Bài bàn thêm 3: Nô-ê và Áp-ra-ham đã lắng nghe lời Đức Chúa Trời và thuận phục Ngài như thế nào (Phần 2) Tiểu mục 1

Ở buổi nhóm họp lần trước, chúng ta đã thông công về điều thứ mười trong những sự thể hiện khác nhau của kẻ địch lại Đấng Christ: “Họ xem thường lẽ thật, ngang nhiên vi phạm các nguyên tắc và phớt lờ những sự sắp xếp của nhà Đức Chúa Trời”. Chúng ta đã thông công cụ thể về những nội dung nào? (Thưa, Đức Chúa Trời chủ yếu thông công về cách tiếp cận với lời Ngài.) Điều này có liên quan đến điều thứ mười không? (Thưa, có. Bởi vì trong điều “Họ xem thường lẽ thật, ngang nhiên vi phạm các nguyên tắc và phớt lờ những sự sắp xếp của nhà Đức Chúa Trời”, một trong những biểu hiện của kẻ địch lại Đấng Christ là họ chỉ lắng nghe nhưng không chịu phục, cũng không thuận theo lời của Đấng Christ. Họ không nghe lời Đức Chúa Trời, cũng không thực hành theo lời Ngài. Trong buổi nhóm họp lần trước, Đức Chúa Trời đã thông công về cách tiếp cận với lời Ngài, cách nghe lời Ngài, và sau đó là cách thực hiện và chấp hành lời Ngài.) Các ngươi hiểu mọi điều này rồi phải không? Trong buổi nhóm họp trước, Ta đã kể hai câu chuyện: một câu chuyện về Nô-ê, và một câu chuyện về Áp-ra-ham. Đây là hai câu chuyện kinh điển trong Kinh Thánh. Rất Nhiều người biết và hiểu về những câu chuyện này, nhưng rất ít người sau khi hiểu được chúng rồi thì biết được cách tiếp cận những lời và yêu cầu của Đức Chúa Trời. Vậy, mục đích chính của việc chúng ta thông công về hai câu chuyện này là gì? Đó là để khiến mọi người biết được rằng, với tư cách là một con người và một loài thọ tạo, họ nên tiếp cận những lời và yêu cầu của Đức Chúa Trời như thế nào – và về vị trí mà một loài thọ tạo nên đứng, và thái độ họ nên có, khi đối diện với những yêu cầu của Đức Chúa Trời và khi lắng nghe lời Đức Chúa Trời. Đây là những điều chính. Kể hai câu chuyện trong lần thông công trước chính là vì muốn người ta biết và hiểu lẽ thật này. Vì vậy, sau khi chúng ta đã thông công về hai câu chuyện này, các ngươi giờ đây đã rõ về cách thuận phục Đấng Christ và lắng nghe lời Ngài, về thái độ mà người ta nên có, về góc độ và vị trí mà họ nên đứng khi đối đãi với Đấng Christ và tiếp cận những lời do Đấng Christ phán, cũng như về cách người ta nên tiếp cận những lời và yêu cầu đến từ Đức Chúa Trời, và những lẽ thật nên được hiểu trong điều này chưa? (Thưa, điều thứ nhất là thẳng thắn với Đấng Christ, điều thứ hai là học cách tôn trọng Đấng Christ, và điều thứ ba là nghe lời, để tâm mà nghe lời Đức Chúa Trời.) Ngươi ghi nhớ các quy tắc rồi. Nếu Ta không nói về những quy tắc này, liệu các ngươi có thể đúc kết được chúng từ hai câu chuyện Ta đã kể không? (Thưa, chúng con chỉ đúc kết được một điều, đó là Đức Chúa Trời phán gì thì chúng con đều phải nghe.) Tất cả những gì các ngươi có thể đúc kết được là những cách hành động đơn giản, mang tính quy định và mang tính lý luận; các ngươi vẫn không hiểu, không biết được những lẽ thật mọi người nên tìm kiếm và hiểu nằm bên trong điều này. Vậy, hôm nay, chúng ta hãy thông công chi tiết câu chuyện của Nô-ê và Áp-ra-ham.

