc con người. Con người ai cũng định nghĩa những thứ truyền thống, lạc hậu, cũ kỹ và cổ hủ đó là điều tích cực. Cho nên, khi làm chương trình, đối với chuyện đơn giản nhất và cơ bản nhất là màu sắc và kiểu dáng trang phục, người ta cũng không thể lựa chọn cho chính xác. Họ đều dùng quan niệm để đánh giá chuyện này, đều đặc biệt thủ cựu, lại còn đặc biệt ngu ngốc một cách ngoan cố. Ngươi nói xem, quan niệm của con người đối với Đức Chúa Trời nhiều tới mức nào đây! Điều tích cực mà con người định nghĩa và thứ mà con người cho rằng Đức Chúa Trời yêu thích đều là văn hóa truyền thống trong quan niệm của con người hoặc là những thứ được người đời tiếp nhận và công nhận giữa con người với nhau, chẳng có một chút quan hệ nào với lẽ thật. Vậy các ngươi nói xem, bản thân Ta thuộc phái truyền thống hay phái hiện đại? (Thưa, Đức Chúa Trời không thuộc phái truyền thống, cũng không thuộc về phái hiện đại.) Có người nói: “Thông qua những gì Ngài thông công, chúng con biết Ngài không thích văn hóa truyền thống, bởi vì Ngài sống trong hiện tại. Ít nhất Ngài không truyền thống, không thủ cựu”. Các ngươi nói Ta không truyền thống, vậy Ta thuộc phái hiện đại sao? (Thưa, không phải.) Từ điểm nào, các ngươi nhìn ra Ta không thuộc phái hiện đại? (Thưa, người trên thế giới hiện nay tương đối thích trào lưu, nhưng Đức Chúa Trời dạy dỗ chúng con phải đoan trang đứng đắn, như vậy là trái ngược với trào lưu.) Không chỉ người hiện nay thích trào lưu, người thời xưa cũng thích trào lưu, người ngoại đạo đều thích trào lưu, không phải thích trào lưu thì thuộc phái hiện đại. Vậy câu hỏi này nên trả lời thế nào? Các ngươi suy ngẫm xem. Ngươi xem Ta có mặc trang phục cổ không? Có mặc trang phục truyền thống không? Ta mặc trang phục hiện đại. Chuyện này liên quan đến nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể. Đức Chúa Trời nhập thể sống ở thời đại nào, và những chuyện ăn ở đi lại của con người trong thời đại đó phát triển đến mức độ nào, thì nhân tính bình thường của Ngài rất tự nhiên sẽ lựa chọn phương thức ăn ở đi lại của con người thời đại đó, sẽ không đi lùi. Đây có phải là biểu hiện của nhân tính bình thường không? (Thưa, phải.) Nhân tính bình thường của Ngài có lý tính, cho nên đối với các phương diện ăn ở đi lại này thì Ngài rất tự nhiên biết lựa chọn cái gì là thích hợp, một mặt là vậy. Mặt khác, bất kể là truyền thống hay hiện đại, nó đều không phải là một hình thức, mà thay vào đó, nó đại diện cho một dạng trào lưu tư tưởng, đại diện cho một dạng quan điểm. Vậy truyền thống là điều tích cực hay hiện đại là điều tích cực? Trong mắt Ta thì cả hai đều không phải là điều tích cực. Cả hai đều không liên quan đến lẽ thật, đều do nhân loại bại hoại sản sinh dưới quyền thế của Sa-tan. Bất kể là tư tưởng và quan điểm truyền thống hay tư tưởng và quan điểm hiện đại, chỉ cần thứ gì không đến từ Đức Chúa Trời thì đều là điều tiêu cực, đều không phải là điều tích cực. Bất kể là những thứ ăn ở đi lại truyền thống hay những thứ ăn ở đi lại hiện đại, chúng đều là để thỏa mãn nhu cầu của nhân tính bình thường. Bất kể giáng sinh ở thời đại nào, Đức Chúa Trời nhập thể đều sống trong nhân tính bình thường, thực tế, nguyên tắc làm người và làm việc của Ngài là bất biến. Khi làm bất kỳ việc gì và tiếp cận với bất kỳ chuyện gì, Ngài đều dựa trên nguyên tắc của lời Đức Chúa Trời, dựa trên nguyên tắc sản sinh từ tâm tính sự sống bên trong Ngài, chứ Ngài không giữ gìn hay tuân theo truyền thống, cũng không chạy theo hiện đại hay trào lưu. Cho nên, yêu cầu của Đức Chúa Trời nhập thể đối với những người đi theo Ngài vừa không dựa trên truyền thống vừa không chịu ảnh hưởng của hiện đại. Những tư tưởng, quan điểm hay lẽ thật ở đủ mọi phương diện mà Ngài có và thông công đều bắt nguồn từ Đức Chúa Trời, bắt nguồn từ thực chất thần tính và sự sống của Đức Chúa Trời, chẳng có liên quan gì đến văn hóa truyền thống hay tri thức hiện đại.

Từ chuyện trang phục được lựa chọn cho chương trình múa của nhà Đức Chúa Trời, các ngươi có nhìn ra được nguyên tắc gì không? Tại sao lại chọn những kiểu dáng này, màu sắc này? Nếu các ngươi có thể hiểu được nguyên tắc trong chuyện này, thì các ngươi mới thực sự hiểu chút lẽ thật, mới có hiểu biết thuộc linh; nếu ngươi không hiểu nguyên tắc ngay cả trong chuyện đơn giản như thế này, thì ngươi là kẻ hồ đồ, tố chất quá kém, nghe giảng đạo bấy nhiêu năm mà cũng không hiểu lẽ thật. Trước tiên hãy nói xem trang phục mà chúng ta mặc khi làm chương trình múa là trang phục truyền thống hay hiện đại? (Thưa, là trang phục hiện đại.) Đều là trang phục hiện đại, hơn nữa còn là trang phục phổ thông thường ngày. Có người không hiểu, nói rằng: “Chương trình múa của chúng ta là chương trình văn nghệ, tại sao lại mặc trang phục thường ngày mà không mặc trang phục dành cho sân khấu? Thêm chút hạt cườm và vảy kim tuyến thì sẽ vô cùng lộng lẫy. Xem quần áo của các đoàn múa cấp quốc gia trên sân khấu kìa, lộng lẫy, cầu kỳ, cao sang, đèn chiếu vào là chói cả mắt. Chúng ta làm chương trình mà cũng mặc trang phục như vậy thì chẳng phải càng làm cho diễn viên thêm đẹp đẽ, càng có thể làm vinh hiển Đức Chúa Trời sao? Chẳng phải càng thể hiện được thế lực của nhà Đức Chúa Trời, càng có thể khiến người ngoại đạo hoặc người trong tôn giáo nhìn thấy thực lực của nhà Đức Chúa Trời sao?”. Quan điểm này có đúng không? (Thưa, không đúng.) Các ngươi hãy nói trước xem, tại sao chúng ta làm chương trình múa lại mặc trang phục thường ngày mà không mặc trang phục lộng lẫy? (Thưa, nếu anh chị em nhảy múa đều mặc trang phục đặc biệt lộng lẫy, thì khán giả sẽ chú trọng xem những bộ trang phục này và quan sát xem những người diễn trông như thế nào. Nhưng nếu họ mặc trang phục phổ thông, nhìn vào đều thấy là những người đoan trang đứng đắn, thì người ta sẽ không bị những thứ bên ngoài này thu hút, mà sẽ tập trung tâm trí vào lời Đức Chúa Trời.) Ngươi nói đúng một phương diện, không mặc trang phục lộng lẫy là để tránh chuyện người ta chú trọng hình thức, chú trọng vẻ bề ngoài. Còn một phương diện quan trọng nhất: bất kể là nhảy múa hay ca hát, chúng ta làm chương trình với mục đích gì? (Thưa, để làm chứng cho Đức Chúa Trời.) Đây là mục tiêu duy nhất. Bất kể là nhảy múa hay ca hát đều là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, chứ không phải để làm cho bất kỳ ai nổi bật, cũng không phải để làm vui lòng ai, mà chỉ là để làm chứng cho Đức Chúa Trời thôi. Do đó, chúng ta mặc quần áo đơn giản, vừa vặn, đoan trang đứng đắn, trang nhã một chút, đạt được mục đích làm chứng cho Đức Chúa Trời là được rồi. Xét về tính chất thì chương trình chúng ta làm không phải là chương trình giải trí. Chương trình giải trí là gì? Chương trình giải trí là những thứ người ta xem để tiêu khiển lúc trà dư tửu hậu, để làm vui lòng người ta. Khi nghỉ ngơi, người ta xem một chương trình nào đó để được vui vẻ, thả lỏng tâm trạng, thoải mái, quên đi phiền não, và giảm bớt áp lực, sau đó đến giờ làm việc thì làm việc, trong lòng cũng không vướng bận và không có cảm nhận gì về chúng, chương trình giải trí là vậy. Còn chương trình chúng ta làm thì sao? Về hình thức là giải trí, nhưng về thực chất thì không phải để làm vui lòng đại chúng, cũng không phải để phô trương kỹ năng nghệ thuật. Mục tiêu của chúng ta khi làm chương trình chính là để làm chứng cho Đức Chúa Trời. Chẳng hạn như làm chương trình thánh ca, thánh ca lời Đức Chúa Trời là để làm chứng, loan truyền lẽ thật của lời Đức Chúa Trời, làm cho mọi người đến trước mặt Đức Chúa Trời. Thánh ca về trải nghiệm là để làm chứng cho kết quả đạt được bởi công tác của Đức Chúa Trời và thành quả mà công tác của Đức Chúa Trời thu được nơi con người. Tóm lại, bất kể chúng ta làm dạng chương trình nào, đều không phải là chương trình giải trí thuần túy, không phải để thu hút ánh nhìn của người ta hay để người ta giết thời gian và tiêu khiển, càng không phải để phô trương tài nghệ. Mục tiêu chúng ta khi làm chương trình chỉ có một, chính là để loan truyền lời Đức Chúa Trời và làm chứng cho công tác của Đức Chúa Trời ra bên ngoài, để thêm nhiều người biết rằng Đức Chúa Trời đã nhập thể và làm một giai đoạn công tác mới, để thêm nhiều người biết rằng công tác Đức Chúa Trời làm đã thu phục được một nhóm người, rằng Đức Chúa Trời đang làm công tác và đang phán lời. Đây chính là mục đích duy nhất của chúng ta khi làm chương trình. Mục đích của chúng ta khi làm chương trình đã là vậy, nếu người ta ăn mặc lộng lẫy, trang điểm đậm, lại thêm đủ kiểu hóa trang, thì chẳng phải là xung đột với mục tiêu làm chứng cho Đức Chúa Trời sao? (Thưa, phải.) Như vậy là có xung đột rồi. Cho nên chúng ta không cầu kỳ về chuyện ăn mặc, mà chỉ kỹ lưỡng về điều gì? Chính là những gì mà chương trình của chúng ta thể hiện – diện mạo tinh thần của anh chị em, động tác múa cùng hình thức chương trình – liệu có đủ thu hút người ta không, có đủ khiến người ta thích, khiến người ta hứng thú không, để từ đó có được thiện cảm của người ta, làm cho người ta sẵn lòng đến tìm hiểu công tác của Đức Chúa Trời, sẵn lòng tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, sẵn lòng cùng anh chị em hát thánh ca thờ phượng Đức Chúa Trời – đây chính là mục đích chúng ta muốn đạt được. Để đạt được mục đích này, chuyện ăn mặc và trang điểm mọi mặt chỉ cần đạt đến mức khiến người ta nhìn vào thì thấy đoan trang đứng đắn, sạch sẽ gọn gàng, diện mạo tinh thần đặc biệt tốt, vậy là được rồi. Còn những trang phục lộng lẫy, trang điểm đậm và đủ kiểu hóa trang đó đều có tác dụng tiêu cực. Tác dụng tiêu cực gì? Nếu trang điểm cho các chị em nhảy múa giống như tiên nữ, trang điểm cho các anh em đều giống như soái ca, công tử nhà giàu, thì người ta nhìn vào sẽ cảm thấy: “Các người làm vậy là đang phô trương. Đây chẳng phải là có ý đồ xấu sao? Đây chẳng phải là quyến rũ người ta sao?”. Để người ta có những suy nghĩ này thì không tốt rồi. Anh chị em ăn mặc và trang điểm một cách đoan trang đứng đắn, trang nhã đúng mực, tổng thể nhìn vào tuy không thể nói là thanh nhã, nhưng đặc biệt sạch sẽ gọn gàng, trang nhã đúng mực. Người ta nhìn vào thì thấy những người này có diện mạo tinh thần tốt, đích thị là người tin Đức Chúa Trời, và chương trình này làm ra là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, chứ không phải thứ bàng môn tà đạo. Ngươi thấy đấy, trong chương trình của người ngoại đạo, nếu không phải liếc mắt đưa tình, trao nụ hôn gió, thì cũng là khoe vóc dáng. Trong lúc nhảy múa, ngoài việc bán nghệ ra thì họ còn phô cái vẻ cuốn hút của mình, không có một chút định hướng tích cực nào. Còn những gì chương trình của chúng ta truyền tải hoàn toàn là định hướng tích cực. Người xem chương trình cho dù muốn nảy sinh chút ý nghĩ không đúng đắn cũng không có cơ hội, không có kẽ hở nào để tận dụng. Họ muốn ngắm nghía vóc dáng, dung nhan của những người biểu diễn thì cũng chẳng nhìn rõ, muốn xem ai phô được vẻ cuốn hút của mình thì cũng chẳng nhìn thấy. Họ chỉ nhìn thấy duy nhất một biểu cảm – nụ cười, hoàn toàn là một dáng vẻ đoan trang đứng đắn. Điều chính yếu nhất là chương trình của chúng ta không phải để phô trương hoặc để làm vui lòng ai, mà là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, đây là nguyên tắc chính yếu. Ngoài ra, những kiểu dáng trang phục mà chúng ta lựa chọn cho nhóm múa, áo thun, áo hoodie, quần thể thao, có thể khiến người nhảy múa cảm thấy tương đối thoải mái, nhưng một số người trẻ tuổi thì không mấy yêu thích những thứ này. Họ cảm thấy những kiểu dáng này quá thông thường, chỉ là trang phục mặc thường ngày hoặc mặc ở nhà, nhưng đây chính là trang phục đoan trang đứng đắn. Áo thun, áo hoodie, quần thể thao là những kiểu dáng trang phục thoải mái phổ biến nhất hiện nay. Tại sao chúng ta chọn kiểu dáng này? Ta quan sát được rằng từ khi bắt đầu có kiểu dáng trang phục thoải mái này cho đến nay có lẽ ít nhất cũng được mấy chục năm rồi. Hiện nay chúng ta chọn kiểu dáng trang phục này khi làm chương trình là đã tính đến chuyện cho dù trải qua mấy chục năm nữa thì nó cũng không lỗi thời, không lạc hậu. Hơn nữa kiểu dáng này phù hợp với mọi người ở các độ tuổi và tầng lớp xã hội khác nhau, bất kể là dân thường hay người thuộc tầng lớp thượng lưu, hằng ngày họ đều mặc như vậy khi ở nhà. Cộng thêm khi nhảy múa mà mặc trang phục như vậy thì vừa rộng rãi, vừa thuận tiện. Cho nên cuối cùng chúng ta đã chốt trang phục trên sân khấu theo kiểu dáng này. Bất kể người mặc trên sân khấu có thích hay không, tóm lại kiểu dáng này thích hợp để dùng trên sân khấu, tức là người xem và người mặc đều không bới ra được lỗi gì. Cũng có thể người mặc nói rằng: “Những quần áo Ngài chọn cho chúng tôi quá quê mùa, trong cuộc sống hằng ngày tôi tuyệt đối không mặc quần áo như thế này”. Thì Ta nói, Ta không can thiệp việc ngươi mặc gì trong cuộc sống hằng ngày. Cái ngươi mặc và cái ngươi thích đại diện cho con người ngươi, đại diện cho nhân tính và thực chất của ngươi. Ngươi không thích trang phục đơn giản, trang nhã, đoan trang đứng đắn, mà thích trang phục kỳ dị, vậy thì con người ngươi khá lạc loài. Nếu ngươi thích hở ngực lộ lưng, xõa tóc qua vai, đeo kính râm lớn, luôn nhập vai ngôi sao, vậy thì Ta nói rằng ngươi không phải là người của nhà Đức Chúa Trời. Ngươi không thích đoan trang đứng đắn, thì ít nhất ngươi không hợp với con người Ta. Đoan trang đứng đắn, trang nhã đúng mực, đây là nguyên tắc cho việc lựa chọn kiểu dáng trang phục. Vậy về màu sắc trang phục thì nên lựa chọn thế nào? Một số người nói: “Màu trắng đại diện cho sự thánh khiết, màu xanh lá đại diện cho sự sống, màu đỏ đại diện cho sự vui mừng, màu vàng đại diện cho tình bạn, cho nên cứ chọn mấy màu này”. Ta nói, đây thuần túy là nói xằng nói bậy, màu sắc không đại diện cho cái gì cả. Vậy nguyên tắc lựa chọn màu sắc trang phục là gì? Rất đơn giản, chỉ một nguyên tắc: lên hình thì thấy sạch sẽ. Nhất là có một số màu có độ rực, tương đối tươi tắn, có thể người ta hiếm khi mặc trong cuộc sống hằng ngày, nhưng chúng ta lựa chọn những màu sắc này vì hiệu quả sân khấu và hiệu quả thị giác. Một mặt, những màu này tương đối rực rỡ và tươi tắn, nên có hiệu quả sân khấu tốt. Mặt khác đa số những màu này cũng không quá kỳ quái, không có màu nào u tối, không có màu nào khiến người ta nhìn vào là thấy ác cảm, làm như vậy thì video tạo ra sẽ có hiệu quả tốt.

Những điều Ta vừa thông công chính là mấy nguyên tắc để lựa chọn trang phục cho các chương trình múa. Các ngươi đã nhìn thấu được phương diện nào rồi? Các ngươi nói xem, những nguyên tắc mà Ta cân nhắc này có thích hợp không? (Thưa, thích hợp.) Có phải chúng chủ yếu xoay quanh nguyên tắc làm chứng cho Đức Chúa Trời, không làm ô nhục Đức Chúa Trời và đạt được kết quả tốt nhất không? (Thưa, phải.) Có chỗ nào lệch lạc hay cực đoan không? (Thưa, không.) Có chỗ nào thủ cựu không? (Thưa, không.) Không có chỗ nào lệch lạc hay thủ cựu. Vậy thì mấy nguyên tắc lựa chọn trang phục này của chúng ta là theo truyền thống hay theo hiện đại? (Thưa, không theo truyền thống cũng không theo hiện đại. Chỉ cần chương trình chúng ta làm đạt được kết quả làm chứng cho Đức Chúa Trời, vậy là tốt nhất.) Cuối cùng các ngươi cũng hiểu rồi. Mục đích của các chương trình này là để làm chứng cho Đức Chúa Trời, chứ không phải vì điều gì khác. Trong chuyện làm chứng cho Đức Chúa Trời, còn phải cân nhắc đến chuyện không được làm ô nhục Đức Chúa Trời, không được làm mất thể diện nhà Đức Chúa Trời. Đương nhiên, cũng phải cân nhắc đến chất liệu và kiểu dáng của trang phục sao cho người mặc cảm thấy thoải mái. Nghĩa là bất kỳ người nào đoan trang đứng đắn khi nhìn thấy ngươi mặc bộ quần áo đó, đều cảm thấy chấp nhận được, thấy ngươi trông giống người tin Đức Chúa Trời và có thể đại diện cho dân của Đức Chúa Trời, chứ không phải người ngoại đạo, không phải diễn viên hay ca sĩ ngôi sao, chỉ cần nhìn qua thì biết ngay đó là người đoan trang đứng đắn. Vậy từ chuyện này, các ngươi thấy quan điểm của Ta đối với các sự vật, và những nguyên tắc Ta tuân theo trong nhân tính bình thường của Ta có giống với các ngươi không? (Thưa, không giống.) Chắc chắn là không giống. Vậy các ngươi nói xem, nguyên tắc Ta tuân theo có cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp không? Có siêu phàm không? Hoàn toàn không cao siêu, vĩ đại và đẳng cấp gì cả, mà vô cùng bình thường. Những nguyên tắc Ta áp dụng và hiệu quả Ta hướng tới khi làm việc đều đặc biệt thực tế, chưa bao giờ phô trương bản thân. Nếu làm theo quan điểm của các ngươi khi lựa chọn trang phục cho chương trình, thì hoặc là truyền thống và thủ cựu, hoặc là chạy theo trào lưu của thế gian. Có người nói: “Bây giờ trên thế gian đang thịnh hành kiểu trang điểm mắt khói, gắn lông mi giả, đeo khuyên mũi, khuyên tai thật to. Chúng ta cũng phải trang điểm cho anh chị em thành trai xinh gái đẹp. Không những quần áo phải lộng lẫy mà cách trang điểm cũng phải gợi cảm, không thua kém diễn viên, ca sĩ ngôi sao của thế gian, hơn nữa còn phải cao cấp và quý phái hơn họ. Người tin Đức Chúa Trời phải tôn quý hơn họ, cứ trang điểm theo hướng đó đi!”. Thế thì tại sao cuối cùng những người đứng trên sân khấu lại không có món đồ lộng lẫy nào trên mình? Bởi vì có Ta ở đây kiểm định. Những thứ bất kể thuộc phái hiện đại hay phái truyền thống đều phải để sang một bên, không có cơ hội “trổ tài” đâu, chúng đều bị Ta chặn đứng rồi. Nếu để các ngươi kiểm định thì các ngươi có cho những người đó cơ hội “trổ tài” không? (Thưa, không.) Tại sao không? (Thưa, nếu cho họ cơ hội thì họ sẽ đi chệch đường, không còn tuân theo những nguyên tắc mà nhà Đức Chúa Trời yêu cầu nữa.) Nếu cho họ cơ hội thì họ sẽ trang điểm cho những người trên sân khấu thành ma quỷ, sẽ đòi làm những chương trình giải trí đang thịnh hành ngoài xã hội, biến những chương trình làm chứng cho Đức Chúa Trời thành những chương trình giải trí nhằm mua vui cho đại chúng, biến con người thành yêu tinh, thành quỷ. Chương trình như vậy còn xem được sao? Khi ấy, chương trình đó sẽ biến chất, không còn là làm chứng cho Đức Chúa Trời nữa, mà là làm ô nhục Đức Chúa Trời, nó đáng bị rủa sả, đáng bị bãi bỏ. Như vậy không còn là làm bổn phận, mà là hành ác rồi. Các ngươi hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Ngươi thấy đấy, một chuyện nhỏ như thế mà các ngươi cũng không hiểu. Bây giờ Ta nói thẳng hơn và thông tục hơn một chút thì có người mới chợt bừng tỉnh: “Thì ra là vậy. Giờ mới biết vì sao nhà Đức Chúa Trời lại chọn loại trang phục như thế cho các chương trình múa”. Bất kể ở thời đại nào, nguyên tắc con người nên tuân theo là gì? Chính là lấy lời Đức Chúa Trời làm nguyên tắc trong mọi chuyện. Làm bất kỳ công tác nào hay làm bất kỳ chuyện gì, thì thứ nhất là đem lại sự gây dựng cho người khác, thứ hai là làm chứng cho công tác của Đức Chúa Trời, chỉ có hai nguyên tắc đó. Cho nên bất kể trong chuyện gì, điều người ta nên tuân giữ chính là hai nguyên tắc này. Vậy sự bình thường và thực tế có trong nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể cũng không nằm ngoài việc tuân theo những nguyên tắc này. Nguyên tắc là bất biến, không tuân theo truyền thống cũng không chạy theo hiện đại. Trong nhân tính bình thường, nguyên tắc Ta tuân theo chính là làm người và làm việc trong phạm vi của lương tâm và lý trí. Vậy trong công tác của nhà Đức Chúa Trời, Ta tuân theo nguyên tắc nào? Chính là làm chuyện gì cũng đều có ích cho người ta, làm những việc đem lại ích lợi và sự gây dựng cho người ta. Ngoài ra còn là làm công tác làm chứng cho Đức Chúa Trời, tuân theo nguyên tắc làm chứng cho Đức Chúa Trời và loan truyền lời Đức Chúa Trời. Các ngươi nói xem, có phải là vậy không? (Thưa, phải.) Thông công như thế, có phải các ngươi đã hiểu Ta thêm phần nào rồi không? (Thưa, phải.) Nếu Ta không nói tỉ mỉ những chuyện này thì các ngươi sẽ không rõ. Chuyện đơn giản như vậy mà các ngươi cũng dò không thấu. Thực ra, chuyện này chẳng có gì cao sâu cả, rất thực tế, rất bình thường thôi. Bình thường đến mức nào? Đến mức đặc biệt phù hợp với lý tính của nhân tính bình thường. Nghĩa là nếu có lý tính của nhân tính bình thường thì ngươi sẽ hiểu được, còn nếu không có lý tính của nhân tính bình thường thì ngươi sẽ rất khó hiểu được. Ta phải nói rõ ràng, thấu đáo, thẳng thắn, và nói cho rõ, thì ngươi mới biết được chuyện là như vậy. Chuyện đơn giản đến thế, căn bản chưa đến mức của nguyên tắc lẽ thật, vậy mà các ngươi vẫn không nói rõ được. Thế này là sao? Chuyện này có cao thâm khó dò không? (Thưa, không.) Vậy tại sao các ngươi lại không nói rõ được? Xét rộng, thì là vì các ngươi không hiểu lẽ thật. Xét chi tiết, thì là vì nhân tính bình thường và lý tính của các ngươi còn thiếu thứ gì đó và có khiếm khuyết. Hễ nói đến đoan trang đứng đắn thì các ngươi lại bám giữ truyền thống và thủ cựu. Hễ nói đến nhân tính bình thường thì các ngươi lại cho rằng đó là làm người thật thà, như kẻ ngốc. Chẳng phải như thế là các ngươi có tố chất quá kém và không có năng lực lĩnh hội sao? (Thưa, phải.) Chính là vấn đề này. Được rồi, chuyện này nói đến đây thôi.

Lần trước chúng ta đã thông công về chủ đề Đức Chúa Trời nhập thể “không tính kế” nằm trong nội dung “đừng đánh đồng Đức Chúa Trời nhập thể với nhân loại bại hoại”. Hôm nay chúng ta thông công về chủ đề “không đả kích”. Không đả kích là một phần trong thực chất và việc sống thể hiện ra mà nhân tính bình thường của Đức Chúa Trời nhập thể có, và là một nguyên tắc mà lương tâm, lý trí của nhân tính bình thường tuân theo khi đối đãi với mọi người. Tức là, Đức Chúa Trời nhập thể ít nhất có thể qua lại hòa bình với ngươi. Bất kể ngươi là loại người nào, bất kể ngươi là người có tố chất tốt hơn hay kém hơn một chút, hoặc là người có nhân tính tốt hơn hay kém hơn một chút, thì Đức Chúa Trời nhập thể đều có thể đối đãi với ngươi một cách đúng đắn và qua lại hòa thuận với ngươi. Nếu Ta phát hiện ra ngươi có thiếu sót hay khuyết điểm về phương diện nào đó, thậm chí phát hiện trong nhân tính của ngươi có thực chất không tốt nào đó, hoặc phát hiện ngươi có việc ác nào đó, thì Ta sẽ thẳng thắn thông công với ngươi khi có cơ hội hoặc khi điều kiện cho phép. Nếu ngươi có thể tiếp nhận, thì Ta sẽ thẳng thắn vạch trần vấn đề của ngươi và chỉ ra cho ngươi con đường để giải quyết vấn đề. Nhưng nếu ngươi không thể tiếp nhận, thì có lẽ vào lúc thích hợp, Ta sẽ dùng vấn đề thực tế mà Ta đã phát hiện để nhắc nhở ngươi, vạch trần ngươi và cảnh cáo ngươi, làm cho ngươi biết vấn đề của mình là gì, là vấn đề về nhân tính, về tố chất hay là về một phương diện của tâm tính bại hoại. Ta sẽ căn cứ vấn đề của ngươi mà nhắc nhở và khuyên răn ngươi, cho ngươi biết mình thiếu sót chỗ nào hoặc biết vấn đề của mình xuất phát từ đâu, sau đó sẽ nói cho ngươi biết thực chất của loại vấn đề này là gì và thái độ của Đức Chúa Trời đối với loại người có vấn đề này là gì. Nếu ngươi sẵn lòng tiếp nhận, có thể chống lại xác thịt và thực hành lẽ thật, thì Ta sẽ nói cho ngươi con đường thực hành, cách đối đãi và giải quyết loại vấn đề này. Ta sẽ không coi vấn đề và khuyết điểm của ngươi như cái thóp hoặc điểm yếu của ngươi, rồi thỉnh thoảng lại lấy chúng ra mà chế giễu, châm chọc ngươi hoặc nói những lời mỉa mai bóng gió. Ta sẽ không làm như vậy. Ta sẽ đối đãi với ngươi và đối đãi với những vấn đề tồn tại nơi ngươi một cách công bằng và khách quan. Nếu Ta nhắc nhở ngươi mà ngươi không ý thức được, không cảm nhận được những lời Ta nói có liên quan đến ngươi, hoặc Ta nói cho ngươi biết tính chất nghiêm trọng trong vấn đề của mình nhưng ngươi lại không tiếp nhận, ngươi từ chối, phản kháng, thậm chí tìm lý do và viện cớ để biện bạch, thanh minh cho mình, thì Ta sẽ dựa vào tình hình mà suy xét. Nếu công tác ngươi đang làm rất quan trọng, và vấn đề của ngươi đã ảnh hưởng đến công tác của hội thánh, thì Ta sẽ suy xét xem ngươi có thích hợp làm bổn phận này hay không. Nhưng nếu ngươi chỉ là tín đồ bình thường, bổn phận ngươi làm và những biểu hiện của ngươi không ảnh hưởng nhiều đến công tác hội thánh hoặc dân được Đức Chúa Trời chọn, chỉ là vấn đề cá nhân của ngươi thôi, thì Ta sẽ thiện ý nhắc nhở và giúp đỡ ngươi. Nếu ngươi không xem trọng chuyện này, thì trong lòng Ta cũng sẽ không ghi hận ngươi, đương nhiên cũng sẽ không nghĩ đủ cách để ép ngươi tiếp nhận. Ta sẽ tiếp cận chuyện này một cách rất lý tính, tiếp tục thiện ý nhắc nhở và giúp đỡ ngươi. Nếu Ta có thể nhìn thấy thực chất vấn đề của ngươi sẽ dẫn đến hậu quả không tốt cho bản thân ngươi hoặc người khác, thì dưới sự tác động của lương tâm, Ta sẽ thiện ý nhắc nhở và giúp đỡ ngươi, chứ không phải cứ đứng nhìn ngươi tự biến mình thành trò cười. Ta cũng sẽ không tùy tiện xác định tính chất ngươi, nói rằng: “Con người ngươi hết thuốc chữa rồi, Đức Chúa Trời ghê tởm ngươi, ngươi là đối tượng bị diệt vong”. Ta càng không mở miệng nguyền rủa ngươi, nói rằng: “Ngươi là ma quỷ, ngươi là hậu duệ của Sa-tan, ngươi là chủng loài chống đối Đức Chúa Trời”. Ta tuyệt đối sẽ không làm như vậy. Bởi vì thân phận của Ta đặc biệt, nên Ta thường xuyên tự ràng buộc bản thân một cách rất lý tính: đối đãi và nói chuyện với người ta như thế nào đều phải tùy vào đối tượng, một mặt là vậy. Mặt khác, Ta không được tùy tiện xác định tính chất bất kỳ người nào. Một mặt khác nữa, từ giọng điệu, cách dùng từ hoặc cách nói, Ta phải khiến đối phương cảm nhận được những lời Ta nói và những việc Ta làm đều có thiện ý, chứ không có ác ý. Xét từ xuất phát điểm của Ta, thì Ta thật lòng muốn giúp đỡ ngươi, không muốn thấy ngươi đi đường vòng, cũng không muốn thấy ngươi khi gặp chuyện thì yếu đuối, do dự, thậm chí mất phương hướng hoặc đi sai đường. Thay vào đó, Ta hy vọng sau khi Ta thông công và giúp đỡ, ngươi có thể nhìn nhận bản thân mình cho đúng đắn, không rơi vào tiêu cực, có nhận thức chính xác về tâm tính bại hoại và những vấn đề của mình, cũng có thể đối đãi đúng đắn với bản thân mình, sau đó có thể tìm con đường thực hành từ trong lời Đức Chúa Trời, dựa theo lời Đức Chúa Trời mà giải quyết tâm tính bại hoại và những vấn đề của mình từng chút một, đồng thời còn có thể qua lại hòa thuận với người khác và giúp đỡ người khác. Tức là, Ta cố gắng hết sức để những lời nói và việc làm của Ta trong lúc qua lại với người khác có thể khiến họ hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời, biết nguyên tắc Đức Chúa Trời yêu cầu con người là gì, thái độ và quan điểm của Đức Chúa Trời đối với các vấn đề khác nhau tồn tại nơi con người là gì, người ta nên xử lý những vấn đề này như thế nào mới đạt đến yêu cầu của Đức Chúa Trời và khiến Đức Chúa Trời hài lòng, nên tìm kiếm lẽ thật để giải quyết những vấn đề này của mình như thế nào. Mục đích của Ta là giúp người ta khi gặp đủ loại con người, sự việc và sự vật, khi tâm tính bại hoại của mình bộc lộ, thì có thể đối đãi và giải quyết những vấn đề này một cách đúng đắn, cuối cùng đạt được kết quả là thuận phục lẽ thật và thuận phục Đức Chúa Trời. Đương nhiên, xét từ đủ mọi loại người mà Ta đã tiếp xúc trong những năm làm công tác và phán lời, Ta thấy được một sự thật rằng: bất kể Ta bình tĩnh và hòa nhã nói chuyện, giao lưu với người ta như thế nào, bất kể Ta có thiện ý hoặc có tâm thái muốn giúp đỡ bất kỳ người nào ra sao, thì rất ít người có thể cảm nhận hoặc hiểu được lời Ta nói và lý do Ta nói như vậy, sau đó thông qua những lời Ta nói và nội dung Ta thông công với họ, mà họ có tiến bộ hoặc đạt được sự giúp đỡ thiết thực trong cuộc sống thực tế. Nhưng bất kể thông qua việc trao đổi và qua lại với Ta mà cuối cùng người ta thu hoạch được bao nhiêu và đạt được bao nhiêu, thì nguyên tắc của Ta khi qua lại với người khác đều không thay đổi. Có người nói: “Vậy tại sao Ngài không thay đổi cách thức đi?”. Các ngươi nói xem tại sao Ta không thay đổi cách thức? Ta nên thay đổi cách thức sao? Nói chuyện với con người thì Ta nên đứng từ trên cao, giống như đang tuyên bố Mười Điều Răn cho Môi-se sao? Tiếng nói của Ta nên giống như tiếng sấm từ trên trời, hay Ta nên dùng một giọng nào đó khiến người ta sợ hãi, để người ta dễ nhớ những lời Ta nói, sẵn lòng thực hành và có thể thuận phục sao? Hay là khi trao đổi với con người, nếu Ta luôn dùng giọng điệu rủa sả và xác định tính chất để nói chuyện với họ, thì người ta sẽ rút ra được bài học sao? Thì họ sẽ có thể tiếp nhận sao? (Thưa, cũng không thể.) Các ngươi có biết tại sao lại không thể không? Khi xưa, Đức Giê-hô-va ban bố Mười Điều Răn thông qua Môi-se, dân Y-sơ-ra-ên cũng nghe thấy tiếng sấm từ trên trời và nhìn thấy tia sét, chẳng lẽ như vậy là họ không còn phản nghịch, không còn xét đoán Đức Giê-hô-va nữa sao? Bất kể cách thức, nội dung và xuất phát điểm của ngươi khi nói chuyện là gì, xét từ phía người tiếp nhận, nếu bản thân họ chủ quan có ý nguyện và nhu cầu tiếp nhận lẽ thật và yêu thích những điều tích cực, nếu trong lòng họ có nhu cầu này, thì bất kể ngươi nói theo cách thức nào, họ đều có thể tiếp nhận, cũng dễ ghi nhớ. Nhưng nếu trong lòng họ không có nhu cầu này, thì ngay cả khi họ biết điều tích cực là gì và điều tiêu cực là gì, ngay cả khi lời ngươi nói đúng đến đâu, nguồn gốc và động cơ đúng đến đâu, họ vẫn không tiếp nhận và không để trong lòng. Vì vậy, theo Ta thấy, nguyên tắc của Ta khi làm những chuyện này chính là, đối với bất kỳ người nào, Ta cũng có thể thông công một cách bình thường với họ. Còn chuyện họ có thể đạt được gì và thu hoạch được gì từ Ta, có thể đạt được lẽ thật hay không, thì mấu chốt nằm ở chỗ họ có yêu thích lẽ thật hay không, cũng nằm ở chỗ họ có nhu cầu của nhân tính bình thường hay không. Nếu họ bẩm sinh yêu thích những điều tích cực, thì khi Ta qua lại và chuyện trò với họ bình thường như vậy, họ sẽ có thể suy ngẫm những lời Ta đã nói, nguyên tắc đằng sau những lời này là gì, Ta dặn dò họ điều gì, sau đó họ sẽ suy ngẫm, sẽ ghi nhớ trong lòng, rồi dựa theo những lời này mà thực hành. Nếu trong nhân tính của người này không có nhu cầu đối với những điều tích cực, thì cho dù Ta nói thế nào cũng vô ích. Ngay cả khi Ta tỉa sửa họ, sửa dạy họ, thậm chí trách phạt họ, thì cũng vô ích. Sau khi bị trách phạt, có lẽ bề ngoài họ đã có khuôn phép và ngoan ngoãn rồi, nhưng nội tâm họ không có nhu cầu đối với những điều tích cực, đợi đến khi chuyện này qua đi, họ sẽ rất nhanh trở lại nguyên trạng, những lời nói tích cực, điều tích cực hay nguyên tắc lẽ thật sẽ không lưu lại bất kỳ dấu vết nào trong lòng họ. Vì vậy, đối với loại người này, dù ngươi nói bao nhiêu lời cũng không thể thay đổi họ để họ có nhu cầu của nhân tính bình thường. Một mặt là vậy. Ngoài ra, không đả kích về cơ bản chính là một nguyên tắc của Ta khi đối đãi với các ngươi. Bất kể các ngươi là loại người nào, bất kể các ngươi có mưu cầu lẽ thật hay không, ngay cả khi Ta vạch trần một vấn đề nào đó của ngươi thì cũng chỉ là để mổ xẻ thực chất của vấn đề này, hầu cho ngươi hiểu và nhận biết cho thấu đáo, để sau này trong quá trình làm bổn phận, ngươi có thể tiến bộ, không phạm lại cùng một sai lầm, không còn gây nhiễu loạn hoặc tổn hại cho công tác của hội thánh – Ta làm vậy là để giúp đỡ ngươi, chứ không phải để gây khó dễ cho ngươi hoặc nắm thóp ngươi. Vì vậy, ngay cả khi Ta nhắc lại chuyện cũ thì cũng không phải là để đả kích tính tích cực của ngươi, không phải để làm tổn thương ngươi, mà là để cho ngươi nhận biết thực chất vấn đề của mình, đạt đến nhận thức thấu đáo về một phương diện lẽ thật nào đó, có nhận thức về bản thân, biết làm thế nào thì hợp tâm ý Đức Chúa Trời, và cuối cùng có thể dựa theo nguyên tắc trong lời Đức Chúa Trời mà thực hành một cách chính xác. Các ngươi có sự lĩnh hội về phương diện Đức Chúa Trời nhập thể không bao giờ đả kích người khác không? (Thưa, có một chút.)