I. Thái độ của Nô-ê đối với lời Đức Chúa Trời

Đầu tiên chúng ta hãy nói về câu chuyện của Nô-ê. Ở buổi nhóm họp trước, chúng ta đã nói sơ lược về những nguyên nhân và hậu quả trong câu chuyện về Nô-ê. Tại sao chúng ta chỉ nói sơ lược? Bởi vì hầu hết mọi người đều đã biết những nguyên nhân, hậu quả và các tình tiết cụ thể của câu chuyện này. Nếu có bất kỳ chi tiết nào ngươi không rõ lắm, ngươi có thể tra khảo chúng trong Kinh Thánh. Những gì chúng ta sẽ thông công hôm nay không phải là những chi tiết cụ thể của câu chuyện này, mà là về việc Nô-ê, nhân vật chính của câu chuyện, đã tiếp cận lời Đức Chúa Trời như thế nào, những lẽ thật nào mà người ta nên hiểu từ câu chuyện này, và, sau khi Đức Chúa Trời đã nhìn thấy mọi việc mà Nô-ê làm, thì thái độ, tâm tư, và sự đánh giá của Ngài về Nô-ê thế nào. Đây là nội dung chi tiết mà chúng ta nên thông công. Thái độ của Đức Chúa Trời đối với Nô-ê và sự đánh giá của Ngài về những gì Nô-ê đã làm đủ để cho chúng ta hiểu rõ những tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời yêu cầu ở nhân loại, ở những người theo Ngài và ở những người Ngài cứu rỗi rốt cuộc là gì. Trong chuyện này có lẽ thật nào để tìm kiếm không? Cái gì có lẽ thật để tìm kiếm thì cái đó đáng để mổ xẻ, suy ngẫm và thông công chi tiết. Chúng ta sẽ không nói lại các chi tiết cụ thể về câu chuyện Nô-ê. Những gì chúng ta sẽ thông công hôm nay là lẽ thật có thể tìm kiếm trong các thái độ khác nhau của Nô-ê đối với Đức Chúa Trời, cũng như những yêu cầu và tâm ý của Đức Chúa Trời mà người ta nên hiểu từ sự đánh giá của Đức Chúa Trời đối với Nô-ê.

Nô-ê là một thành viên bình thường của nhân loại, là người thờ phượng và đi theo Đức Chúa Trời. Khi lời Đức Chúa Trời đến trên ông, thái độ của ông không phải là chần chừ, trì hoãn hay thủng thẳng. Thay vào đó, ông lắng nghe lời Đức Chúa Trời hết sức nghiêm túc, ông lắng nghe mọi câu mọi chữ mà Đức Chúa Trời phán một cách hết sức cẩn thận và để tâm, chú tâm lắng nghe và ghi nhớ mọi điều Đức Chúa Trời đã lệnh cho ông, không dám lơ là bất kỳ điều gì. Trong thái độ của ông đối với Đức Chúa Trời và với lời Đức Chúa Trời có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, đều cho thấy rằng Đức Chúa Trời có địa vị trong lòng ông, và rằng ông thuận phục Đức Chúa Trời. Ông đã chăm chú lắng nghe xem Đức Chúa Trời phán gì, nội dung trong lời Đức Chúa Trời là gì, và Đức Chúa Trời bảo ông làm gì. Ông chú tâm lắng nghe – không phải để phân tích, mà là để tiếp nhận. Trong lòng ông không có sự cự tuyệt, ác cảm hay thấy phiền gì cả; thay vào đó, ông bình tĩnh, chăm chú và để tâm ghi nhớ mỗi một câu, mỗi một chuyện mà Đức Chúa Trời yêu cầu ở ông. Sau khi Đức Chúa Trời dặn dò điều gì, Nô-ê đều dùng phương thức của mình mà ghi lại thật chi tiết mọi điều Đức Chúa Trời đã phán và giao phó cho ông. Sau đó, ông gác lại công việc của mình, phá vỡ các thói quen thường nhật và kế hoạch sinh hoạt vốn có của mình, và bắt đầu chuẩn bị cho tất cả những gì Đức Chúa Trời đã giao phó cho ông làm, bắt đầu chuẩn bị mọi vật tư cần thiết cho chiếc tàu mà Đức Chúa Trời yêu cầu ông đóng. Ông không dám lơ là bất kỳ lời nào của Đức Chúa Trời, bất kỳ điều gì Đức Chúa Trời yêu cầu, hoặc bất kỳ chi tiết nào về những gì được yêu cầu ở ông trong lời Đức Chúa Trời. Bằng phương thức riêng của mình, ông đã ghi lại những điểm chính và chi tiết về tất cả những gì Đức Chúa Trời yêu cầu và giao phó cho ông, sau đó suy ngẫm và cân nhắc về chúng, hết lần này đến lần khác. Tiếp theo, Nô-ê đi tìm mọi vật liệu mà Đức Chúa Trời bảo ông chuẩn bị. Đương nhiên, sau mỗi