Ngoài việc không đả kích người khác, Đức Chúa Trời nhập thể còn thỉnh thoảng khích lệ người ta. Có những người có vóc giạc nhỏ bé, mỏng manh, nhân tính không được mạnh mẽ, làm việc thì không có nghị lực, hoặc thường xuyên bị đủ loại sự việc và sự vật kìm kẹp, không biết tìm kiếm lẽ thật, và không thể làm bổn phận một cách bình thường. Trong trường hợp này, Ta sẽ khích lệ họ một chút, để họ nhìn thấy con đường phía trước, không còn bị mắc kẹt trong một sự việc, sự vật nào đó và bị nó kìm kẹp. Cũng có thể ngươi nghe xong những lời Ta khích lệ đó thì cảm thấy bản thân mình không đạt đến được, nhưng mục đích của Ta là để giúp ngươi có thể buông bỏ những gánh nặng do tư tưởng và quan niệm của mình mang lại, không còn bị những sự việc, sự vật đó kìm kẹp, bước ra khỏi đó, sau đó dốc hết sức mà làm bổn phận để làm thỏa mãn tâm ý của Đức Chúa Trời. Có những người từng đi qua một số con đường thất bại, hoặc từng làm một số việc vi phạm nguyên tắc của nhà Đức Chúa Trời, hoặc có một số hành vi phản nghịch rõ ràng, thậm chí có những người làm những việc gây gián đoạn và nhiễu loạn, gây ra một số tổn thất cho công tác của hội thánh. Nếu Ta thỉnh thoảng nhắc đến những chuyện này trong lúc thông công, thì mục đích của Ta không phải để đả kích tính tích cực của ngươi, cũng không phải là ghi hận, mà là dùng sự thật về ngươi làm ví dụ để nhắc nhở những người khác không phạm cùng sai lầm đó, là để thông công cho rõ một phương diện lẽ thật, để thêm nhiều người từ chuyện đó mà thấy được con đường ngươi đã đi là sai và cái sai nằm ở đâu, rồi rút ra bài học, sau đó cảnh báo thêm nhiều người khác đừng đi con đường như vậy, nhắc nhở họ khi làm việc thì nên tuân thủ những nguyên tắc nào. Nhất là khi thông công và vạch trần các loại tâm tính bại hoại của con người, cũng có thể ví dụ Ta đưa ra hoặc một tình trạng cụ thể nào đó mà Ta thông công sẽ liên quan đến rất nhiều người, hoặc sẽ liên quan đến một số người và một số chuyện đặc thù. Mục đích của Ta khi thông công những chuyện này cũng không phải là để tìm cơ hội phơi bày các ngươi và khiến các ngươi khó xử, về những sự thật Ta nói đến hoặc những tình trạng Ta vạch trần thì chúng chỉ liên quan đến chủ đề chúng ta đang thông công và phương diện lẽ thật chúng ta đang thông công. Có lẽ Ta không quen biết ngươi, cũng không biết ngươi từng có chuyện như vậy, nhưng ví dụ Ta đưa ra hoặc tình trạng Ta vạch trần lại vừa hay từng xảy ra nơi ngươi, thế là ngươi đối chiếu thấy khớp với mình. Khi đối chiếu thấy khớp với mình, có những người cảm thấy: “Có phải có ai đó tố cáo con không? Sao Ngài biết con từng có chuyện này, sao Ngài biết con có vấn đề này, có tình trạng như vậy?”. Ta nói là Ta thực sự không biết người cụ thể nào đó có chuyện như vậy hoặc có tình trạng như vậy, nhưng những lẽ thật Ta thông công có liên quan đến – hoặc những vấn đề Ta vạch trần có bao gồm – tình trạng này, vấn đề về phương diện này hoặc loại ví dụ cụ thể này. Bởi vì loại tình trạng này và loại ví dụ cụ thể này có tính đại diện, đủ để khiến người ta nhận biết những loại con người, sự việc và sự vật nào đó, nhận biết thực chất của một loại người nào đó, cho nên khi đưa ra ví dụ thì Ta không tránh khỏi phải nêu một số chuyện đặc biệt từng xảy ra trong hội thánh hoặc nói đến một số tình trạng đặc biệt. Như vậy thì khó tránh khỏi sẽ liên quan đến một số con người, sự việc và sự vật. Nhưng Ta hoàn toàn không có ý đả kích một số người nào đó, mục đích của Ta chỉ là để nhắc nhở và khuyên bảo người ta, để đa số dân được Đức Chúa Trời chọn đạt được lợi ích. Khi Ta đưa ra một số ví dụ lúc giảng đạo và thông công, thì căn bản không phải để nhắm vào một người nào, mà chỉ là để thông công về lẽ thật và vạch trần thực chất của vấn đề, hầu cho các ngươi có thể rõ ràng hơn và hiểu hơn về thực chất của vấn đề. Thông qua việc hiểu thực chất của vấn đề, dù các ngươi có thể liên hệ với bản thân, hay là nhìn thấu con người, sự việc và sự vật có liên quan, thì các ngươi đều có thể đạt đến mức thực hành theo những nguyên tắc lẽ thật tương ứng, dùng những nguyên tắc lẽ thật tương ứng để giải quyết những vấn đề nơi mình và đạt đến việc bước vào thực tế lẽ thật. Bất kể Ta thông công về vấn đề thuộc phương diện nào, bất kể là vấn đề tồn tại nơi ngươi hay vấn đề tồn tại nơi người khác, thì Ta làm vậy chỉ là để thông công lẽ thật, để giúp các ngươi hiểu thêm về thực chất và chân tướng của một loại vấn đề nào đó thôi, chứ không phải nhắm vào một người nào đó hoặc một loại người nào đó. Đương nhiên cũng có khả năng nguyên mẫu của ví dụ mà Ta đưa ra khi thông công về vấn đề này chính là chuyện từng xảy ra nơi ngươi, và Ta mượn chuyện này để đưa ra ví dụ. Nhưng khi đưa ra ví dụ này, không phải Ta đang vạch trần vấn đề chỉ riêng ngươi có, mà thay vào đó, vấn đề của ngươi đại diện cho vấn đề tồn tại nơi mọi người, nơi toàn thể nhân loại. Đương nhiên, mục đích khi vạch trần vấn đề chỉ là để giải quyết vấn đề, chứ không phải để đả kích ngươi. Cho nên, khi gặp tình huống này, ngươi nên tiếp cận cho đúng đắn. Đây là công tác thuộc chức phận của Ta. Công tác thuộc chức phận của Ta một mặt là cung ứng cho các ngươi mọi lẽ thật và đủ mọi phương diện lẽ thật, mặt khác chính là vạch trần những vấn đề nơi các ngươi, vạch trần các loại tình trạng khác nhau của nhân loại bại hoại, vạch trần mọi tâm tính bại hoại nơi nhân loại bại hoại cũng như những vấn đề liên quan đến tâm tính bại hoại. Đây là công tác thuộc chức phận của Ta. Bởi vì trong công tác thuộc chức phận của Ta, ngoài việc cung ứng lẽ thật ra, còn có một hạng mục là vạch rõ chân tướng bại hoại của nhân loại bại hoại, cho nên xét về công tác này, thì xuất phát điểm của Ta là thiện ý. Ta muốn giúp đỡ và nâng đỡ các ngươi, nhắc nhở và cung ứng cho các ngươi, để các ngươi thấy rõ thực chất của vấn đề, có thể chống lại tâm tính bại hoại của mình, không còn sống trong tâm tính bại hoại, mà có thể quay đầu, buông bỏ sự ác trong tay, hối cải với Đức Chúa Trời, thực hành theo nguyên tắc Đức Chúa Trời yêu cầu, và đạt đến việc thuận phục lẽ thật, thuận phục Đức Chúa Trời.

Bất kể Ta vạch trần vấn đề nào của các ngươi, cũng bất kể Ta dùng cách thức hay giọng điệu nào để vạch trần vấn đề, thì Ta đều dựa trên nguyên tắc và xuất phát điểm là giúp đỡ và nâng đỡ các ngươi bước lên con đường được cứu rỗi, Ta không có ác ý, toàn bộ đều là thiện ý. Ngay cả khi lời lẽ của Ta dùng để vạch trần thực chất vấn đề nơi một người nào đó hay một loại người nào đó có lúc không được tao nhã cho lắm, nhưng mục đích của Ta không phải là để đả kích hay áp chế một ai, mà là để mổ xẻ thực chất của vấn đề, hầu cho người ta có được sự phân định và đạt đến việc thoát khỏi tâm tính bại hoại. Trong chuyện này không có quỷ kế, không có ý đả kích hay áp chế ngươi, cũng không có ý khiến ngươi bị bóc trần và mất mặt. Ngay cả khi, trong lúc thông công về một số vấn đề mà Ta có xác định tính chất hành vi hoặc tâm tính và thực chất của một loại người nào đó, thì việc xác định tính chất đó cũng hoàn toàn phù hợp với sự thật khách quan. Chẳng hạn, nếu ngươi kiêu ngạo và tự nên công chính, luôn độc đoán chuyên quyền, làm ra một số chuyện gây gián đoạn và nhiễu loạn, mà Ta nói với ngươi rằng: “Nếu ngươi cứ tiếp tục làm như vậy, thà chết cũng không hối cải, thì thực chất của ngươi chính là vậy, và thái độ của Đức Chúa Trời đối với ngươi chính là gạt ngươi sang một bên hoặc ghét bỏ ngươi”, thì những lời này có phải là đả kích ngươi không? Không phải. Mặc dù những lời này được nói trong một bối cảnh nào đó và được nói theo cách như vậy, nhưng sự cung ứng, giúp đỡ của Ta dành cho ngươi và sự kỳ vọng của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, Ta vẫn cho ngươi cơ hội hối cải. Nếu ngươi hối hận, quay đầu và có sự biến đổi, thì ngươi thích hợp làm bổn phận nào, nhà Đức Chúa Trời vẫn đề bạt ngươi như cũ, Ta chẳng bao giờ cản trở chuyện này. Bất kỳ ai khi mới tin Đức Chúa Trời và chưa hiểu lẽ thật cũng từng phạm một số sai lầm, nhưng có người có thể hối cải, đồng thời làm được một số việc tốt và có được một số việc lành. Nếu các anh chị em tiến cử những người này và nói: “Người này quả thật đã hối cải, không còn giống trước đây nữa. Trước đây họ kiêu ngạo, phóng túng và không có hình tượng giống con người, trước đây họ đã làm ra một số việc ác gây gián đoạn và nhiễu loạn công tác hội thánh, gây tổn thất cho của lễ dâng Đức Chúa Trời, do đó hội thánh đã thanh trừ họ. Nhưng sau khi bị thanh trừ, họ đặc biệt hối hận. Hiện giờ họ đã hối cải rồi, còn chủ động bồi thường tổn thất, yêu cầu hội thánh thu nhận lại mình, đảm bảo sau này không hành ác nữa, còn cam lòng làm người nhỏ nhất trong hội thánh và bất kể nhà Đức Chúa Trời bảo làm gì, họ đều có thể thuận phục”. Nếu những người tương đối thân cận với người này muốn tiến cử họ sau khi đã hoàn toàn hiểu rõ về họ, thì Ta nói rằng nếu họ thực sự đã hối cải và hiện giờ công tác nhà Đức Chúa Trời cần dùng người, thì có thể dùng lại họ, Ta không cản trở. Thậm chí có một số người từng làm những chuyện không được thiện chí lắm đối với cá nhân Ta, nhưng nếu họ phù hợp với điều kiện được đề bạt thì Ta vẫn không cản trở, Ta sẽ cho họ cơ hội. Do đó, bất kể trong lúc giảng đạo hay trong cuộc sống thực tế, bất kể ở trong hoàn cảnh nào hay bối cảnh nào, Ta đều sẽ đối đãi với ngươi một cách công bằng và đích đáng. Trong bối cảnh mà hoàn cảnh cho phép, Ta sẽ thiện ý giúp đỡ các ngươi hoặc hỏi thăm tình hình làm bổn phận của các ngươi. Nếu là trong hoàn cảnh công tác đặc biệt, Ta cũng cố gắng hết sức giúp đỡ và nâng đỡ các ngươi, hướng dẫn, chỉ đạo hoặc giúp đỡ các ngươi về một số công tác nghiệp vụ. Có lúc thì việc Ta làm là Ta trao đổi, cùng nhau bàn bạc với các ngươi. Cho dù có lúc Ta nói: “Ngươi làm việc này không được”, thì đó cũng là nói thật, nói thẳng. Ta nói vậy không phải để áp chế các ngươi, mà là để trao đổi hoặc cùng nhau bàn bạc với các ngươi. Ta cố gắng hết sức cho các ngươi cơ hội phát biểu và phát huy, để tố chất và tài năng của các ngươi, kiến thức các ngươi đã học, thường thức các ngươi biết hoặc kinh nghiệm các ngươi tích lũy, được phát huy tối đa. Nếu ngươi phát huy không tốt, Ta cũng chỉ nói: “Ngươi làm việc này không ổn. Ngươi suy ngẫm thêm, tìm kiếm thêm đi, xem có thể làm tốt hơn không”. Ta luôn làm hết sức để nâng đỡ, cung ứng và giúp đỡ các ngươi, để khi trao đổi và qua lại với Ta, bất kể trong cuộc sống hay trong quá trình làm bổn phận, các ngươi đều có thể được lợi. Ta áp dụng nguyên tắc này trong công tác và trong cả cuộc sống thường nhật. Khi qua lại hoặc trao đổi với người ta, có lúc Ta không khỏi nói đến một số chuyện vụn vặt trong cuộc sống thường nhật, liên quan đến những chuyện bên ngoài như ăn, mặc, ở, đi lại, giữ gìn sức khỏe, y học, v.v., có người cũng nhắc đến một số quan điểm, câu nói hoặc thường thức về những chuyện vụn vặt trong cuộc sống. Đối với thường thức mọi mặt, Ta chỉ bày tỏ quan điểm cá nhân của mình thôi. Nếu ngươi cho rằng điều Ta nói là đúng thì ngươi có thể tiếp nhận, nếu ngươi cho rằng điều Ta nói không đúng, thì Ta cũng không dùng thân phận và địa vị của Ta để áp chế ngươi, bảo ngươi rằng: “Mọi điều Ta nói đều đúng. Bất kể Ta dùng giọng điệu gì, lời nói có dễ nghe hay không, chẳng lẽ Ta có thể hại ngươi hay chơi xấu ngươi sao? Ngươi buộc phải tiếp nhận!”. Ta sẽ không làm vậy, mà sẽ thuận theo tự nhiên. Chẳng hạn, ngươi cho quá nhiều muối lúc xào rau, và Ta nói ăn nhiều muối không tốt cho sức khỏe. Nhưng có người không tiếp nhận, họ cho rằng nêm ít muối thì món ăn nhạt nhẽo và không thơm, cứ khăng khăng phải ăn theo khẩu vị của mình, Ta nói đó là tự do của ngươi, Ta không can thiệp. Mặc dù câu “ăn nhiều muối không tốt cho sức khỏe” chưa đến mức là lẽ thật, nhưng đây là thường thức trong cuộc sống. Xét về thân thể xác thịt mà Đức Chúa Trời tạo ra cho con người, lượng muối cần thiết mỗi ngày cũng cố định, vượt quá lượng này thì sẽ gây tổn hại cho cơ thể, sẽ có hậu quả. Còn có người luôn cảm thấy mình thiếu dinh dưỡng, nên luôn ăn nhiều cá và thịt, cuối cùng thì quá thừa dinh dưỡng, xuất hiện vấn đề về sức khỏe, và phải điều chỉnh một chút. Chuyện cơ thể mà Đức Chúa Trời tạo ra cho con người cần bao nhiêu dinh dưỡng thì có liên quan đến tỷ lệ lương thực, rau củ, hoa quả và thịt mà Đức Chúa Trời tạo ra cho nhân loại. Nếu ngươi ăn theo tỷ lệ này, thì cơ thể có thể duy trì sự khỏe mạnh cơ bản, nếu ngươi đi ngược lại tỷ lệ này, tùy theo sở thích mà ăn bừa, ăn bậy, thì cơ thể sẽ xuất hiện vấn đề. Ta nói cho ngươi một sự thật như vậy, nhưng sau khi nghe xong, ngươi không tiếp nhận, mà cho rằng: “Giảng đạo và thông công lẽ thật là sở trường của Ngài, còn những chuyện trong cuộc sống thường nhật thì Ngài đâu có hiểu. Tôi có thể không nghe Ngài, bởi vì chuyện này đâu liên quan đến lẽ thật”. Ta nói ngươi có thể không tiếp nhận, có thể sống theo ý thích của mình, nhưng ngươi phải biết rằng nếu ngươi không tiếp nhận được lời Ta nói, thì sớm muộn gì cơ thể ngươi cũng sẽ xuất hiện vấn đề, ngươi sẽ phải trả giá cho sự lựa chọn của mình. Ta chỉ bày tỏ quan điểm của Ta mà thôi, Ta sẽ không dùng địa vị của Ta để áp chế ngươi. Một mặt khác, nếu ngươi không tiếp nhận quan điểm của Ta thì Ta cũng không ép buộc ngươi, Ta cũng sẽ không nói ngươi quá ngu ngốc và ngoan cố khi không tiếp nhận những điều tích cực. Trên thực tế, ngươi đúng là thế, nhưng Ta không bao giờ nói như vậy. Ta sẽ không vì một chuyện nhỏ trong cuộc sống thường nhật mà làm quá lên, rồi dạy dỗ, giáo dục ngươi, Ta sẽ không làm như vậy, bởi vì đó không phải trách nhiệm của Ta, và Ta cũng không muốn làm như vậy. Ta thông công và giảng đạo là đã làm tròn trách nhiệm rồi, đây là chuyện trong chức vụ của Ta. Còn chuyện ăn uống hằng ngày thì ngươi tự mà xử lý. Đức Chúa Trời tạo ra cho nhân loại những gì, tạo ra bao nhiêu, bốn mùa sản sinh những loại thức ăn nào, có những món đặc trưng nào và ngươi nên sử dụng thế nào, đây đều là chuyện của ngươi, ngươi tự mà phân bổ. Nếu lương tâm và lý trí trong nhân tính của ngươi bình thường, lành mạnh, thì ngươi sẽ sử dụng và phân bổ một cách vừa phải. Nếu lý trí của ngươi không lành mạnh, thì ngươi sẽ sử dụng hoặc phân bổ một cách thái quá, cuối cùng sẽ gây ra hậu quả thế nào cho cơ thể ngươi thì chỉ có mình ngươi gánh chịu thôi. Cho nên, Ta rất lý tính trong chuyện này, Ta chỉ nói cho ngươi quan điểm của Ta, chứ không ép buộc ngươi tiếp nhận. Có lúc, nhìn thấy các ngươi có một số thói quen sinh hoạt không tốt, Ta cũng không cưỡng ép các ngươi thay đổi. Ta chỉ nhắc nhở một chút một cách đơn giản, nếu các ngươi không tiếp nhận, không thay đổi, thì Ta sẽ không nói gì thêm. Thói quen sinh hoạt thực ra rất dễ sửa, thói quen sinh hoạt sai lầm hoặc không tốt thì nên sửa, đây là một dạng thái độ tiếp nhận những điều tích cực. Có thái độ và ý nguyện tiếp nhận những điều tích cực là lý tính cơ bản mà nhân tính bình thường nên có. Có người nghe những điều tích cực thì như gió thoảng qua tai, không xem ra gì, lại còn kiên trì với cách thực hành sai lầm và cách làm sai lầm của mình. Thậm chí có người còn nói: “Tôi sống như vậy bao nhiêu năm rồi cũng đâu có hậu quả gì”. Đây là vấn đề về tâm tính. Là tâm tính gì? Cố chấp, cương ngạnh, không tiếp nhận quan điểm đúng đắn và không tiếp nhận những điều tích cực. Ta nói cho ngươi hay, đây là một dạng tâm tính bại hoại, và ngươi phải thay đổi, phải thoát khỏi nó. Cách thực hành sai lầm của ngươi và thái độ cương ngạnh đó của ngươi phải được xoay chuyển, như vậy ngươi mới có thể có sự biến đổi thực sự.

Có một số người thích đả kích người khác, như vậy là không tốt. Nếu Ta nhìn thấy các ngươi làm sai chuyện gì, thì Ta sẽ bày tỏ quan điểm của Ta và thiện ý nhắc nhở các ngươi một cách lý tính. Cách thức làm việc của Ta là vậy. Ngoài ra, nếu có một số vấn đề cần đến việc vạch trần tâm tính bại hoại của các ngươi, thì Ta sẽ vạch trần mà không khách khí, như vậy là có trách nhiệm với người ta. Khi vạch trần vấn đề của người ta thì Ta vạch trần thực chất và chân tướng của vấn đề, Ta sẽ không áp dụng quy định cứng nhắc hoặc làm quá lên. Bởi vì đây là chuyện trong phạm vi công tác của Ta, nên chuyện gì đáng vạch trần thì Ta sẽ vạch trần, sẽ nói không thiếu một câu nào. Vì vậy, Ta làm việc thì có nguyên tắc. Một mặt, trong cuộc sống thường nhật, Ta dựa trên nguyên tắc của lý tính để tiếp cận những chuyện này và cho ngươi biết quan điểm của Ta là gì. Nếu ngươi lưu ý, nếu ngươi có lòng và có lý tính của nhân tính bình thường, thì ngươi sẽ tiếp nhận hoặc tiếp cận đúng đắn với những tư tưởng và quan điểm này, không cần Ta phải giảng đạo một bài vì chuyện này. Mặt khác, trong công tác, Ta cũng không né tránh vấn đề của các ngươi, cũng không vì sợ các ngươi khó xử mà không nói. Ta sẽ vạch trần vấn đề của các ngươi, vạch trần tâm tính bại hoại của các ngươi, để các ngươi đạt đến mức có thể nhận biết những vấn đề về phương diện này và thoát khỏi tâm tính bại hoại. Mục đích của Ta là để các ngươi bước lên con đường đúng đắn. Bất kể ngươi có vấn đề trong cuộc sống hay trong công tác, nếu nó liên quan đến tâm tính bại hoại, liên quan đến lẽ thật, thì Ta sẽ không né tránh, Ta sẽ thông công rõ ràng với các ngươi. Bất kể thông công như thế nào, tiếp cận vấn đề như thế nào, Ta đều có cách thức và nguyên tắc của mình. Đến lúc phải làm tròn trách nhiệm, thì Ta sẽ không chút thoái thác. Ta không sợ làm các ngươi khó xử, Ta sẽ vạch trần vấn đề và tâm tính bại hoại của các ngươi để các ngươi nhận biết, đây là trách nhiệm của Ta. Nếu vấn đề của các ngươi không liên quan đến tâm tính bại hoại hay nguyên tắc lẽ thật, thì các ngươi lựa chọn thế nào và thực hành thế nào là tự do và quyền của các ngươi, Ta không can thiệp. Do đó, bất kể Ta có vạch trần vấn đề của các ngươi hay không thì cũng không liên quan gì đến chuyện đả kích hoặc kìm kẹp, áp chế các ngươi. Về những chuyện trong cuộc sống thường nhật không liên quan đến nguyên tắc, như chuyện ăn, mặc, ở, đi lại, thì Ta cho các ngươi đầy đủ tự do để tự mình lựa chọn. Nhưng nếu là chuyện liên quan đến vấn đề nguyên tắc, tức là liên quan đến tâm tính bại hoại, liên quan đến thái độ đối với công tác, việc làm bổn phận, Đức Chúa Trời hay lẽ thật, thì Ta nên thông công. Ngươi thấy đấy, bất kể Ta làm thế nào, chẳng phải Ta đều có suy xét sao? Ta có nguyên tắc. Hễ là chuyện không liên quan đến lẽ thật, không liên quan đến thái độ của các ngươi đối với Đức Chúa Trời hay lẽ thật, cũng không liên quan đến thái độ của các ngươi đối với công tác hội thánh và việc làm bổn phận, thì Ta không can thiệp, Ta không lo chuyện bao đồng. Nhất là những chuyện liên quan đến lựa chọn cá nhân và ý thích cá nhân, thì Ta chưa bao giờ can thiệp. Chẳng hạn, có một số chị em thích để tóc dài, thích tết tóc hoặc búi tóc, có một số anh em thích để tóc ngắn hoặc cạo trọc đầu, đó là tự do của các ngươi, Ta chưa bao giờ can thiệp. Có một số anh chị em kén ăn, đặc biệt thích ăn một loại thức ăn nào đó, hoặc có một thói quen sinh hoạt không tốt, những chuyện này Ta cũng không bao giờ can thiệp. Nếu thói quen sinh hoạt không tốt này ảnh hưởng đến sức khỏe của họ, ảnh hưởng đến việc họ làm bổn phận, hoặc ảnh hưởng đến công tác hội thánh, thì Ta phải nhắc nhở và giúp đỡ họ, hoặc để anh chị em giúp đỡ họ. Nhưng có những người, khi được anh chị em giúp đỡ thì họ không tiếp nhận, còn nói rằng như vậy là khiến họ bị kìm kẹp và bị áp lực, kết quả là họ lặng lẽ rời khỏi hội thánh mà không nói với ai, khiến cho anh chị em đều cảm thấy chạnh lòng. Ta nói: “Ngươi cảm thấy chạnh lòng là không đúng rồi. Chúng ta không can thiệp vào tự do của người ta. Họ muốn đi thì cứ để họ đi, đó là lựa chọn của họ. Ta không chạnh lòng chút nào”. Tại sao không chạnh lòng? Bởi vì Ta cảm thấy giúp đỡ người đó là nghĩa vụ của Ta, là việc nhân tính của Ta nên làm được. Sự giúp đỡ của Ta đối với người đó không phải là một ân huệ hay sự bố thí, mà chỉ là Ta nghe được chuyện này thì Ta có nghĩa vụ giao phó cho các ngươi đi giúp đỡ họ. Họ làm bổn phận toàn thời gian trong hội thánh, nếu thói quen sinh hoạt không tốt của họ ảnh hưởng đến sức khỏe và cơ thể họ xuất hiện vấn đề, thì chẳng phải anh chị em nên giúp đỡ họ bằng tình yêu thương sao? Đây là đạo đức xã hội tối thiểu của con người. Nhưng nếu họ không tiếp nhận dạng giúp đỡ này, trong lòng thấy ác cảm hoặc áp lực, thì chúng ta cũng không ép buộc, không can thiệp vào tự do của họ. Vậy khi người đó rời khỏi hội thánh, tại sao có người vẫn cảm thấy chạnh lòng? Ngươi cảm thấy chạnh lòng là vì ngươi cho rằng trách nhiệm và nghĩa vụ ngươi làm đối với họ là một dạng ân huệ, thế mà họ không cảm kích, không tiếp nhận ân huệ này và không làm theo ý ngươi, do đó đã làm tổn thương tình cảm và thể diện của ngươi. Nói theo lối thông tục là lòng tốt của ngươi bị coi như đồ bỏ đi, nên ngươi cảm thấy chạnh lòng. Ta thì không chạnh lòng chút nào. Cách lĩnh hội của Ta về chuyện này không giống của các ngươi. Ta nói rằng trong chuyện này Ta phải rút ra bài học, sau này không được làm những việc ngu muội như vậy nữa. Mỗi người đều có chí hướng riêng, ngươi không thể vừa quản chế hết mọi người, vừa khiến người ta cảm thấy hạnh phúc, lại còn ca tụng công đức ngươi được, đúng không? Như vậy thì quá hoang đường rồi. Ngươi phải cho người ta tự do và để người ta tự do lựa chọn. Nếu họ cảm thấy lời ngươi nói là đúng, thì họ có thể lựa chọn tiếp nhận và thực hành theo những lời này. Nếu họ cảm thấy lời ngươi nói không đúng, thì họ cũng có thể lựa chọn không tiếp nhận. Họ có quyền lựa chọn, và ngươi không nên cưỡng ép họ tiếp nhận ý tốt của ngươi. Họ tiếp nhận hay không tiếp nhận cũng đều là một thái độ, đó là tự do của họ. Cùng lắm thì ngươi có thể thông công về một số vấn đề của loại người này, thông công về những bài học ngươi rút ra được từ loại người này và thực chất của một số vấn đề ngươi nhìn thấy nơi họ, để ngươi học được cách phân định con người, học được cách nhìn nhận con người, và học được cách dựa theo nguyên tắc của lời Đức Chúa Trời mà đối đãi với loại người này, không làm những chuyện ngu muội nữa. Vậy các ngươi sai ở đâu? Bất kể giúp đỡ ai, các ngươi đều hành động theo tình cảm, còn cảm thấy: “Xem này, tôi có lòng yêu thương biết bao, tôi yêu thương người ta biết bao”. Như vậy đâu phải là hành động theo nguyên tắc, mà là đối đãi với người khác theo ý mình và ý thích của mình, đây là làm việc theo tình cảm. Lời nói và hành động của Ta đối với bất kỳ ai đều dựa theo nguyên tắc, trong đó không có tình cảm. Lời nói và hành động của Ta hoàn toàn xuất phát từ lương tâm và thiện ý, đối với ai Ta cũng nên làm như vậy. Nhất là đối với những anh chị em đang làm bổn phận một cách bình thường, Ta đúng là nên làm như vậy. Đây là nghĩa vụ và trách nhiệm của Ta. Ta làm tròn trách nhiệm là được rồi. Họ có thể chọn tiếp nhận, cũng có thể chọn từ chối, Ta không ép buộc người ta. Họ tiếp nhận thì Ta vui, không tiếp nhận thì Ta cũng không buồn. Ta chỉ dựa theo nguyên tắc mà làm một số việc nên làm, chỉ làm tròn trách nhiệm của Ta mà thôi. Đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.)

Bất kể ở trong hoàn cảnh nào, khi qua lại với người ta, Ta đều có thể dựa theo nguyên tắc mà đối đãi với đủ mọi loại người và tiếp cận với đủ mọi loại chuyện. Cho dù trong cuộc sống, Ta có giúp đỡ người khác một chút, hoặc nói một vài lời đem lại sự gây dựng cho người khác, thì đó cũng là một phần trong chuyện làm việc theo nguyên tắc, chứ không phải phát xuất từ tình cảm. Còn đối với những chuyện liên quan đến việc thông công lẽ thật, chẳng hạn như vạch trần thực chất bản tính của người ta, vạch trần tâm tính bại hoại của người ta, vạch trần đủ kiểu bộc lộ sự bại hoại và tình trạng bại hoại của người ta trong những chuyện cụ thể, cũng như vạch trần thực chất của các loại vấn đề, thì Ta cũng hành động theo nguyên tắc, không hành động phát xuất từ tình cảm, cũng không hành động với ý của con người. Người ta làm việc gì cũng dựa vào đối tượng, dựa vào tâm trạng và ý thích của mình. Họ thấy người nào mình ưng ý và hợp với mình thì cho người đó chút ân huệ, chút lợi ích, còn thấy người nào không vừa mắt và không hợp với mình, thì có thể đả kích và bài xích người đó; họ không thể đối đãi công bằng với người ta. Người ta không hành động theo tình cảm thì cũng làm ra việc ác, tóm lại họ đều không hành động theo nguyên tắc. Khi Ta qua lại với anh chị em trong hội thánh, đối với bất kỳ ai, Ta cũng đều có thể đối đãi theo nguyên tắc. Cũng vậy, khi giao tiếp và qua lại với người ngoại đạo, Ta cũng có nguyên tắc, có ranh giới. Ngay cả khi họ nói những lời mạo phạm, hoặc những lời không lễ độ, không tao nhã, không tôn trọng, thì Ta cũng không ăn miếng trả miếng. Nếu cần phải giao tiếp với họ để xử lý công chuyện thì Ta sẽ giao tiếp, nếu không cần xử lý công chuyện thì Ta sẽ chọn tránh né và cự tuyệt họ. Nếu người nào đó có nhân cách thấp hèn, luôn muốn chiếm lợi và đòi hỏi lợi ích, ngay cả khi được Ta giúp đỡ mà họ cũng không thể tiếp cận chuyện này một cách đúng đắn, cũng không có chuyển biến gì, nghĩa là nhân tính họ không tốt, thì Ta cứ tránh xa họ là xong. Tóm lại, bất kể qua lại với anh chị em hay tiếp xúc với người ngoại đạo, Ta đều có thể hành động theo nguyên tắc, chí ít Ta cũng dựa theo ranh giới của lương tâm và lý trí trong nhân tính mà qua lại với người ta. Các ngươi có thể làm được như vậy không? (Thưa, không làm được.) Bất kể qua lại với ai, con người bại hoại đều bảo vệ lợi ích bản thân, hoặc đối đãi theo tình cảm và ý thích, chứ chẳng có nguyên tắc. Nếu là anh chị em mà họ cho là hợp nhau và có quan hệ tốt, thì họ có thể giúp đỡ người đó, có thể tỏ lòng yêu thương và cho người đó cái này cái kia, có thể tiếp xúc gần gũi với người đó. Nhưng nếu người đó làm chuyện khiến họ đau lòng, thì họ sẽ nói: “Tôi không bao giờ gặp lại hắn nữa, cũng không bao giờ tiếp xúc với hắn nữa. Tôi hối hận rồi! Trước đây tôi đối tốt với hắn đến vậy, giúp đỡ hắn nhiều đến vậy, mà hắn đối xử với tôi như thế. Hắn đúng là đồ vô ơn, là thứ vong ơn bội nghĩa!”. Họ không thể hành động theo nguyên tắc mà đối đãi công bằng với người ta. Họ đối xử tốt với ai là xuất phát từ tình cảm, đối xử không tốt với ai cũng là do ý thích cá nhân, mọi việc họ làm chỉ để thỏa mãn tình cảm. Vì vậy, nếu họ giúp đỡ một người nào đó, giúp người đó được lợi ích, nhưng người đó chẳng những không biết ơn mà còn làm lòng họ bị tổn thương, thì họ sẽ rất đau lòng, đau khổ, sẽ oán trách và cảm thấy những thứ mình cho đi đã đổ sông đổ biển, họ sẽ không cam lòng và sau này không bao giờ làm như vậy nữa. Các ngươi nói xem, nếu gặp phải chuyện như vậy thì Ta tiếp cận thế nào? Trước hết, ngươi không thể dùng ân tình giữa người với người để đánh giá chuyện này, không thể đứng ở góc độ tình cảm để đánh giá loại chuyện này. Ngươi phải dựa vào lời Đức Chúa Trời và nguyên tắc lẽ thật để phân định loại người này, phân định nhân tính của họ và con đường họ đi, phân định thái độ của họ đối với Đức Chúa Trời, lẽ thật và việc làm bổn phận, chứ không phải đứng từ góc độ tình cảm mà phân định và nhìn nhận họ. Nhìn nhận một người như vậy sẽ chính xác hơn nhiều. Không phải dựa vào tình cảm, cũng không phải dựa vào chuyện được mất cá nhân của ngươi để đánh giá một người hay một chuyện nào đó, mà là dựa vào lời Đức Chúa Trời và nguyên tắc lẽ thật để đánh giá. Nhìn nhận một người, một chuyện theo cách như vậy thì sẽ chính xác và hợp nguyên tắc. Khi nhìn nhận con người và mọi chuyện theo cách này, ngươi sẽ không đau lòng và đau khổ vì một người mà ngươi từng giúp đỡ lại vong ơn bội nghĩa với ngươi, ngươi cũng sẽ không mang ơn đội nghĩa một người nào đó từng có ân huệ với ngươi, thay vào đó, ngươi có thể dựa theo nguyên tắc mà đối đãi đúng đắn với người đó. Có một câu tục ngữ mà người ta thường nói: “Nhận ơn một giọt, trả ơn một dòng”. Người bình thường vẫn sống trong lô-gic của những tư tưởng và quan điểm của văn hóa truyền thống này. Họ không dựa vào lời Đức Chúa Trời hay lẽ thật để nhìn nhận chuyện và người, cũng không dựa theo nguyên tắc để đối đãi với người khác. Họ cho rằng khi đối đãi với người khác, ngoài việc không lừa, không hại, không đánh, không chửi, không làm việc ác với người khác ra, thì còn phải đối tốt với người ta, nhất là ai có ơn với mình thì phải báo đáp gấp đôi, nếu không thì chính là vong ơn bội nghĩa. Làm như vậy có phải là đối tốt với người khác không? (Thưa, không phải.) Vậy làm thế nào mới thực sự là đối tốt với người khác? Không phải là yêu quý, quan tâm và chăm sóc người ta xuất phát từ tình cảm theo ý con người, mà là làm việc dựa trên nguyên tắc theo lời Đức Chúa Trời. Làm việc theo nguyên tắc như vậy là điều mà người bình thường không đạt đến được, người ta chỉ biết làm việc theo tình cảm, chứ không biết làm việc theo nguyên tắc. Làm việc theo tình cảm và làm việc theo nguyên tắc thì khác nhau rất nhiều, chúng là hai con đường khác biệt. Làm việc theo tình cảm thì có pha tạp ý của con người, ngươi giúp đỡ người ta là để thỏa mãn nhu cầu tình cảm cá nhân, chứ không phải là chuyện gì ra chuyện nấy. Nếu người này mang ơn đội nghĩa với ngươi thì ngươi sẽ tiếp tục đối tốt với người ta, nếu người này không trân trọng ngươi, làm ngươi đau lòng và làm tổn thương tình cảm của ngươi, thì ngươi sẽ không làm như vậy nữa. Thế thì chẳng phải là ngươi hành động không có nguyên tắc sao? (Thưa, phải.) Đây chính là hành động không có nguyên tắc. Vậy làm thế nào mới là làm việc theo nguyên tắc? Chính là làm tròn trách nhiệm của con người, người ta cần giúp thì mình giúp, người ta muốn đón nhận thế nào thì cứ để người ta đón nhận thế ấy. Người ta sẵn lòng tiếp nhận sự giúp đỡ của ngươi thì càng tốt, người ta không sẵn lòng tiếp nhận thì ngươi cũng không được nói người ta vô phúc, ngươi cũng không buồn bã, không đau lòng, không thất vọng, mà vẫn có thể đối đãi với người ta một cách đúng đắn, như vậy chính là làm việc theo nguyên tắc. Các ngươi đã hiểu nguyên tắc “không đả kích” này chưa? (Thưa, đã hiểu.)