lời dặn dò mà Đức Chúa Trời ban cho ông, thì ông dùng cách riêng của mình mà lập kế hoạch và sắp xếp tường tận cho tất cả những gì Đức Chúa Trời đã ủy thác và dặn dò – rồi ông dựa vào các kế hoạch và sắp xếp của mình, cùng từng chi tiết cũng như từng bước riêng lẻ trong yêu cầu của Đức Chúa Trời mà thực hiện và chấp hành từng bước một. Trong suốt toàn bộ quá trình, mọi việc Nô-ê đã làm, dù lớn hay nhỏ, đáng chú ý hay không trong mắt con người, đều là những gì ông được Đức Chúa Trời dặn dò, và là những gì mà lời Đức Chúa Trời đã nói đến và yêu cầu. Từ tất cả những biểu hiện của Nô-ê sau khi ông tiếp nhận sự ủy thác của Đức Chúa Trời, rõ ràng là thái độ của ông đối với lời Đức Chúa Trời không đơn thuần là chỉ lắng nghe là xong – càng không phải là nghe rồi thì chọn thời điểm nào mình có tâm trạng tốt, hoàn cảnh thích hợp, hoặc thời cơ thuận lợi thì mới làm. Thay vào đó, ông gác lại công việc của mình, phá bỏ lệ thường trong cuộc sống của mình và đặt việc đóng chiếc tàu mà Đức Chúa Trời đã lệnh cho là đại sự lớn nhất trong cuộc sống và cuộc đời của ông kể từ đó trở đi, rồi thực hiện như vậy. Thái độ của ông đối với sự ủy thác của Đức Chúa Trời và lời Đức Chúa Trời không phải là hờ hững, chiếu lệ hay tùy theo ý riêng mình, càng không phải là thái độ cự tuyệt; thay vào đó, ông hết lòng lắng nghe lời Đức Chúa Trời, và để tâm ghi nhớ, suy ngẫm về chúng. Thái độ của ông đối với lời Đức Chúa Trời là thái độ tiếp nhận và thuận phục. Đối với Đức Chúa Trời, chỉ có như vậy mới là thái độ mà một loài thọ tạo đích thực nên có đối với lời Ngài. Trong thái độ này, không có sự kháng cự, sự chiếu lệ hay là tùy tiện làm càn, và nó cũng không bị lẫn tạp bởi ý định của con người; đó hoàn toàn là thái độ mà một loài thọ tạo nên có.

Sau khi tiếp nhận sự ủy thác của Đức Chúa Trời, Nô-ê bắt đầu lập kế hoạch đóng con tàu mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho ông. Ông đã tìm bằng được các vật liệu, con người và công cụ cần thiết khác nhau để đóng tàu. Đương nhiên, điều này liên quan đến rất nhiều thứ; nó không dễ dàng và đơn giản như câu chữ gợi lên. Trong thời đại tiền công nghiệp đó, một thời đại mà mọi thứ đều được làm bằng nhân lực, bằng đôi tay, thì có thể hình dung sẽ khó khăn đến thế nào để xây dựng một con tàu như thế, một thứ khổng lồ như thế và hoàn thành việc đóng tàu mà Đức Chúa Trời giao phó. Tất nhiên, cách Nô-ê lên kế hoạch, chuẩn bị và thiết kế như thế nào, cũng như việc tìm nguồn đủ loại vật liệu và công cụ khác nhau – những thứ này đều không đơn giản, có khả năng Nô-ê còn chưa bao giờ thấy một con tàu lớn đến thế. Sau khi tiếp nhận sự ủy thác này, nắm bắt được mọi ẩn ý trong lời Đức Chúa Trời, và nhìn nhận từ mọi điều Đức Chúa Trời đã phán, Nô-ê biết rằng đây không phải là chuyện đơn giản hay dễ dàng. Không đơn giản hay dễ dàng nghĩa là gì? Một mặt, nghĩa là sau khi tiếp nhận sự ủy thác này, Nô-ê sẽ có một trọng trách nặng nề trên vai. Hơn nữa, xét từ cách Đức Chúa Trời đích thân triệu gọi Nô-ê và đích thân dặn dò ông về cách đóng tàu, thì đây không phải là chuyện bình thường, đây không phải là chuyện nhỏ. Xét từ những chi tiết mọi câu chữ Đức Chúa Trời đã phán, đây không phải là chuyện mà bất kỳ người bình thường nào cũng có thể gánh vác được. Việc Đức Chúa Trời triệu gọi Nô-ê và giao phó việc này cho ông, cho thấy trong lòng Đức Chúa Trời đánh giá về ông như thế nào. Đối với chuyện này, tất nhiên Nô-ê có thể lĩnh hội được phần nào tâm ý của Đức Chúa Trời – và khi đã lĩnh hội được tâm ý của Đức Chúa Trời, Nô-ê biết cuộc sống mà ông sẽ đối mặt và ý thức được đủ loại khó khăn mà ông sẽ gặp phải trong thời gian sau này. Mặc dù Nô-ê lĩnh hội và ý thức được rằng việc Đức Chúa Trời giao phó cho ông có rất nhiều khó khăn, và ông sẽ phải đối mặt với những thử thách dữ dội, nhưng trong lòng ông không có ý định kháng cự, mà thay vào đó, lại cảm kích Giê-hô-va Đức Chúa Trời vô cùng. Tại sao Nô-ê cảm kích? Bởi vì Đức Chúa Trời đã bất ngờ giao phó một việc trọng đại đến thế cho ông, đã đích thân chỉ bảo và giải thích từng chi tiết cho ông. Quan trọng hơn nữa, Đức Chúa Trời cũng đã nói cho Nô-ê toàn bộ câu chuyện, từ đầu đến cuối, về lý do tại sao phải đóng tàu. Đây là một sự kiện trong kế hoạch quản lý của Đức Chúa Trời, là việc riêng của Đức Chúa Trời, và, vì Đức Chúa Trời đã nói với ông về chuyện này, mà Nô-ê đã cảm nhận được tầm quan trọng của nó. Tóm lại, xét từ những dấu hiệu khác nhau này, xét từ ngữ khí của Đức Chúa Trời, và các khía cạnh khác nhau trong chuyện mà Đức Chúa Trời truyền đạt cho Nô-ê, thì Nô-ê có thể cảm nhận được tầm quan trọng của việc Đức Chúa Trời giao phó cho ông đóng tàu, trong lòng ông lĩnh hội được và không dám coi nhẹ nó, cũng không dám bỏ qua bất kỳ chi tiết nào. Do đó, khi Đức Chúa Trời dặn dò xong, và sau khi Nô-ê đã lập kế hoạch xong, thì ông phải bắt tay vào chuẩn bị cho tất cả những việc để đóng tàu, tìm kiếm nhân lực, chuẩn bị đủ loại vật liệu, và, theo lời Đức Chúa Trời mà dần dần tập hợp nhiều loại sinh vật sống khác nhau lên tàu.

Toàn bộ quá trình Nô-ê đóng tàu đầy dẫy khó khăn. Tạm thời, chưa nói đến việc Nô-ê chịu đựng thế nào trước những gió quất mưa dầm nắng gắt, cái nóng thiêu đốt và cái lạnh buốt giá, bốn mùa luân chuyển, năm này qua năm khác. Trước tiên, chúng ta hãy nói về việc đóng tàu là công trình to lớn thế nào, về các loại vật liệu khác nhau phải chuẩn bị, và đủ loại khó khăn mà ông phải đối mặt trong quá trình đóng tàu. Những khó khăn này bao gồm những gì? Trái ngược với tưởng tượng của con người, có những công việc không phải làm một lần là có thể thành công, thay vào đó phải đối diện với nhiều lần thất bại. Sau khi hoàn thành một cái gì đó, nếu thấy không ổn, Nô-ê sẽ tháo rời nó ra, và sau khi ông tháo rời nó ra xong, ông sẽ phải chuẩn bị thêm vật liệu, và làm lại từ đầu. Không giống như ngày nay, khi mọi thứ đều được thực hiện bằng thiết bị điện tử, và một khi đã được thiết lập thì công việc sẽ được thực hiện theo một chương trình đã định sẵn. Người thời này mà làm những việc thủ công này thì đều dùng máy móc, chỉ cần khởi động máy thì tự nó có thể làm xong. Nhưng trong xã hội nguyên thủy của Nô-ê, làm gì cũng cần đến tay chân, làm gì cũng phải tự mình làm lấy, phải dùng đôi mắt, tư duy, để tâm và lao lực. Tất nhiên, hơn thế nữa, người ta còn cần phải dựa vào Đức Chúa Trời; họ cần tìm kiếm Đức Chúa Trời mọi nơi mọi lúc. Trong quá trình đối mặt với đủ mọi khó khăn, và trong quá trình ngày đêm đóng tàu, Nô-ê đã phải đối mặt không chỉ với những tình huống khác nhau xảy ra khi hoàn thành công trình khổng lồ này, mà còn cả những môi trường khác nhau xung quanh ông, cũng như sự chế giễu, phỉ báng và nhục mạ của những người khác. Mặc dù ngày nay chúng ta không đích thân trải qua những cảnh tượng như vậy, nhưng chẳng lẽ chúng ta không thể hình dung ra một vài điều trong vô số khó khăn và thử thách mà Nô-ê đã phải đối mặt, và đã trải nghiệm sao? Trong quá trình đóng tàu, điều đầu tiên Nô-ê đã phải đối mặt là chuyện người nhà không thông hiểu, họ bàn tán, phàn nàn và thậm chí là gièm pha ông. Điều thứ hai là sự phỉ báng, chế giễu, và xét đoán của những người xung quanh ông – người