Một trong những nguyên tắc của Đức Chúa Trời nhập thể khi qua lại và trao đổi với người ta giữa nhân gian là không đả kích. Không đả kích ở đây liên quan đến nguyên tắc trong chuyện đối đãi với người ta hoặc thông công về lẽ thật. Ngoài không đả kích ra, Đức Chúa Trời nhập thể còn có một nguyên tắc nữa trong chuyện đối đãi với người ta, đó là không trả thù. Con người nhìn nhận chuyện trả thù này thế nào? Nếu ai đó bị ức hiếp hoặc bị tổn thương, rồi sau đó phản kích hoặc đánh trả một cách chính đáng, thì đây có phải là chuyện người ta thấy chấp nhận được không? (Thưa, phải.) Nhưng trong mắt Đức Chúa Trời, đây có phải là nguyên tắc để đối đãi với người ta không? (Thưa, không phải.) Trong nhân loại, bất kỳ ai cũng sẽ trả thù, cũng có thể trả thù, ai cũng có bản năng trả thù, có ý đồ và mong muốn trả thù. Nếu có người từng chửi ngươi hoặc làm tổn thương ngươi, thì ngay cả khi hiện tại chưa thể trả thù, ngươi vẫn sẽ tìm cơ hội để trả thù, để cho người đó biết rằng ngươi cũng có tôn nghiêm, không phải người dễ bị ức hiếp, không phải người dễ chọc vào, rằng ngươi không phải kẻ ngốc, ngươi có lý trí của nhân tính bình thường, có thể cảm nhận được, phán đoán được. Vậy những suy nghĩ trả thù người khác của ngươi từ đâu mà có? Chúng đến từ lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường hay đến từ huyết khí trong tâm tính bại hoại của Sa-tan? (Thưa, đến từ huyết khí trong tâm tính bại hoại của Sa-tan.) Chuyện này rõ ràng rồi. Nếu một người nào đó bị người khác ức hiếp, chiếm lợi hoặc lừa gạt, khi không có địa vị thì họ không có cơ hội, cũng không có điều kiện để trả thù, nên họ sẽ chôn hết những chuyện này trong lòng, và chúng biến thành một dạng thù hận. Vì có những thù hận này, vì chịu sự đối đãi bất công này, người ta có thể thù hằn xã hội, thù hằn nhân loại và thù hằn mỗi một người mà mình xem là kẻ thù. Khi có địa vị, có điều kiện và có cơ hội rồi, bất kỳ ai cũng có thể làm ra chuyện trả thù, khiến những người từng làm tổn thương mình, từng xem thường mình đều phải chịu sự trả thù của mình và nhận lấy kết cục đáng phải nhận. Họ thấy sống như vậy mới là có khí phách, thấy cuối cùng mình cũng xả được cục tức. Giữa nhân loại, bất kỳ ai làm như vậy cũng sẽ không bị xã hội khiển trách hay bị lương tâm cắn rứt, cho nên người ta cho rằng trả thù không phải là chuyện không chính đáng hay đáng xấu hổ, cũng không đến mức được xem là điều tích cực hay điều tiêu cực. Nhưng từ Thời đại Ân điển cho đến giai đoạn công tác này, trong mọi lời Đức Chúa Trời đã phán, ngươi không thể tìm thấy một lời nào bảo con người trả thù người khác. Đức Chúa Trời chưa bao giờ bảo con người rằng: “Nếu có người làm tổn thương ngươi, có người từng lừa gạt ngươi, thì ngươi nhất định phải trả thù, nhất định phải đáp trả lại họ, mắt đền mắt, răng đền răng”. Trong những nguyên tắc Đức Chúa Trời bảo con người về cách đối đãi với người khác, có chuyện trả thù này không? (Thưa, không có.) Trong Thời đại Ân điển, Đức Chúa Trời bảo con người đối đãi với người khác thế nào? Nhẫn nại, bao dung, có tình yêu thương, còn gì nữa? (Thưa, yêu kẻ thù, ai vả má bên trái thì đưa cả má bên phải.) Còn gì nữa? Tha thứ cho người khác bảy mươi lần bảy. Con số bảy mươi lần bảy chỉ mang tính đại diện, không phải thực sự chỉ có bấy nhiêu lần. Đức Chúa Trời nói như vậy là bảo ngươi tha thứ cho tất cả những ai từng có lỗi với ngươi và số lần tha thứ là vô hạn, đây là một nguyên tắc. Nhẫn nại, bao dung, khiêm nhường, yêu kẻ thù, ai vả má bên trái thì đưa cả má bên phải, còn có tha thứ cho người ta bảy mươi lần bảy, những điều này thường được nhắc đến trong Thời đại Ân điển. Vậy từ những lời này, có thể đúc kết ra nguyên tắc về chuyện đối đãi với người khác không? Nguyên tắc mà Đức Chúa Trời yêu cầu con người trong chuyện đối đãi với người khác là gì? Có mắt đền mắt, răng đền răng không? (Thưa, không có.) Có lấy gậy ông đập lưng ông không? (Thưa, cũng không có.) Có trả thù không? (Thưa, không có.) Những điều này đều không có. Mặc dù mỗi một điều trong những lời Đức Chúa Trời phán vào Thời đại Ân điển đều là một loại hành vi và cách làm cụ thể, nhưng chúng đều là nguyên tắc về chuyện đối đãi với người khác mà Đức Chúa Trời nói cho con người. Vậy trong giai đoạn công tác ở thời kỳ sau rốt này, Đức Chúa Trời bảo con người đối đãi với người khác thế nào? Phải đối đãi công bằng với người khác, phải nhìn vào sở trường và ưu điểm của người ta, đừng nhìn vào thiếu sót và điểm yếu của người ta. Cụ thể còn có gì nữa? Không lừa gạt, không tranh chấp, không đả kích, phối hợp hòa hợp với người khác. Có phải đây đều là nguyên tắc cụ thể cho chuyện đối đãi với người khác không? (Thưa, phải.) Bất kể ở thời đại nào, trong những nguyên tắc cụ thể về chuyện đối đãi với người khác mà Đức Chúa Trời nói cho con người, không có một điều nào bảo người ta trả thù người khác, không có một điều nào nói rằng: “Nếu ai làm tổn thương ngươi thì ngươi làm tổn thương hắn, có người đánh ngươi thì ngươi nhất định phải đánh trả, hắn đánh ngươi một đấm thì ngươi cũng trả lại hắn một đấm, hắn chửi ngươi một câu thì ngươi cũng chửi lại hắn một câu”. Đức Chúa Trời chưa bao giờ phán lời nào như vậy. Đức Chúa Trời bảo ngươi phối hợp hài hòa với người khác và đối đãi công bằng với người khác. Người đó có thể là người mà ngươi xem thường, có thể là người từng làm tổn thương hoặc lừa gạt ngươi, cũng có thể là người từng đả kích hoặc xét đoán ngươi. Nhưng chỉ cần người đó thật lòng tin Đức Chúa Trời, thì ngươi nên đối đãi công bằng với họ và phối hợp hài hòa với họ. Đây chính là nguyên tắc, đây là nguyên tắc mà một người có nhân tính bình thường nên có và nên tuân thủ trong chuyện đối đãi với người khác. Người có lương tâm và lý tính của nhân tính bình thường sẽ tiếp nhận những nguyên tắc lẽ thật này và thực hành đối đãi công bằng với người khác. Còn người không có lương tâm và lý tính của nhân tính bình thường mà nghe những lời này thì sẽ xem chúng như một loại đạo lý hoặc giáo điều. Đối với những người không thể tiếp nhận lẽ thật, nếu có ai động chạm đến lợi ích, thể diện, địa vị hoặc tôn nghiêm của họ, thì họ sẽ bộc lộ huyết khí, chẳng những muốn trả thù, muốn đối phương bồi thường, mà còn muốn được bồi thường gấp đôi, càng làm càng quá đáng. Ai từng làm tổn thương họ, ai từng đắc tội với họ, ai từng bất kính hoặc mạo phạm họ, từng có bất kỳ xung đột nào với họ về lời nói, thậm chí về thân thể, thì họ sẽ trả thù gấp bội, đáp trả gấp bội. Họ căn bản không làm được nguyên tắc mà Đức Chúa Trời yêu cầu trong chuyện đối đãi với người khác.

Cũng có rất nhiều ví dụ thực tế liên quan đến chủ đề Đức Chúa Trời nhập thể không trả thù người khác. Đức Chúa Trời yêu cầu nhân loại đối đãi với người khác thì nên tuân thủ nguyên tắc không trả thù người khác này, bởi vì Đức Chúa Trời nhập thể có nhân tính bình thường như vậy, cũng có thực chất nhân tính như vậy trong cuộc sống thực tế và môi trường công tác của Ngài. Có thực chất nhân tính như vậy là nói đến điều gì? Chính là nói đến chuyện Ngài có thể tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc làm người như vậy mà đối đãi với người khác, tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc làm người này mà sống giữa nhân loại và giữa các nhóm người. Chuyện này là bởi Ngài có thực chất sự sống như vậy, cũng bởi có thực chất sự sống như vậy nên Ngài mới có thực tế cuộc sống như vậy. Đức Chúa Trời nhập thể sống giữa mọi người một cách thực tế, Ngài cũng sống một cuộc sống hiện thực có qua lại và trao đổi với người khác, chứ không phải sống trong chân không. Ngài sống trong xác thịt thì không khỏi phải tiếp xúc, trao đổi và qua lại với người khác. Khi giao tiếp và qua lại với nhân loại bại hoại thì Ngài không thể tránh khỏi chuyện chịu sự đối đãi bất công, bị người khác thiếu tôn trọng, bị người khác kỳ thị, bị người khác lừa dối, bị người khác ức hiếp, còn chịu một số sự xét đoán không phù hợp với thực tế. Ta tiếp cận thế nào với những sự đối đãi bất công này? Ta sống ở nhân gian chừng ấy năm, khỏi nói đến những sự đối đãi bất công mà Ta đã chịu giữa người ngoại đạo, chỉ nói đến trong gia đình, trong hội thánh địa phương, giữa mọi lãnh đạo, người làm công cấp trên và các anh chị em bình thường mà Ta có thể tiếp xúc, các ngươi nói xem có phải mỗi một người đều có thể đối đãi công bằng với Ta không? (Thưa, không phải.) Chắc chắn là không phải. Ta cũng giống như các ngươi, Ta từng là một tín đồ bình thường, cũng từng là một thành viên trong gia đình. Khi làm một thành viên trong gia đình, Ta cũng từng chịu đủ mọi sự đối đãi bất công. Trong gia đình, giữa anh chị em với nhau, ai mạnh thế thì có tiếng nói quyết định, ai thật thà và thấu tình đạt lý thì luôn bị ức hiếp, bị đối đãi bất công. Trong ký ức của Ta về gia đình có mấy chuyện đặc biệt. Trong mấy chuyện này, nếu ngươi ngang ngược, bất chấp lý lẽ và càn quấy thì ngươi sẽ không bị ức hiếp, không bị đối đãi bất công. Nhưng nếu ngươi thấu tình đạt lý, và tiếp cận những chuyện này một cách lý tính, thì ngươi lại phải chịu sự ức hiếp. Người ta càn quấy và bất chấp lý lẽ, thì sẽ cưỡng chiếm lợi của ngươi và giở trò vô lại. Ta không biết giở trò vô lại, Ta chỉ biết thấu tình đạt lý và tiếp cận với những chuyện này một cách lý tính, nhưng thấu tình đạt lý thì lại phải chịu sự ức hiếp. Ngươi xem thế gian này đi, bất kể ở trong tập thể nào thì sự công bằng và công chính đều không nắm quyền. Ai biết giở trò vô lại, biết càn quấy, biết nói lý lẽ ngang ngược, thì người đó chiếm thế thượng phong. Ngươi càng thấu tình đạt lý, càng xem trọng công bằng, lương tâm và lý tính thì ngươi càng khó có chỗ đứng, càng bị ức hiếp. Trong gia đình Ta cũng như vậy, Ta bị người trong nhà ức hiếp. Ở hội thánh địa phương cũng có một số người luôn kỳ thị Ta. Ta không đắc tội họ, cũng chưa từng làm tổn thương họ. Chỉ là vì lúc đó Ta còn nhỏ tuổi, biểu hiện tích cực một chút, nhiệt tình một chút, sẵn lòng nhóm họp và sẵn lòng tham gia các hoạt động khác nhau, nên có một số người luôn nhìn Ta một cách thành kiến, ném cho Ta ánh mắt chẳng tốt đẹp gì, lại còn chửi Ta sau lưng, xét đoán Ta, nói đủ thứ lời khó nghe. Sau này, khi Ta đến hội thánh nơi khác, sống cùng các anh chị em địa phương, thì chuyện cũng như vậy. Bất kể Ta làm việc gì cũng có một số người nảy sinh quan niệm, có người thậm chí còn chế giễu Ta, hạ thấp Ta và xét đoán Ta sau lưng. Bất kể chịu những sự đối đãi bất công nào, suốt những năm qua, Ta chưa từng trả thù bất kỳ người nào từng làm tổn thương Ta. Cho dù là người chửi Ta, người xét đoán Ta, thậm chí người nói những lời rất khó nghe về Ta, Ta cũng chưa từng trả thù họ. Không trả thù nghĩa là gì? Trả thù thì có những hành vi nào? Trả thù thì có nhiều loại hành vi và biểu hiện khác nhau. Có kiểu trả thù là vạch trần chuyện xấu trước đây của người ta ngay trước mặt họ, để họ biết hiện giờ Ta có địa vị rồi, biết trước đây họ từng chửi Ta, từng xét đoán Ta thì Ta có tâm trạng thế nào, biết bây giờ Ta có địa vị rồi, Ta mà muốn đối phó và trả thù họ thì quá dễ. Nhưng Ta chưa bao giờ làm như vậy, cũng sẽ không làm như vậy. Tại sao Ta sẽ không làm như vậy? Về chuyện đối đãi với các loại người, trong lòng Ta có nguyên tắc cả. Nếu họ có nhân tính xấu và là kẻ ác, mà họ làm tổn thương Ta, thì đó không phải là chuyện lớn gì. Nhưng nếu họ gây nhiễu loạn hội thánh, làm tổn hại đến lợi ích nhà Đức Chúa Trời, vi phạm sắc lệnh quản trị của hội thánh, vi phạm nguyên tắc của hội thánh, hoặc đi ngược lại sự sắp xếp công tác, thì nhà Đức Chúa Trời có sắc lệnh quản trị, tự nhiên sẽ xử lý họ thôi. Nếu các anh chị em mù quáng, không có sự phân định mà muốn bầu họ làm lãnh đạo, thì Ta sẽ thông công với anh chị em về nguyên tắc bầu chọn lãnh đạo của nhà Đức Chúa Trời. Nếu các anh chị em có sự phân định về họ thì có thể bảo họ rút khỏi cuộc bầu cử, nếu các anh chị em không có sự phân định và đã bầu họ lên, thì cứ để họ làm lãnh đạo thử xem. Một khi chịu khổ đủ rồi, thì các anh chị em tự nhiên sẽ có sự phân định về họ và sẽ bãi miễn họ. Một mặt, chuyện này là để các anh chị em rút ra được bài học, học cách phân định và nhận biết con người. Mặt khác, đây là tuân thủ nghiêm ngặt sắc lệnh quản trị của nhà Đức Chúa Trời và nguyên tắc xử lý các loại người của nhà Đức Chúa Trời. Ngoài ra còn một phương diện quan trọng hơn nữa: nhà Đức Chúa Trời, hội thánh, là nơi Đức Thánh Linh hoạt động, là nơi Đức Chúa Trời nắm quyền, là nhà của Đức Chúa Trời. Nhà của Đức Chúa Trời nghĩa là gì? Nghĩa là lẽ thật nắm quyền, mà lẽ thật nắm quyền nghĩa là lẽ thật định đoạt. Hễ ai đến hội thánh thì đều có kết cục và đích đến thích hợp. Chuyện bất kỳ người nào được giữ lại, rời đi, hay ở lại, bất kỳ người nào ở trong hoàn cảnh nào, và nhà Đức Chúa Trời xử trí họ như thế nào, tất cả đều có thời điểm của Đức Chúa Trời. Họ từng làm tổn thương Ta, đắc tội với Ta, chửi Ta, hoặc từng hãm hại, xét đoán Ta sau lưng, thì trong mắt Ta, những chuyện này đều không bị tính là vi phạm nguyên tắc. Vậy thế nào là vi phạm nguyên tắc? Chính là ngươi làm tổn hại đến lợi ích nhà Đức Chúa Trời và vi phạm sắc lệnh quản trị. Nhà Đức Chúa Trời là nơi lẽ thật nắm quyền. Sớm muộn gì cũng có ngày kẻ ác chịu báo ứng, mỗi người đều sẽ nhận sự trừng phạt đáng phải chịu theo những gì mình đã làm. Xử lý đủ mọi loại người là việc của hội thánh, là công tác mà những lãnh đạo và người làm công nên làm, không cần Ta trực tiếp làm, đây là nguyên tắc của Ta khi tiếp cận với loại chuyện này. Đối với bất kỳ người nào, bất kể trước đây họ từng làm gì, nói gì với Ta, hoặc cung kính hoặc xúc phạm, hoặc phù hợp hoặc không phù hợp, Ta đều có thể đối đãi công bằng. Chỉ cần ngươi sống đời sống hội thánh trong nhà Đức Chúa Trời, hoặc nếu ngươi tin Đức Chúa Trời chưa lâu và chưa hiểu lẽ thật, Đức Thánh Linh cũng chưa công tác đến mức đó, thì ngươi vẫn có thể ở lại trong nhà Đức Chúa Trời. Chưa đến lúc cuối cùng để tuyên bố kết cục của người ta thì Ta có thể chờ đợi. Ta sẽ không lấy thái độ của ngươi đối với một mình Ta làm chứng cứ đầy đủ để quy định kết cục của ngươi. Vì vậy, đối với bất kỳ người nào từng làm Ta tổn thương, Ta đều không trả thù, đều đối đãi với họ theo nguyên tắc.

Khi Ta tiếp xúc với một số người trong hội thánh, có người nói chuyện với Ta không được lễ độ và không có sự tôn trọng. Thấy họ có thái độ như vậy với Ta thì Ta phớt lờ họ. Các ngươi nói xem, Ta phớt lờ họ có phải là Ta có thái độ không tốt đối với họ không? (Thưa, không phải.) Vậy Ta có nên vì chuyện này mà tỉa sửa và sửa dạy họ không? Ta thực sự chưa từng làm chuyện như vậy. Kết quả là có một số anh chị em thấy chướng mắt, lên tiếng bênh vực Ta, nói rằng: “Sao người này lại có thái độ như vậy khi nói chuyện với Đức Chúa Trời? Hãy thanh lọc họ đi!”. Các anh chị em rất căm phẫn, dựa vào biểu hiện nhất quán của họ mà thanh lọc họ theo nguyên tắc. Thấy mọi người đã thanh lọc họ đi rồi, trong lòng Ta biết: “Xem ra biểu hiện về nhân tính của người này thường ngày cũng chẳng ra gì. Các anh chị em sẽ không xử lý họ chỉ vì họ có thái độ không tốt với Ta, xem ra biểu hiện của người này trong hầu hết mọi chuyện đều không tốt”. Hội thánh xử lý họ là làm việc theo nguyên tắc, Ta không có gì để nói. Ta tôn trọng phương án xử lý của các anh chị em, tôn trọng quyết định của các anh chị em. Nhưng Ta tôn trọng như vậy không phải vì các ngươi đã xử lý một người không khách khí với Ta, mà là Ta tôn trọng nguyên tắc xử lý con người của hội thánh. Các ngươi nói xem, nguyên tắc này của Ta trong chuyện đối đãi với người ta có đúng không? (Thưa, đúng.) Trong chuyện đối đãi với người ta, đối với những người trước đây từng xét đoán Ta hoặc chửi Ta, Ta chưa bao giờ bảo lãnh đạo hội thánh địa phương xử lý họ cả. Ngược lại, nếu hội thánh địa phương đề bạt và bầu chọn một vài người cá biệt trong số đó làm người chỉ huy việc rao truyền phúc âm hoặc làm lãnh đạo, người làm công, thì Ta đều không cản trở, Ta cho họ cơ hội. Nhất là một số người trong hội thánh ở quê nhà của Ta, họ nên làm bổn phận gì thì vẫn làm bổn phận đó. Ta chưa từng ủy quyền cho bất kỳ ai trả thù những người từng làm tổn thương Ta hoặc đắc tội với Ta, Ta chưa từng làm một chuyện nào như vậy. Trong lòng Ta nghĩ thế nào? Ta nghĩ: Nếu họ thực sự mưu cầu lẽ thật và có sự biến đổi trong tâm tính, thì họ có hy vọng được cứu rỗi. Những lời khó nghe trước đây họ từng nói với Ta đều là vấn đề về nhân tính, là do tâm tính bại hoại gây ra. Lúc đó, mọi người đều không hiểu lẽ thật, đều có tâm tính hung ác, khó tránh khỏi việc nói ra những lời khó nghe hoặc làm ra những chuyện không thích hợp với những ai mà mình xem thường. Nhất là khi những người mà họ đố kỵ hoặc xem thường lại được đề bạt, thì trong lòng họ liền nảy sinh sự ghen tị, đố kỵ và căm ghét, tâm tính bại hoại liền chi phối họ và thúc đẩy họ hành động, rồi đương nhiên họ sẽ nói ra những lời của quỷ. Chuyện này là do tâm tính bại hoại và dã tâm, dục vọng của họ gây ra. Cộng thêm chuyện người ta không có chút lòng kính sợ Đức Chúa Trời nào, lời khó nghe nào cũng có thể nói ra, lời nào nói ra khiến mình hả giận, giải hận và có thể giúp mình đạt được mục đích thì họ nói lời đó. Bất kể người ta từng nói những lời khó nghe nào, từng làm những việc xấu nào sau lưng Ta, nếu chúng nằm trong phạm vi bộc lộ tâm tính bại hoại bình thường và là điều Đức Chúa Trời có thể tha thứ, thì bởi vì Đức Chúa Trời tể trị hết thảy, Ngài sẽ cho họ cơ hội, để họ được đề bạt, được bồi dưỡng, được sử dụng, thậm chí có người còn có thể được làm cho hoàn thiện. Nhưng nếu những sự bộc lộ này vượt quá phạm vi tâm tính bại hoại của nhân tính bình thường và bị Đức Chúa Trời định tội, thì bởi vì Đức Chúa Trời dò xét hết thảy, nên Đức Chúa Trời sẽ làm gì với họ, hoặc sẽ an bài, xử trí họ như thế nào, thì cứ tùy theo Đức Chúa Trời, Ta không cần phải lao tâm về chuyện này, cũng không cần nhúng tay vào. Cho nên khi chịu một số sự đối đãi bất công hoặc nghe thấy những lời đả kích và lên án mình, thì trong lòng Ta sẽ có chút thương cảm hoặc đau buồn, nhưng Ta sẽ không hành động trái nguyên tắc. Ta chẳng những ghi nhớ những chuyện này, mà còn tiến thêm một bước nữa, tìm hiểu thực chất nhân tính bộc lộ thông qua hành vi của những người này là gì. Nhưng về chuyện hết thảy hành vi và sự bộc lộ này của họ, cùng nhân tính của họ hoặc thực chất tâm tính của họ cuối cùng sẽ bị quy định thế nào, cuối cùng kết cục của họ là gì, thì Ta chỉ có một phương án xử lý thôi, chính là giao hết cho Đức Chúa Trời. Bởi vì Đức Chúa Trời tể trị hết thảy, số phận của mỗi một người đều nằm trong tay Đức Chúa Trời nắm giữ, và Đức Chúa Trời tể trị số phận của nhân loại, Ta không định đoạt kết cục của bất kỳ ai trong các ngươi. Mặc dù Ta có thể nhìn thấu, trong lòng Ta có thể định nghĩa, có thể quy định mọi chuyện này, trong lòng Ta cũng có thể có ý kiến về ngươi, nhưng Ta chưa bao giờ công khai xác định tính chất ngươi, Ta không làm như vậy. Nếu hội thánh muốn xử lý ngươi, Ta có thể đưa ra ý kiến, nhưng Ta không nhúng tay vào, không cản trở hội thánh xử lý ngươi, đồng thời Ta cũng không can thiệp vào sự tể trị của Thần của Đức Chúa Trời trên ngươi. Ta đối đãi với người ta dựa trên những nguyên tắc này, cho nên những người từng qua lại với Ta trước đây từng làm chuyện bất công nào với Ta, từng nói lời khó nghe nào với Ta, thì chúng chỉ dừng ở chỗ Ta thôi, không đi xa hơn chút nào nữa. “Không đi xa hơn chút nào nữa” nghĩa là gì? Nghĩa là ai từng nói lời khó nghe nào với Ta, ai từng ức hiếp Ta, ai từng sỉ nhục Ta, ai từng làm tổn thương Ta, những chuyện này Ta chưa bao giờ nhắc đến với bất kỳ ai, càng chưa bao giờ trả thù họ. Một số người nói: “Đã nhiều năm rồi, có phải Ngài đã quên những người này rồi không?”. Trong cuộc đời mỗi người luôn có một số chuyện khiến người ta ghi khắc sâu sắc, mãi mãi không quên. Về những chuyện này, không phải là Ta đã quên, cũng không phải là Ta không cảm nhận được, càng không phải là Ta không hiểu. Ta có thể làm được việc không ghi hận, không trả thù là bởi vì trong lòng Ta không có những thứ như ghi hận hay trả thù, điều này đã trở thành nguyên tắc của Ta trong chuyện đối đãi với người ta rồi. Một trong những nguyên tắc này chính là đối đãi với bất kỳ ai đều phải công bằng. Số phận của nhân loại nằm trong tay Đức Chúa Trời nắm giữ, kết cục và đích đến của bất kỳ người nào đều liên quan đến những gì họ làm, những gì họ biểu hiện, thái độ của họ đối với lẽ thật và Đức Chúa Trời, cũng như con đường họ đi – do những nhân tố này quyết định. Những gì bất kỳ người nào làm với Ta không phải là một tiêu chuẩn hay nhân tố để cân nhắc kết cục và đích đến của họ. Cho nên, nói đến chuyện không trả thù, thì điều chính yếu nhất là Ta có nguyên tắc của Ta trong chuyện đối đãi với các loại người khác nhau. Nếu ngươi từng làm tổn thương Ta, từng hãm hại Ta, lừa gạt Ta, thậm chí từng sỉ nhục Ta, nguyền rủa Ta, thì Ta đều không dùng cách thức trả thù để đối đãi với ngươi. Bởi vì trả thù không phải là nguyên tắc của Ta trong chuyện đối đãi với người ta, cũng không phải nguyên tắc mà Đức Chúa Trời dạy cho con người về chuyện đối đãi với người khác. Do đó, trước khi nói cho con người biết nguyên tắc đối đãi với người khác như thế nào, Đức Chúa Trời cũng có nguyên tắc của riêng Ngài trong chuyện đối đãi với người ta. Trong lời Đức Chúa Trời và trong mọi nguyên tắc Đức Chúa Trời dạy cho con người, đều không có nguyên tắc trả thù người khác. Các ngươi xem, có phải là vậy không? (Thưa, phải.) Nguyên tắc của Ta để xử lý mọi loại chuyện và đối đãi với mọi loại người thì có xung đột với những nguyên tắc lẽ thật mà Ta đã thông công trong những năm qua không? (Thưa, không xung đột.)

Đức Chúa Trời nhập thể khi ở trong nhân tính bình thường thì có thể làm được chuyện không trả thù, vậy nhân loại bại hoại có dễ làm được chuyện không trả thù hay không? (Thưa, không dễ.) Tại sao không dễ? (Thưa, nhân loại bại hoại khi qua lại với người khác thì phần nhiều đều dựa vào tâm tính bại hoại và huyết khí, nên rất dễ trả thù người khác.) Nhân loại bại hoại có tâm tính hung ác, cho nên họ không đạt đến được việc không trả thù. Họ cũng biết nguyên tắc đối đãi với người khác mà Đức Chúa Trời nói cho con người là gì, nhưng họ không làm được, bởi vì họ có tâm tính hung ác. Ngay cả khi ngươi không có ý làm tổn thương họ trong lúc nói chuyện, nhưng chỉ lỡ lời một câu mà làm tổn thương họ, thì họ liền thẹn quá hóa giận và muốn trả thù ngươi. Họ còn làm quá chuyện đó lên để đả kích ngươi, bôi nhọ và phỉ báng ngươi sau lưng, nói xấu ngươi với người khác, nói ngươi có dã tâm thế nào, gian manh thế nào, nhưng sự thật lại hoàn toàn đâu phải như vậy. Ngươi chỉ vô ý nói một câu làm tổn thương họ, chứ không có ác ý, thế mà họ có thể trả thù ngươi. Ngươi thấy đấy, tâm tính hung ác của loại người này có đáng sợ không? (Thưa, đáng sợ.) Còn có người vì trả thù người ta mà có thể bất chấp lý lẽ, giở trò vô lại, thậm chí còn lăn lộn ầm ĩ và càn quấy, như vậy là không hợp nguyên tắc. Thường thì nhân loại bại hoại đều làm như vậy, đúng không? Nếu Ta gặp chuyện trả thù thì Ta làm thế nào? Bất kể người khác đối đãi với Ta thế nào, Ta đều không trả thù người ta, Ta cũng không giở trò vô lại. Bất kể trong thời điểm nào, nguyên tắc làm người của Ta đều không thể thay đổi. Ta phải biết lý lẽ, phải làm người và hành động trong phạm vi lý tính của nhân tính. Ta không thể vì ngươi không có lý tính, không có nhân tính, mà Ta cũng dùng cách làm không có nhân tính để trả thù ngươi, như vậy là không thích hợp. Ta phải giữ vững công tác thuộc chức phận của Ta, giữ vững nguyên tắc làm người của Ta. Ta sẽ không vì ngươi không có nhân tính và không làm những chuyện của con người mà từ bỏ nguyên tắc làm người của Ta. Ta nên làm người thế nào thì vẫn làm người thế ấy, nguyên tắc làm người của Ta là bất biến. Trong gia đình, Ta làm như vậy, những việc như rửa nồi rửa bát, dọn dẹp nhà cửa, quét dọn vệ sinh, cho dù người khác có càn quấy, có ngang ngược và bất chấp lý lẽ đến đâu, Ta nên làm thế nào thì vẫn làm thế ấy, chưa bao giờ vì chịu sự đối đãi bất công mà trả thù người ta. Cuối cùng trong mắt cha mẹ, Ta được gọi là gì? Cha mẹ bảo là Ta có tâm hồn cao thượng. Đến bây giờ Ta vẫn nhớ rất rõ câu nói này. Đây là nguyên tắc của Ta trong chuyện đối đãi với người ta, đến bây giờ vẫn không thay đổi. Ta không chỉ làm như vậy trong gia đình, mà sau này, khi đến các hội thánh khác nhau và tiếp xúc với các anh chị em, nguyên tắc này của Ta cũng không thay đổi. Các ngươi nói xem, chuyện này có phải do thực chất nhân tính quyết định không? (Thưa, phải.) Các ngươi có thể đạt đến chuyện này không? (Thưa, không thể.) Khó, đúng không? Có vắt kiệt sức lực, ngươi cũng không thể đạt đến. Người ta cứ phải tranh mặt mũi, cứ phải tranh luận xem ai có lý, nhưng lại quên mất ranh giới và nguyên tắc làm người, chưa bao giờ có ai tuân thủ ranh giới và nguyên tắc làm người. Tại sao không có ai tuân thủ? Bởi vì sự sống bên trong con người không có nhân tính bình thường và không có nguyên tắc. Sự sống của con người là tâm tính bại hoại, là thứ đến từ Sa-tan. Bất kể ngươi làm việc gì, thì nguyên tắc chi phối và chỉ dẫn hành vi của ngươi luôn mãi đến từ tâm tính bại hoại. Bất kể ngươi nói lý lẽ gì, bất kể căn cứ cho hành động của ngươi là gì, thì chúng đều đến từ tâm tính bại hoại. Cho nên, nhân loại bại hoại mà muốn làm được việc qua lại với người khác theo nguyên tắc thì quá khó. Ngươi xem, những chuyện trong cuộc sống mà Ta nói đến, có phải nghe rất bình thường không? Nhưng giữa nhân loại bại hoại, làm như vậy lại được xác định tính chất là tâm hồn cao thượng. Nghĩa là người bình thường không có và không thể đạt đến tâm hồn cao thượng này, chuyện khiêm nhường lại càng không có. Họ căn bản không thể đạt đến việc qua lại với người khác theo nguyên tắc, bởi vì trong nhân tính bại hoại không có những điều này. Không phải là họ không giữ được nguyên tắc, mà là họ không có nguyên tắc. Bất kể nói chuyện, làm việc hay gặp phải chuyện gì, tâm tính bại hoại của ngươi đều bộc lộ ra. Sở thích, tình cảm, hứng thú, hư vinh, thể diện, danh lợi, địa vị, dã tâm và dục vọng cá nhân, thậm chí lòng muốn trả thù và trừng trị người khác của ngươi đều bộc lộ ra hết. Những thứ này làm chủ, chi phối lời nói và hành động của ngươi, như vậy cho thấy những tâm tính bại hoại này đã chiếm hết lòng ngươi rồi. Cho nên khi gặp chuyện bị thiệt thòi, ngươi không nuốt trôi được cục tức này, nhất định phải tranh cao thấp, hơn thua với người ta mới chịu. Cuối cùng thì sao? Để giành lại thể diện, để giành lại mặt mũi, để bảo vệ lợi ích của mình, ngươi có thể vượt qua ranh giới của lương tâm, phát điên đến mức bệnh hoạn mà tranh với đối phương, đấu với đối phương, thậm chí trả thù người ta theo kiểu không từ thủ đoạn và không có giới hạn. Khi trả thù thì ngươi chửi đến mức đỏ cả mắt, càng chửi càng thấy chưa hết hận, càng chửi càng giận, càng chửi càng thù hận sâu sắc, rồi ngươi sẽ động thủ. Một khi động thủ rồi thì đã kết thành thù hận, không thể cứu vãn và không còn đường lùi nữa rồi. Cho nên, chuyện trả thù về cơ bản là thứ riêng biệt của nhân loại bại hoại. Ngươi có thể trả thù người ta thì chứng tỏ lương tâm và lý trí của ngươi không kiểm soát được bản thân ngươi. Hơn nữa, có một số người căn bản không có lương tâm và lý trí. Cho nên khi gặp chuyện gì, chỉ cần nó làm tổn hại đến lợi ích của ngươi hoặc làm tổn thương thể diện của ngươi, thì ngươi chẳng những không thể đối đãi dựa theo nguyên tắc, mà còn không từ thủ đoạn để trả thù người ta, vượt qua ranh giới của lương tâm, vượt qua ranh giới của đạo đức mà trả thù người ta, thậm chí còn cho rằng mình trả thù là cực kỳ có lý. Ngươi cứ luôn dùng việc ác để thay thế nguyên tắc lẽ thật và thay thế nguyên tắc làm người, sống thể hiện ra bộ mặt và dáng vẻ của quỷ, vậy mà ngươi còn cảm thấy mình thắng rồi, chiếm được lợi rồi. Thực ra Đức Chúa Trời nhìn nhận chuyện này thế nào? Dạng hành vi nào và cách làm người nào là điều tích cực trong mắt Đức Chúa Trời, là điều được Đức Chúa Trời công nhận? Đây mới là điều then chốt nhất và quan trọng nhất. Nhìn bề ngoài, có những người vì rất lanh lợi, giỏi ăn nói, biết bảo vệ hư vinh và thể diện của mình, biết tìm cơ hội trả thù người khác, biết càn quấy và giở trò vô lại, cho nên gặp chuyện gì họ cũng không chịu thiệt, còn có thể hưởng sự an nhàn và không chịu bất kỳ đau khổ nào. Ai chọc giận họ, làm tổn thương họ, thì họ đều có thể đánh trả, vừa giành được thể diện vừa giành được lợi ích thực tế, không bao giờ để thể diện của mình chịu tổn hại. Nhưng họ chẳng bao giờ tiếp nhận lẽ thật, chẳng bao giờ đối đãi với người ta theo nguyên tắc, thậm chí còn có thể hành động vượt quá ranh giới của lương tâm và đạo đức. Trả thù người ta và làm người ta tổn thương để bảo vệ thể diện và lợi ích của mình, đây đều là việc ác trong mắt Đức Chúa Trời. Tuy ngươi bảo vệ được hư vinh và thể diện của mình, cũng giữ được lợi ích xác thịt của mình, nhưng ngươi chẳng bao giờ làm người và đối đãi với người khác theo nguyên tắc được Đức Chúa Trời dạy, vậy trước mặt Đức Chúa Trời, Ngài nhìn nhận thế nào? Trước mặt Đức Chúa Trời, ngươi chưa bao giờ nhận được sự khen ngợi của Ngài. Ngươi quá lanh lợi, quá giỏi tính kế rồi. Ngươi tranh thể diện, tranh lợi ích thực tế, tranh lợi ích cá nhân, tranh chút mặt mũi. Để bảo vệ hư vinh và thể diện, ngươi chẳng bao giờ để vào lòng những nguyên tắc làm người Đức Chúa Trời dạy ngươi, cũng chẳng bao giờ tuân thủ chúng. Cho nên, nhìn bề ngoài, thì có một số người không chịu chút tổn thất lợi ích xác thịt nào, dường như họ sống đặc biệt thành công, đặc biệt tuyệt vời, đặc biệt có thể diện, nhưng lẽ thật mà Đức Chúa Trời muốn ban cho nhân loại làm sự sống ở trong lời Ngài thì họ chẳng có chút nào, họ không đạt được điều này. Họ cũng không có ngộ tính, họ ngộ không ra và hiểu không được điều này. Đây chẳng phải sự sống người ta chịu tổn thất sao? (Thưa, phải.) Họ không đạt được lẽ thật, sự sống chịu tổn thất, Đức Chúa Trời không ban phúc cho họ, vậy mà họ còn cảm thấy mình khá thông minh, còn cảm thấy mình chẳng mất mát gì. Dạng người này là ngu xuẩn nhất!