thân, bạn bè của ông, và mọi loại người khác. Nhưng Nô-ê chỉ có một thái độ duy nhất, đó là nghe lời Đức Chúa Trời, và thực hiện lời Đức Chúa Trời cho đến cùng, mãi mãi không thay đổi. Quyết tâm của Nô-ê là gì? “Chừng nào tôi còn sống, chừng nào tôi vẫn còn có thể di chuyển, tôi sẽ không từ bỏ sự ủy thác của Đức Chúa Trời”. Đây là động lực của ông khi thực hiện công trình vĩ đại là đóng tàu, cũng là thái độ của ông khi đối diện với những sự dặn dò của Đức Chúa Trời, và sau khi nghe kỹ lời Đức Chúa Trời. Đối mặt với đủ mọi khó khăn, gian khổ và thử thách, Nô-ê đã không lùi bước. Khi một số công việc kỹ thuật khó khăn hơn khiến ông thường xuyên thất bại và bị hư hại, mặc dù Nô-ê cảm thấy buồn bã và lo âu trong lòng, nhưng khi ông nghĩ đến lời Đức Chúa Trời, khi ông nhớ lại từng câu từng chữ Đức Chúa Trời đã dặn dò mình, và sự nâng cao của Đức Chúa Trời dành cho mình, thì ông thường cảm thấy được khích lệ vô cùng: “Mình không thể từ bỏ, không thể vứt bỏ những gì Đức Chúa Trời đã dặn dò và đã giao phó cho mình; đây là sự ủy thác của Đức Chúa Trời, và vì mình đã tiếp nhận, đã nghe những lời Đức Chúa Trời phán và tiếng Đức Chúa Trời, đã tiếp nhận điều này từ Đức Chúa Trời, thì mình phải tuyệt đối thuận phục, đó là việc mà một con người phải đạt được”. Vậy nên, dù gặp phải những khó khăn kiểu gì, dù phải đối mặt những lời chế giễu hay gièm pha kiểu gì, dù thân thể kiệt quệ đến đâu, yếu đuối đến đâu, ông cũng không từ bỏ những gì Đức Chúa Trời giao phó cho ông, và ông luôn ghi nhớ trong lòng từng câu từng chữ mà Đức Chúa Trời phán và dặn dò. Bất kể môi trường xung quanh thay đổi như thế nào, bất kể gặp khó khăn to lớn đến đâu, ông cũng tin rằng mọi chuyện đó rồi sẽ qua, chỉ có lời Đức Chúa Trời là không bao giờ qua đi, và chỉ những điều Đức Chúa Trời dặn dò phải làm mới tất nhiên được hoàn thành. Nô-ê mang theo đức tin thật nơi Đức Chúa Trời và sự thuận phục mà ông nên có mà tiếp tục đóng con tàu Đức Chúa Trời đã yêu cầu ông đóng. Ngày này qua ngày nọ, năm này qua năm nọ, tuổi tác Nô-ê ngày càng cao, nhưng đức tin của ông thì không suy giảm, thái độ và quyết tâm của ông đối với việc hoàn thành sự ủy thác của Đức Chúa Trời cũng không thay đổi gì. Mặc dù thể xác ông có những lúc mệt mỏi và yếu ớt, ông đổ bệnh, và yếu đuối trong lòng, nhưng sự quyết tâm và nghị lực của ông đối với việc hoàn thành sự ủy thác của Đức Chúa Trời và thuận phục lời Đức Chúa Trời vẫn không giảm sút. Trong suốt những năm đóng tàu, Nô-ê đã thực hành lắng nghe và thuận phục lời Đức Chúa Trời phán, cũng thực hành một trong những lẽ thật quan trọng là loài thọ tạo và một người bình thường nên hoàn thành sự ủy thác của Đức Chúa Trời. Toàn bộ quá trình bề ngoài thực ra chỉ là một việc: đóng tàu; làm tốt và làm xong những gì Đức Chúa Trời bảo ông làm. Nhưng để làm tốt việc này, và hoàn thành nó cho thuận lợi, thì cần điều gì? Nó không đòi hỏi nhiệt tâm của con người, không đòi hỏi khẩu hiệu của con người, càng không đòi hỏi lời thề nguyền ngẫu hứng nhất thời của con người, cũng không đòi hỏi cái gọi là sự ngưỡng mộ dành cho Đấng Tạo Hóa của con người. Không cần những điều này. Đối mặt với việc Nô-ê đóng tàu, thì những cái gọi là sự ngưỡng mộ, những lời thề nguyền, nhiệt tâm, và niềm tin của con người nơi Đức Chúa Trời trong thế giới tinh thần, tất cả đều chẳng có tác dụng gì; đối mặt với đức tin thật và sự thuận phục thật của Nô-ê, thì chúng lộ rõ là quá đỗi nghèo nàn, đáng thương, và chút đạo lý mà con người hiểu được cũng lộ rõ là quá rỗng tuếch, nhợt nhạt yếu ớt, càng lộ rõ là đáng hổ thẹn, bỉ ổi và bẩn thỉu.