Từ nguyên tắc của Đức Chúa Trời nhập thể trong chuyện đối đãi với người ta, có phải các ngươi lại hiểu thêm được một chút về cách Ta làm người trong cuộc sống thường nhật không? (Thưa, phải.) Vậy về chuyện cần tuân thủ nguyên tắc gì khi đối đãi với người ta, có phải các ngươi cũng đã hiểu rõ hơn một chút rồi không? (Thưa, phải.) Ngay cả khi có người cảm thấy ngươi là người yếu đuối, nhu nhược, dễ ức hiếp, và ngươi có thể cảm nhận được rằng họ nghĩ như vậy, họ cũng đối đãi với ngươi như vậy, nhưng ngươi vẫn có thể tuân thủ nguyên tắc đối đãi công bằng với người ta. Nếu có thể giúp thì ngươi thông công lẽ thật để giúp họ, nếu họ không phải là người tiếp nhận lẽ thật, cũng không phải là người yêu thích điều tích cực, thì ngươi vẫn có thể dựa theo nguyên tắc mà đối đãi với họ một cách đúng đắn. Bất kể vào lúc nào, xét từ phương diện tổng thể, Ta đều tin chắc rằng Đức Chúa Trời tể trị hết thảy, tể trị số phận của nhân loại. Trong lòng Ta chắc chắn rằng số phận của nhân loại, số phận của mỗi một người đều nằm trong tay Đức Chúa Trời, không một người nào có thể thoát khỏi sự tể trị và sắp đặt của Đức Chúa Trời, cũng không một người nào có thể thoát khỏi sự dò xét của đôi mắt Đức Chúa Trời. Xét từ phương diện nhỏ hơn, thì nhà Đức Chúa Trời là nơi lời Đức Chúa Trời nắm quyền, là nơi lẽ thật nắm quyền. Nói cụ thể hơn nữa, nhà Đức Chúa Trời có sắc lệnh quản trị, hội thánh có quy định và mỗi thời kỳ đều có sự sắp xếp công tác. Khi đối đãi với các loại người, nhà Đức Chúa Trời sẽ làm hết sức để xử lý họ theo nguyên tắc lẽ thật, không bỏ sót bất kỳ ai đáng bị thanh trừ, đáng bị xử lý. Kẻ địch lại Đấng Christ, kẻ ác, kẻ chẳng tin, người không yêu thích lẽ thật, người có nhân tính kém, người không mưu cầu lẽ thật, họ đều là những đối tượng bị đào thải trong mắt Đức Chúa Trời. Những người này sớm muộn gì cũng sẽ bị đào thải và thanh trừ. Còn những người thực sự mưu cầu lẽ thật, ít ra là những người cam lòng đem sức lực phục vụ Đức Chúa Trời và có nhân tính tạm chấp nhận được, thì sẽ tiếp tục làm bổn phận của loài thọ tạo trong nhà Đức Chúa Trời. Thế giới nhân loại thì có Đức Chúa Trời tể trị, về phần hội thánh thì nhà Đức Chúa Trời có quy định quản trị và nguyên tắc lẽ thật. Cho nên trong chuyện đối đãi với người ta thì cứ căn cứ vào hai nguyên tắc này. Phương diện này đã rõ rồi phải không? (Thưa, đã rõ rồi.) Còn về chuyện tiếp xúc và qua lại với những người nào đó trong cuộc sống, nếu gặp phải một số chuyện không vui hoặc có người nói chuyện mà không đồng quan điểm với Ta, thì Ta cũng sẽ đối đãi một cách đúng đắn. Nếu sau đó Ta ngẫm nghĩ, phản tỉnh, và xác minh chuyện này, rồi xác định là ngươi nói đúng, thì Ta sẽ tiếp nhận, nếu ngươi nói không đúng, Ta cũng sẽ đối đãi với ngươi theo nguyên tắc. Nếu trong quá trình Ta qua lại với ngươi mà chúng ta có va chạm, có mâu thuẫn hay là có chuyện không vui, mà chuyện đó lại liên quan đến lẽ thật, liên quan đến công tác của hội thánh, liên quan đến tâm tính bại hoại của cá nhân ngươi, thì khi có cơ hội, Ta sẽ thông công với ngươi, để ngươi hiểu lẽ thật và thấy rõ vấn đề tồn tại nơi mình. Nếu Ta không có cơ hội hoặc không cần thiết phải thông công với ngươi, mà bản thân ngươi sẵn lòng tìm kiếm thì ngươi có thể tìm kiếm. Nếu tâm tính ngươi khá kiêu ngạo hoặc ngươi nói năng vô lễ ngay trước mặt Ta và mạo phạm Ta, thì ngươi cứ yên tâm, Ta sẽ đối đãi với ngươi theo nguyên tắc. Ta tuyệt đối sẽ không vì ngươi mạo phạm Ta hoặc từng mạo phạm Ta, mà tỉa sửa ngươi một trận, Ta không làm chuyện như vậy. Nếu ngươi mạo phạm Ta, thì Ta phải xem ngươi cố ý hay vô ý. Nếu ngươi vô ý, Ta sẽ coi như chuyện đó chưa từng xảy ra, Ta coi như ngươi ngu muội, không có lý tính, nói mà không suy nghĩ, nói xong cũng không biết lời mình nói có tính chất gì, không biết mình đang nói gì, chỉ là nói nhăng nói cuội thôi. Còn nếu ngươi cố ý, thì Ta phải thông công và thảo luận chuyện này với mọi người, để xem ngươi chỉ có cách nghĩ và cách làm này đối với một mình Ta, hay là đối với nhiều người, đối với hội thánh và nhà Đức Chúa Trời, ngươi đều có ý thù địch như vậy, Ta phải tìm hiểu cụ thể đây là trường hợp nào. Nếu ngươi chỉ có ý thù địch với một mình Ta, thì Ta sẽ quan sát ngươi, trước hết cho ngươi cơ hội hối cải, còn phải xem rốt cuộc ngươi là loại người nào. Nếu ngoài có ý thù địch với Ta, ngươi còn thù địch với nhà Đức Chúa Trời, với hội thánh, với tất cả các anh chị em, luôn muốn xem nhà Đức Chúa Trời trở thành trò cười, cũng luôn muốn xem Ta trở thành trò cười, nếu lúc con rồng lớn sắc đỏ và giới tôn giáo tung tin đồn bịa đặt về Ta mà ngươi vỗ tay tán thưởng, hơn nữa còn lan truyền những lời đó giữa các anh chị em, cố ý phỉ báng Ta và mê hoặc các anh chị em, thì Ta cũng sẽ hành động theo nguyên tắc. Ta sẽ không trả thù ngươi, Ta sẽ xử lý ngươi theo sắc lệnh quản trị của nhà Đức Chúa Trời, công bằng và hợp lý. Ta sẽ bảo các lãnh đạo và người làm công tra sắc lệnh quản trị, bảo người được Đức Thánh Linh sử dụng phân định và xử lý chuyện này, cuối cùng xử lý thế nào thì Ta giao cho hội thánh, giao cho nhà Đức Chúa Trời. Ta làm việc theo nguyên tắc, ngươi cứ yên tâm, Ta đối đãi với người ta thì tuyệt đối công bằng. Nếu họ là người tốt thật lòng tin Đức Chúa Trời và mưu cầu lẽ thật thì họ nhất định sẽ được giữ lại trong nhà Đức Chúa Trời. Nếu họ là kẻ ác, có ý thù địch với nhà Đức Chúa Trời và Đức Chúa Trời, là kẻ thuộc về Sa-tan, là ác ma, thì nhà Đức Chúa Trời tuyệt đối sẽ không tha cho một ai. Hiểu rồi chứ? (Thưa, đã hiểu.) Nếu ngươi thuộc loại kẻ địch lại Đấng Christ, kẻ ác, ác ma hoặc sai dịch của Sa-tan, thì Ta cũng sẽ hành động theo nguyên tắc, Ta sẽ không đổ oan cho ngươi. Ta phải tìm hiểu xem ngươi vô ý mạo phạm Ta, hay là ngươi có ý kiến và cách nhìn nhận tiêu cực về Ta, vì tướng mạo của Ta không bắt mắt, bề ngoài thì phổ thông và bình thường, không cao lớn, cũng không có bối cảnh gì, xuất thân thấp kém và chỉ là một người thông thường, nên ngươi coi thường Ta, liên tiếp xúc phạm Ta và nói những lời bất kính, hay là ngươi có ý nghĩ không tốt và có ý thù địch đối với toàn bộ hội thánh và nhà Đức Chúa Trời. Ta phải tìm hiểu rõ về ngươi. Sau khi ngươi mạo phạm Ta, Ta phải xem khi ở sau lưng, ngươi có thái độ thế nào đối với hội thánh, đối với các anh chị em, đối với bổn phận và đối với các công tác khác nhau của nhà Đức Chúa Trời. Khi đã hiểu chính xác rồi, Ta sẽ xử lý ngươi theo nguyên tắc, tuyệt đối sẽ không đổ oan cho ngươi, ngay cả khi ngươi bị thanh trừ thì cũng không phải là chịu oan, nhà Đức Chúa Trời tuyệt đối sẽ xử lý chính xác. Nhưng trước khi xử lý ngươi, Ta tuyệt đối sẽ không nói một cách chủ quan: “Thanh lọc họ ra khỏi hội thánh!”. Ta tuyệt đối không làm chuyện như vậy. Ta chiếu theo trình tự của nhà Đức Chúa Trời mà tìm hiểu, điều tra, xử lý và giải quyết chuyện này, cuối cùng làm sao cho mọi người đều công nhận rằng chuyện này được xử lý hợp nguyên tắc. Các ngươi có thể nhìn vào những người bị tước bổn phận, bị xử lý, bị thanh trừ, và xem cách nhà Đức Chúa Trời xử lý họ có liên quan gì đến thái độ của họ đối với Ta hay không. Ngoài ra, có một số người tin Đức Chúa Trời đã mấy năm mà nói chuyện với Ta vẫn như người ngoại đạo, Ta nghe mà cảm thấy chán ghét trong lòng, nhưng Ta không tỉa sửa họ ngay trước mặt, cũng chưa từng trừng trị họ. Còn có một số người trẻ tuổi bồng bột, nói chuyện với ai cũng giở giọng “Này, này”, không biết lớn nhỏ, giống như người chẳng biết lễ phép là gì, Ta cũng chưa từng tỉa sửa họ, Ta chưa từng làm những chuyện như vậy. Tóm lại, bất kể các ngươi đã tin Đức Chúa Trời trong thời gian dài hay ngắn, có nền tảng hay chưa, bất kể nhân tính của các ngươi thế nào, bất kể các ngươi làm bổn phận gì, cũng bất kể Ta tiếp xúc và qua lại với các ngươi chỉ một lần hay nhiều lần, thì ít nhiều Ta đã nắm rõ và có cái nhìn về thực chất bản tính của các ngươi, thậm chí Ta còn xác định tính chất một số người cá biệt. Chuyện Ta có cái nhìn và nắm rõ thì không liên quan đến kết cục, nhưng chuyện Ta xác định tính chất họ thì liên quan đến kết cục của họ. Họ có dạng biểu hiện và sự bộc lộ như vậy, thì Ta đã có nguyên tắc để đối đãi với họ và đã xác định tính chất họ. Mặc dù Ta có nguyên tắc và đã xác định tính chất, nhưng các ngươi có thấy Ta xử lý người nào chưa? Ta chưa từng xử lý ai, Ta chờ sự tể trị và sự an bài của Đức Chúa Trời. Ngoài ra, những chuyện này Ta đều giao cho hội thánh, hội thánh sẽ xử lý họ theo nguyên tắc. Các ngươi xem nguyên tắc của Ta trong chuyện đối đãi với người ta thế nào? (Thưa, phù hợp với nguyên tắc lẽ thật, tức là hết thảy đều do Đức Chúa Trời tể trị và an bài.) Đúng vậy, hết thảy đều do Đức Chúa Trời tể trị và an bài, hết thảy đều để Đức Chúa Trời tể trị và an bài. Nguyên tắc của phương diện này cũng liên quan đến việc thuận phục lẽ thật, thuận phục sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời. Ngươi không những phải có ý thức và thái độ như vậy, mà còn phải làm như vậy và thực hành như vậy.