Nô-ê đã trải qua 120 năm đóng tàu. 120 năm này không phải là 120 ngày, hay 10 năm, hay 20 năm, mà là dài hơn tuổi thọ của một người bình thường ngày nay đến hàng thập kỷ. Với độ dài thời gian, độ khó để hoàn thành việc này, và tầm cỡ của kỹ thuật liên quan, nếu Nô-ê không có đức tin thật, nếu đức tin của ông chỉ đơn thuần là một ý nghĩ, một sự gửi gắm, một phần nhiệt tâm, hoặc một loại niềm tin mơ hồ, thì con tàu có thể được hoàn thành không? Nếu sự thuận phục của ông đối với Đức Chúa Trời chỉ là một lời hứa miệng, nếu nó chỉ là một biên bản, một ghi chú, giống như các ngươi đang làm ngày nay, thì có thể đóng được con tàu không? (Thưa, không thể.) Nếu sự thuận phục trong việc tiếp nhận sự ủy thác từ Đức Chúa Trời của ông chỉ là ý chí, quyết tâm và nguyện vọng, thì có thể đóng được con tàu không? Nếu sự thuận phục của Nô-ê đối với Đức Chúa Trời chỉ là sự từ bỏ, dâng mình và trả giá một cách hình thức, chỉ là làm việc nhiều, trả giá nhiều và có lòng trung thành với Đức Chúa Trời trên khẩu hiệu và lý luận, thì có thể đóng được con tàu không? (Thưa, không.) Như vậy thì quá khó! Nếu thái độ của Nô-ê khi tiếp nhận sự ủy thác của Đức Chúa Trời chỉ là một loại giao dịch, chỉ là để được phúc và được ban thưởng, thì có thể đóng được con tàu không? Tuyệt đối không thể! Nhiệt tâm của một người có thể bền bỉ trong 10 hay 20 năm, hoặc 50 hay 60 năm, nhưng khi họ cận kề cái chết và thấy mình chẳng đạt được gì, thì họ sẽ mất đức tin nơi Đức Chúa Trời. Nhiệt tâm bền bỉ trong 20, 50, hoặc 80 năm mà không trở thành sự thuận phục, không trở thành đức tin thật, thì thật đau lòng biết bao. Trong khi đó, đức tin thật và sự thuận phục thật được tìm thấy nơi Nô-ê chính là những gì mà con người ngày nay còn thiếu, và chính những điều mà con người ngày nay nhìn không thấy, không thèm để ý, xem thường, và thậm chí nhìn với sự khinh rẻ. Mỗi lần kể câu chuyện Nô-ê đóng tàu thì mọi người đều nói chuyện say sưa. Ai cũng giảng về chuyện này, có ý kiến về chuyện này. Nhưng Nô-ê có gì, có con đường thực hành thế nào, có thái độ nào mà Đức Chúa Trời muốn, cũng như quan điểm nào đối với sự dặn dò của Đức Chúa Trời, có phẩm chất nhân tính nào trong việc lắng nghe và thực hành lời Đức Chúa Trời, những chuyện này thì chẳng ai nghĩ đến, cũng chẳng ai suy ngẫm. Vì vậy Ta nói rằng con người ngày nay không xứng để kể câu chuyện về Nô-ê, bởi vì khi bất kỳ ai kể câu chuyện này, họ đều coi Nô-ê không hơn gì một nhân vật huyền thoại, thậm chí là một ông già bình thường có bộ râu trắng. Họ thắc mắc trong đầu rằng liệu thật sự có một người như vậy không, nếu người như vậy có tồn tại thì rốt cuộc là người như thế nào. Trong lòng người ta đặt ra một dấu hỏi, chứ không hề thể nghiệm và lĩnh hội trong lòng xem làm sao đạt được những biểu hiện của Nô-ê sau khi tiếp nhận sự ủy thác của Đức Chúa Trời. Hôm nay, khi chúng ta xem lại câu chuyện Nô-ê đóng tàu, ngươi nghĩ rằng đây là một sự kiện lớn hay nhỏ? Có phải nó chỉ là một câu chuyện bình thường về một ông già đóng tàu thời xưa không? (Thưa, không.) Ở trong