Đức Chúa Trời nhập thể có sự sống của Đức Chúa Trời, có thực chất thần tính làm sự sống. Nguyên tắc, quan điểm, cách thức và phương pháp của Ngài khi làm mọi việc, trước hết đều không thể trái với nguyên tắc lẽ thật. Bất kể tính cách và phương thức biểu đạt của nhân tính bình thường của Ngài thế nào, bất kể Ngài sống giữa tập thể nào, tóm lại nguyên tắc Ngài tuân theo trước hết là không thể trái với nguyên tắc lẽ thật, là tương hợp với sự sống của Đức Chúa Trời và tương hợp với thực chất của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời nhập thể dạy các ngươi làm người thế nào, thì trước hết bản thân Ngài chính là người như vậy, vì Ngài sống thể hiện ra như vậy và có thực chất như vậy, thì Ngài mới có thể dạy các ngươi làm người như vậy. Chỉ xét về điểm này thôi, thì xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể có đầy đủ năng lực và điều kiện để đưa các ngươi lên con đường nhân sinh đúng đắn, đưa các ngươi lên con đường dẫn đến sự cứu rỗi, đưa các ngươi đến trước mặt Đức Chúa Trời, khiến các ngươi có thái độ thuận phục Đức Chúa Trời và có lòng thuận phục Đức Chúa Trời. Nếu các ngươi có thể thực hành, có thể đạt được những lời Ta nói và những bài Ta giảng, thì những lời này đủ để khiến các ngươi thoát khỏi tâm tính bại hoại, trở thành người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác. Bởi vì xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể sống trong nhân tính bình thường và sống trong cuộc sống thực tế, mặc dù với phương thức sống và hình thức tồn tại như vậy thì sẽ có hạn chế khi tiếp xúc với con người, nhưng trong quá trình tiếp xúc với những tập thể người có giới hạn đó, các nguyên tắc đủ mọi mặt mà Ngài tuân theo trong cách đối đãi với người ta không có mâu thuẫn hay xung đột gì với những nguyên tắc làm người mà Đức Chúa Trời dạy cho nhân loại, thay vào đó hai điều này tương hợp với nhau. Do đó, đối với sự bộc lộ của nhân tính bình thường hay sự bộc lộ của tâm tính bại hoại nơi các loại người, bất kể chúng có mạo phạm, có động chạm đến bản thân Ta hay không, bất kể chúng có phù hợp với tính cách, ý thích hoặc cảm nhận lúc đó của bản thân Ta hay không, Ta đều có thể đối đãi với ngươi một cách đúng đắn. Nếu ngươi luôn nghi ngờ Ta, đề phòng Ta, tính kế với Ta, hoặc luôn cho rằng Ta đang tính kế với ngươi, thì Ta cũng có thể đối đãi với ngươi một cách đúng đắn. Bất kể ngươi bộc lộ dạng tâm tính bại hoại nào, dù là ngươi nói dối, ngươi nghi ngờ Ta, phỏng đoán về Ta, hay là ngươi đề phòng Ta, luôn muốn né tránh Ta, hoặc trong lòng ngươi tính kế với Ta, thì Ta đều có thể đối đãi với ngươi một cách đúng đắn. Ta tuyệt đối sẽ không dùng cách thức của ngươi để trả thù ngươi, sẽ không lấy mắt đền mắt, răng đền răng. Ngay cả khi Ta biết ngươi đang nghĩ gì, muốn tính kế với Ta thế nào, đối đãi với Ta thế nào, ngay cả khi Ta thấy được ánh mắt ngươi nhìn Ta rất không có thiện chí, thì Ta cũng có thể đối đãi với ngươi một cách đúng đắn. Ngươi cứ yên tâm, Ta tuyệt đối sẽ không trả thù ngươi. Cũng có thể ngươi cảm thấy Ta không trả thù ngươi là muốn tìm cơ hội để lợi dụng ngươi, là đang tính kế với ngươi, vậy thì ngươi nghĩ sai rồi, đó là ngươi đang phỏng đoán về Ta. Ta đã nói cho các ngươi về nguyên tắc của Ta trong chuyện đối đãi với người ta. Các ngươi đã hiểu thêm về con người Ta rồi phải không? (Thưa, phải.) Vậy có phải Ta rất dễ qua lại không? Trong mắt mọi người, có phải Ta rất dễ đối phó không? (Thưa, Đức Chúa Trời chân thành với chúng con, chúng con nên đối đãi thành thật với Đức Chúa Trời mới được.) Nguyên tắc này đúng. Nhưng nếu ngươi không thể đối đãi thành thật, ngươi nói xem Ta có tỉa sửa ngươi, vạch trần hết chuyện không hay trong quá khứ của ngươi không? (Thưa, không.) Trong lòng Ta có ấn tượng không tốt về ngươi, Ta nghĩ bụng rằng người này nhiều tâm cơ, nói chuyện ấp a ấp úng như nặn kem đánh răng ra từng chút, không chân thật với người khác. Dù trong lòng Ta có ấn tượng không tốt về ngươi, thì Ta cũng sẽ không trừng trị ngươi. Nếu ngươi làm bổn phận ở trong nhà Đức Chúa Trời, mà đa số mọi người phản ánh là ngươi vẫn chấp nhận được, chỉ là tâm tính có chút giả dối, không chân thật với Ta, trước mặt Ta còn luôn khoe khoang và phô trương, thì Ta vẫn có thể đối đãi đúng đắn với ngươi và cho ngươi cơ hội để dần dần biến đổi. Tuyệt đối sẽ không có chuyện Ta nhìn thấy các ngươi bộc lộ tâm tính bại hoại gì đó rồi nói: “Thấy có gì chướng mắt là Ta không bỏ qua được đâu. Ngươi có tâm tính bại hoại gì, Ta nhìn một cái là thấu hết. Nếu ngươi không tin, Ta sẽ vạch trần những gì ngươi nghĩ trong lòng, xem Ta nói có đúng không”, Ta không làm những chuyện như vậy. Ta sẽ tiếp cận đúng đắn với những biểu hiện của các loại tâm tính bại hoại trong nhân loại, bao gồm lời nói, hành vi, tư tưởng và quan điểm. Nếu ngươi là người mưu cầu lẽ thật và yêu thích điều tích cực, thì ngươi sẽ chiếu theo nguyên tắc lẽ thật mà từng bước thay đổi những tâm tính và tình trạng bại hoại này của mình; nếu ngươi không phải là người mưu cầu lẽ thật, thì có cưỡng ép chăm tưới cho ngươi cũng vô ích, ngươi sẽ không thay đổi. Ngươi có lễ độ, có lịch sự trước mặt Ta bao nhiêu cũng vô ích, như vậy cũng không thay thế được chuyện ngươi thực hành lẽ thật, không thay thế được chuyện ngươi thuận phục lẽ thật. Bất kể trước mặt Ta, ngươi lễ độ hay không lễ độ, Ta đều sẽ đối đãi với ngươi một cách đúng đắn. Trước đây có một số người vì vóc giạc nhỏ và không hiểu lẽ thật, nên khi qua lại và trao đổi với Ta, đã bộc lộ rất nhiều tâm tính bại hoại, cũng biểu hiện rất nhiều sự phản nghịch và chống đối, nhưng sau đó họ đã hối hận, đã quay đầu, mấy năm sau họ hiểu được một số lẽ thật và đã biến đổi. Một dịp tình cờ nhà Đức Chúa Trời lại đề bạt họ, Ta nghe nói họ được đề bạt, thì trong lòng Ta còn khá vui mừng. Ngươi thấy đấy, Ta có phải là người không ghi thù không? (Thưa, phải.) Ta vẫn có thể đối đãi với họ một cách đúng đắn, Ta cũng không nói: “Trước đây ngươi không cung kính với Ta, những lời Ta nói ngươi đều không nghe, ngươi đã làm bao nhiêu chuyện khiến Ta đau lòng. Hôm nay ngươi lại được đề bạt, Ta phải cho ngươi biết rằng những chuyện trước đây ngươi làm Ta đều biết cả, đừng tưởng Ta đã quên”, Ta không làm những chuyện như vậy. Ngược lại, Ta an ủi họ, nói rằng: “Hãy mưu cầu cho tốt, đừng có bất kỳ gánh nặng tư tưởng nào”. Khi người ta có vóc giạc nhỏ và không hiểu lẽ thật, thì đều sẽ bộc lộ sự phản nghịch. Bởi vì con người sống dưới sự khống chế của tâm tính bại hoại, người nào trong lòng không có lẽ thật nắm quyền thì không thể làm chủ bản thân, lời nói và hành động của họ đều thân bất do kỷ, người sống theo tâm tính bại hoại là như vậy. Cho nên, các ngươi mưu cầu lẽ thật thì đừng có bất kỳ gánh nặng tư tưởng nào, Ta tuyệt đối sẽ không nhìn nhận bất kỳ người nào hay bất kỳ chủng tộc nào qua một lăng kính nhất định. Ta không nhìn xem ngươi có văn hóa hay không, Ta cũng không xem quá khứ của ngươi, Ta chỉ nhìn vào thực chất nhân tính và sự mưu cầu của ngươi, nhìn vào thái độ của ngươi đối với lẽ thật, thái độ của ngươi đối với Đức Chúa Trời và thái độ của ngươi đối với bổn phận. Nếu trước đây ngươi từng làm bổn phận qua loa chiếu lệ, từng gây ra một số tổn thất cho nhà Đức Chúa Trời, thậm chí hành ác, gây nhiễu loạn và gián đoạn trong quá trình làm bổn phận, mặc dù những chuyện đó Ta đều rõ mồn một và in sâu trong đầu, nhưng Ta sẽ không để những chuyện đó ảnh hưởng hoặc làm sai lệch cách Ta nhìn nhận ngươi. Ta sẽ nhìn nhận ngươi một cách tổng thể, dựa vào nguyên tắc lẽ thật mà nhìn nhận ngươi, xem hiện tại ngươi làm bổn phận thế nào, tiếp cận với bổn phận thế nào, có còn qua loa chiếu lệ như trước kia không. Trước đây ngươi không thể bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, thận trọng, dè dặt và làm một người dễ dãi, hiện giờ ngươi đã quay đầu, đã thay đổi chưa? Ngươi có thể thực hành được một chút lẽ thật theo nguyên tắc lẽ thật không? Trước đây luôn tham hưởng sự an nhàn xác thịt, hiện giờ ngươi có thể chịu khổ không? Ngươi có thật lòng tiêu hao bản thân không? Trong quá trình làm bổn phận, ngươi có thể tìm kiếm lẽ thật không? Ngươi có chút lòng trung thành hay chút lòng thành nào không? So với trước đây, ngươi có tiến bộ, có biến đổi chưa? Ta nhìn vào những điều này. Nếu trước đây ngươi luôn qua loa chiếu lệ, tham hưởng sự an nhàn, không bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, mà bây giờ ngươi vẫn như vậy, thì trong lòng Ta không có thiện cảm gì với ngươi. Nếu trước đây ngươi như vậy, tuy Ta có ấn tượng không tốt về ngươi, nhưng bây giờ ngươi đã thay đổi, thì Ta còn khá vui mừng, Ta còn phải an ủi ngươi, nói: “Sau này cứ mưu cầu như vậy. Trước đây vóc giạc ngươi quá nhỏ, ngươi còn trẻ không hiểu chuyện, toàn làm xằng làm bậy, đó đều là bài học cả. Ngươi nên mưu cầu lẽ thật để giải quyết sự qua loa chiếu lệ của mình, giải quyết những việc ác của mình. Như vậy ngươi mới có sự biến đổi thực sự”. Ta sẽ an ủi ngươi, khích lệ ngươi. Nếu có những kẻ ác, khi thấy ngươi biến đổi rồi thì lại đố kỵ với ngươi, ghét ngươi, không khách khí với ngươi mà nói: “Tôi phải vạch trần hết chuyện cũ của anh, phơi bày bộ dạng xấu xí trước đây của anh cho mọi người thấy, đừng tưởng tôi chẳng biết gì!”. Ngươi thấy đấy, nhân loại bại hoại thích tỏ ra thông minh, giở trò khôn vặt, thích có cảm giác tồn tại, thích vạch khuyết điểm của người ta, vạch hết chuyện cũ của người ta. Ta thực sự không làm những chuyện như vậy, Ta chưa bao giờ nói những lời như vậy với người ta. Ta chỉ cố gắng hết sức khích lệ và an ủi, để nội tâm họ cảm thấy bình an, cảm thấy mưu cầu lẽ thật là tốt. Nhìn thấy họ có một chút biến đổi là Ta phải khích lệ họ, để họ biết mình có tiến bộ, và cho họ chút động lực, chút lòng tin. Ngươi nói xem, Ta đối đãi với người ta như vậy có phải đều là hành động trong nguyên tắc không? (Thưa, phải.) Có phải là hành động theo tự nhiên hay theo huyết khí không? (Thưa, không có.) Có người nói: “Có phải trí nhớ Ngài không tốt không? Có phải Ngài không để tâm đến những chuyện này không? Có phải bẩm sinh Ngài đã rộng lượng không?”. Các ngươi nói xem, chuyện này có liên quan đến tính cách, sự rộng lượng hay trí nhớ không? (Thưa, không.) Cho dù bẩm sinh có rộng lượng đến đâu, có tính cách tốt đến đâu, nếu người ta sống dưới sự khống chế của tâm tính bại hoại thì cũng không đạt đến việc đối đãi với người khác theo nguyên tắc hoặc cho người khác cơ hội để đi lên con đường đúng đắn. Họ không thể đạt đến những điều này. Nhân loại bại hoại cùng lắm chỉ có thể nói: “Tôi không vạch khuyết điểm của anh đâu, không thì tôi sẽ bị người ta chê cười”. Họ làm vậy vì thể diện, vì ngại áp lực của dư luận trong thế gian, vì lo rằng làm người như vậy sẽ khiến người ta thấy mình lòng dạ hẹp hòi, không xứng là người quân tử. Để bảo vệ thể diện của mình, họ mới không vạch khuyết điểm của người ta, nhưng họ có thể chỉ cho người ta một số con đường đúng đắn không? (Thưa, không thể.) Đa số mọi người có thể làm được việc không trả thù người ta đã là không tệ rồi, nhưng bảo họ giúp đỡ người khác hoặc hy vọng người khác tốt lên thì họ không làm được. Cùng lắm là họ nghĩ: “Anh có được tốt đẹp hay không cũng chẳng liên quan gì đến tôi”. Có người ngoài miệng nói: “Tôi là bậc quân tử khiêm nhường, không thể trả thù người ta”, nhưng trong lòng lại nghĩ: “Chỉ mong cho anh không được tốt đẹp, anh mà được tốt đẹp thì trong lòng tôi chẳng dễ chịu, ngày nào anh chết, tôi mới vui!”. Miệng họ đầy nhân nghĩa đạo đức, nhưng nội tâm lại thâm hiểm, tàn độc. Ngoài miệng họ toàn nói những lời dễ nghe, nhưng trong lòng thì ác độc hơn ai hết, đây gọi là miệng nam mô bụng một bồ dao găm, giả nhân giả nghĩa. Ngươi xem, nhân loại bại hoại có thể làm được việc đối đãi với người khác theo nguyên tắc lẽ thật không? Nhân loại bại hoại nghĩ một đằng làm một nẻo. Bề ngoài, vì muốn người ta thấy mình đáng trọng, tao nhã và cao thượng, nên họ nói những lời dễ nghe, nhưng trong lòng họ lại không nghĩ như vậy, và họ âm thầm giở trò sau lưng. Cho nên, trong việc đối đãi với người ta, ngay cả khi người ngoại đạo không trả thù ngươi thì họ cũng không mong ngươi được tốt đẹp. Cách họ đối đãi với người ta không hợp với nguyên tắc lẽ thật. Họ nhìn thấy ngươi được tốt đẹp thì trong lòng khó chịu, đố kỵ. Còn khi nhìn thấy ngươi không được tốt đẹp, thì nếu có cơ hội, họ phải xát thêm muối vào vết thương của ngươi, thậm chí còn giẫm thêm mấy cái mới hả giận. Họ làm được việc không trả thù người ta là đã rất khó rồi, họ mà muốn làm được việc đối đãi với người ta có nguyên tắc thì càng khó hơn nữa, bởi vì họ không có nhân tính như vậy.

Đức Chúa Trời nhập thể trở nên một người bình thường. Cách Ngài đối đãi với người ta trong cuộc sống thường nhật ít nhất cũng ở trong phạm vi lương tâm và lý trí, tuyệt đối không thấp hơn tiêu chuẩn này, chỉ có thể cao hơn tiêu chuẩn này thôi. Đức Chúa Trời nhập thể đều dựa theo nguyên tắc lẽ thật để đối đãi với người ta, chuyện này thì khỏi cần phải nói. Bởi vì Ngài có thực chất thần tính, nên Ngài càng có thể đối đãi với ngươi theo nguyên tắc lẽ thật, tuyệt đối sẽ không trừng trị ngươi. Cũng như nhà Đức Chúa Trời đối đãi với các loại người, cách chức lãnh đạo và người làm công các cấp, điều chỉnh hoặc tước bỏ bổn phận của người ta, thanh lọc các loại người, v.v., tất cả những việc này đều được thực hành theo nguyên tắc, không phải dựa vào sở thích của một người nào đó để quyết định, mà đều được thông qua bởi đa số người trong hội thánh, cho nên lẽ thật tuyệt đối nắm quyền trong nhà Đức Chúa Trời, không sai chút nào. Người có nhân tính bình thường còn có thể hành động phù hợp với tiêu chuẩn trong lương tâm của người bình thường, nếu liên quan đến nguyên tắc lẽ thật thì họ vẫn có thể tuân thủ tiêu chuẩn trong lương tâm và lý trí của người bình thường, huống hồ là nhân tính bình thường mà Đức Chúa Trời nhập thể mặc lấy. Đối với những chuyện liên quan đến công tác hội thánh, liên quan đến việc làm bổn phận của các ngươi, liên quan đến tâm tính bại hoại của con người, thì Ngài lại càng có thể đối đãi với các ngươi theo nguyên tắc. Con người bình thường và thông thường là Ta đây, khi qua lại và tiếp xúc với các ngươi, bất kể Ta thông công lẽ thật thế nào, xử lý loại vấn đề nào, thì các ngươi nói xem, nhân tính bình thường này của Ta có đáng để các ngươi tin cậy không? (Thưa, đáng.) Các ngươi có cần dựng lên một tuyến phòng thủ để đề phòng Ta không? (Thưa, không cần.) Cho nên Ta nói cho các ngươi hay, khi nói chuyện và qua lại với Ta, ngươi chỉ cần đối đãi thành thật là được, bất kể Ta hiểu bao nhiêu hay hiểu cái gì về ngươi, Ta đều sẽ đối đãi với ngươi theo nguyên tắc. Bất kể ngươi có thái độ thế nào đối với Ta, Ta đều sẽ đối đãi với ngươi theo nguyên tắc, ngươi cứ yên tâm, không cần phải đề phòng Ta. Không nói đến thực chất thần tính và sự sống thần tính, chỉ riêng thực chất nhân tính có trong mặt bình thường và thực tế của con người bình thường là Ta cũng đủ để các ngươi tin cậy rồi. Bất kể đối thoại với Ta về bất kỳ chuyện gì, các ngươi không nên có tâm thái phức tạp, chỉ cần đơn thuần, cởi mở, có khó khăn gì thì cứ nói thẳng ra, không cần phải đề phòng Ta như đề phòng người xa lạ. Nếu ngươi cứ luôn đề phòng Ta, thì Ta nói cho ngươi một câu: Ngươi quá ngu xuẩn rồi, ngươi là kẻ đui mù! Ngươi không biết Ta làm công tác gì sao? Ngươi càng đề phòng Ta thì cuối cùng ngươi càng không đạt được lẽ thật, vậy chẳng phải ngươi đang làm lỡ dở và hủy hoại chính mình sao? Nếu ngươi cứ luôn nghi ngờ và đề phòng xác thịt của Đức Chúa Trời nhập thể, bất kể Ngài nói chuyện thế nào, thông công lẽ thật ra sao, ngươi vẫn luôn mang thái độ nghiên cứu, ngay cả khi đã thừa nhận đó là lẽ thật mà cũng không tiếp nhận, thì Đức Thánh Linh chẳng những không khai sáng hay ban phúc cho ngươi, mà ngược lại Đức Chúa Trời sẽ giấu mặt khỏi ngươi, không để ý đến ngươi nữa. Không tin thì ngươi cứ thử đi, xem có phải như vậy không. Ngươi qua lại với một con người bình thường có nhân tính bình thường là Ta, mà ngươi không có nguyên tắc, không biết cách qua lại thế nào, không biết cách đối đãi với Ta theo nguyên tắc Đức Chúa Trời dạy ngươi, vậy chẳng phải ngươi đối đãi với Đức Chúa Trời trên trời cũng như vậy sao? (Thưa, phải.) Nếu ngươi dùng cách như vậy để qua lại với Đức Chúa Trời trên trời thì hậu quả là gì? (Thưa, bị định tội, bị đánh giết.) Ngươi lại sai rồi, Đức Chúa Trời không tùy tiện đánh giết con người. Nhưng ngươi vĩnh viễn không có cơ hội và không có tư cách nhìn thấy chân thể của Đức Chúa Trời, đây là sự thật. Ngươi vĩnh viễn không có tư cách nhìn thấy chân thể của Đức Chúa Trời, ngay cả bóng lưng của Đức Chúa Trời ngươi cũng không nhìn thấy, điều này có nghĩa là gì? Nghĩa là Đức Chúa Trời vĩnh viễn không thừa nhận ngươi là loài thọ tạo của Ngài. Gióp nhìn thấy bóng lưng của Đức Giê-hô-va có nghĩa là gì? Áp-ra-ham nghe thấy tiếng từ chính miệng Đức Chúa Trời phán với mình có nghĩa là gì? (Thưa, Đức Chúa Trời khen ngợi ông.) Có nghĩa là ông có tư cách đối thoại với Đức Chúa Trời, đối thoại với Đức Chúa Trời trên trời, đối thoại với chân thể của Đức Chúa Trời, đối thoại với Thần của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời công nhận và thu nhận họ là loài thọ tạo của Ngài, Đức Chúa Trời thừa nhận họ là loài thọ tạo của Ngài, và Đức Chúa Trời đã thu phục họ. Ý nghĩa của chuyện này quá sâu sắc! Đức Chúa Trời sẵn lòng gặp họ, sẵn lòng đối thoại với họ, sẵn lòng để họ nghe thấy tiếng Đức Chúa Trời phán từ trên trời, sẵn lòng để họ nhìn thấy linh thể của Đức Chúa Trời, và sẵn lòng hiện ra với họ. Đối với nhân loại, đây là phúc lành lớn lao quá đỗi! Đây là vinh dự lớn lao vô cùng! Các ngươi có cầu mong được như vậy không? Có thể các ngươi không dám cầu mong, nhưng các ngươi phải có nguyện vọng này. Vậy muốn thực hiện nguyện vọng này thì phải thực hành thế nào? Trước hết phải bắt đầu thực hành từ cách đối đãi với Đức Chúa Trời nhập thể, con người thông thường và bình thường này. Ngươi nên qua lại với Ngài thế nào, đối đãi với Ngài thế nào? Khi nhìn thấy Ngài có hình tượng hữu hình, ngươi có thể giao tiếp một cách bình thường với Ngài, có thể tiếp nhận hết thảy về Ngài, có thể đạt đến việc đối đãi thành thật với Ngài, không có sự ngăn cách hay khó khăn khi giao tiếp và qua lại với Ngài, vậy thì trước mặt Đức Chúa Trời, ít nhất là trong mắt Ta, Ta sẵn lòng qua lại với ngươi, Ta không thấy ác cảm với ngươi. Vậy thì ngươi cũng có thể có cơ hội và có tư cách nghe thấy tiếng Đức Chúa Trời, nghe thấy tiếng chính miệng Đức Chúa Trời phán từ trên trời, nhìn thấy hình bóng của Đức Chúa Trời. Đương nhiên, hiện nay các ngươi còn cách mục tiêu này rất xa, Ta chỉ đang chỉ cho các ngươi một con đường thôi. Nếu các ngươi không vượt qua được ngay cả cửa ải là Ta, con người bình thường này, mà lại muốn nhìn thấy Đức Chúa Trời trên trời, thì Ta nói cho ngươi một câu: không có cửa đâu, mơ tưởng hão huyền thôi!

Được rồi, hôm nay chúng ta thông công đến đây thôi, tạm biệt!

Ngày 14 tháng 9 năm 2024

Trước: Cách mưu cầu lẽ thật (26)

Tiếp theo: Cách mưu cầu lẽ thật (28)

Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời Về việc biết Đức Chúa Trời Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ Chức trách của lãnh đạo và người làm công Về việc mưu cầu lẽ thật Về việc mưu cầu lẽ thật Sự phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời Những lời kinh điển từ Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Các thực tế lẽ thật mà người tin Đức Chúa Trời phải bước vào Theo Chiên Con và hát những bài ca mới Những chỉ dẫn cho việc truyền bá phúc âm của vương quốc Chiên của Đức Chúa Trời nghe tiếng của Đức Chúa Trời Lắng nghe tiếng Đức Chúa Trời thấy được sự xuất hiện của Đức Chúa Trời Những câu hỏi và câu trả lời thiết yếu về Phúc Âm của Vương quốc Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 1) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 2) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 3) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 4) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 5) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 6) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 7) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 8) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 9) Tôi đã quay về với Đức Chúa Trời Toàn Năng như thế nào

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này