nhân loại, Nô-ê là nhân vật đáng để mọi người noi gương nhất về việc kính sợ, thuận phục Đức Chúa Trời và hoàn thành sự ủy thác của Đức Chúa Trời, ông là đối tượng được Đức Chúa Trời khen ngợi và cũng là tấm gương mà mọi người đang đi theo Đức Chúa Trời ngày nay nên noi theo. Và điều đáng quý nhất ở ông là gì? Ông chỉ có một thái độ duy nhất đối với lời Đức Chúa Trời: lắng nghe thì tiếp nhận, tiếp nhận thì thuận phục, và thuận phục cho đến chết. Chính thái độ đáng quý nhất trong hết thảy này đã khiến ông được Đức Chúa Trời khen ngợi. Đối với lời Đức Chúa Trời, ông không ứng phó, không làm cho có, không nghiên cứu, phân tích, chống đối, hay cự tuyệt trong lòng, rồi sau đó gạt sang một bên trong đầu mình; thay vào đó, ông nghiêm túc lắng nghe, tiếp nhận từng chút một trong lòng mình, rồi suy ngẫm xem nên thực hành lời Đức Chúa Trời thế nào, nên thực hiện lời Đức Chúa Trời thế nào, và nên dựa vào nguyên ý trong lời Đức Chúa Trời mà thực hành như thế nào để không bị méo mó. Trong khi suy ngẫm lời Đức Chúa Trời, trong lòng ông cũng thầm tự nhủ: “Đây là lời Đức Chúa Trời, là sự dặn dò của Đức Chúa Trời, sự ủy thác của Đức Chúa Trời, và là trách nhiệm không thể trốn tránh, tôi phải thuận phục, không được bỏ qua bất kỳ chi tiết nào, không được đi ngược lại bất kỳ ý nào của Đức Chúa Trời, cũng không được bỏ qua bất kỳ chi tiết nào trong những gì Ngài nói. Nếu không làm được như vậy thì mình không xứng đáng được gọi là con người, không xứng đáng với sự ủy thác của Đức Chúa Trời, và không xứng đáng với sự nâng cao của Ngài. Nếu không hoàn thành được tất cả những gì Đức Chúa Trời đã bảo và giao phó cho mình mà đời này mình không hoàn thành, thì mình sẽ hối hận về sau. Hơn thế nữa, mình sẽ phụ sự ủy thác của Đức Chúa Trời và sự nâng cao của Ngài dành cho mình. Mình sẽ không còn mặt mũi nào đến trước Đấng Tạo Hóa nữa”. Mọi điều Nô-ê suy nghĩ trong lòng, mọi quan điểm và thái độ của ông, tất cả những điều này quyết định việc ông có thể đưa lời Đức Chúa Trời vào thực hành, và làm cho lời Đức Chúa Trời trở thành hiện thực, làm cho lời Đức Chúa Trời sinh hoa kết quả, làm cho lời Đức Chúa Trời được ứng nghiệm và thành tựu thông qua nỗ lực và công sức vất vả của ông, làm cho lời Đức Chúa Trời thông qua ông mà trở thành một điều thực tế, và không để sự ủy thác của Đức Chúa Trời trở thành con số không. Xét mọi điều Nô-ê đã nghĩ, mọi tâm tư ý niệm nảy sinh trong lòng ông, và thái độ của ông đối với Đức Chúa Trời, thì Nô-ê xứng đáng với việc mà Đức Chúa Trời giao phó, ông là người được Đức Chúa Trời tin tưởng, và là người được Đức Chúa Trời ưu ái. Đức Chúa Trời xét kỹ từng lời nói và việc làm của con người, xét kỹ những tâm tư ý niệm của họ. Trong mắt Đức Chúa Trời, bởi Nô-ê có thể suy nghĩ như thế, nên Ngài đã không chọn lầm. Nô-ê đã thể hiện bản thân mình xứng đáng đảm nhận sự ủy thác của Đức Chúa Trời, đáng nhận được sự tin tưởng của Đức Chúa Trời, và ông có thể hoàn thành sự ủy thác của Đức Chúa Trời: trong toàn thể nhân loại, ngoài ông ra, không thể chọn được người thứ hai.

Trong mắt Đức Chúa Trời, để hoàn thành việc lớn như đóng tàu này thì Nô-ê là lựa chọn duy nhất. Vậy Nô-ê có những điều gì? Thực ra là có hai điều: đức tin thật và sự thuận phục thật. Trong lòng Đức Chúa Trời, đây là những tiêu chuẩn mà Ngài yêu cầu ở con người. Có đơn giản không? (Thưa, đơn giản.) “Lựa chọn duy nhất” này có cả hai điều đơn giản này, nhưng ngoài Nô-ê ra, thì không một ai có cả. Một số người nói: “Làm sao có thể thế được? Chúng con hiện tại đã từ bỏ gia đình và sự nghiệp, không màng đến công việc, tiền đồ hay học vị, cũng từ bỏ cả con cái và tài sản. Ngài xem, chúng con có đức tin lớn biết bao, yêu kính Đức Chúa Trời biết bao! Chúng con khác Nô-ê ở điểm gì chứ? Nếu Đức Chúa Trời bảo chúng con đóng một con tàu – à, ngành công nghiệp hiện đại rất phát triển, chúng con chẳng có sẵn nhiều gỗ và công cụ sao? Chúng con mà vận hành máy móc thì cũng có thể làm việc dưới mặt trời thiêu đốt; chúng con cũng có thể làm việc từ sáng sớm đến tối muộn. Hoàn thành chút việc thế này thì có gì to tát? Nô-ê mất 100 năm, nhưng chúng con sẽ không để Đức Chúa Trời phải chờ đợi – chúng con sẽ làm nó trong thời gian ngắn hơn, sẽ chỉ mất 10 năm. Ngài còn nói Nô-ê là lựa chọn duy nhất, nhưng đến hiện tại thì những lựa chọn duy nhất này nhiều rồi. Những người đã từ bỏ gia đình và sự nghiệp, có đức tin thật nơi Đức Chúa Trời và thực sự dâng mình như chúng con chẳng lẽ không phải là lựa chọn duy nhất sao? Làm sao Đức Chúa Trời có thể nói rằng Nô-ê là sự lựa chọn duy nhất? Như vậy không phải là quá xem thường chúng con rồi sao?”. Những lời này có vấn đề gì không? (Thưa, có.) Có người nói: “Thời của Nô-ê, khoa học kỹ thuật rất lạc hậu. Không có điện, không có máy móc hiện đại, thậm chí không có cả những chiếc khoan và cưa điện đơn giản nhất. Đinh cũng chẳng có. Làm thế nào mà ông ấy đóng tàu được? Ngày nay chúng con có tất cả những thứ này. Để chúng con hoàn thành sự ủy thác này, chẳng phải là việc quá dễ dàng hay sao? Nếu Đức Chúa Trời phán với chúng con từ trời và bảo chúng con đóng một con tàu, thì đừng nói gì một con tàu, mười con tàu cũng được, có nhằm nhò gì đâu? Chuyện dễ như bỡn. Đức Chúa Trời cứ dặn dò hết lòng, có yêu cầu gì cứ nói ra hết đi, chúng con đông người thế này thì việc đóng tàu quá dễ dàng rồi. Chúng con có thể đóng 10, 20, thậm chí 100 con tàu. Ngài muốn bao nhiêu sẽ có bấy nhiêu”. Chuyện có đơn giản như vậy không? (Thưa, không.) Ngay khi Ta nói rằng Nô-ê là sự lựa chọn duy nhất, một số người nghe xong thì muốn đối đầu với Ta, không chịu phục: “Ngài nghĩ tốt về người xưa bởi vì họ không có ở đây. Con người ngày nay ở ngay sát bên Ngài, nhưng Ngài không thể thấy điều rất tốt ở họ. Con người ngày nay làm nhiều việc tốt và việc thiện như vậy mà Ngài đều chẳng nhìn thấy. Nô-ê chỉ làm một việc nhỏ chút xíu; vì hồi đó chưa có công nghiệp, và mọi việc lao động chân tay đều vất vả, nên Ngài cảm thấy những gì ông ấy đã làm đáng được ghi nhớ, đáng trở thành tấm gương và kiểu mẫu. Còn con người ngày nay chịu khổ, trả giá vì Ngài thì Ngài không thấy, cả đức tin của chúng con nơi Ngài, Ngài cũng không thấy”. Chuyện có phải như vậy không? (Thưa, không.) Bất kể thời đại hay thời kỳ nào, bất kể môi trường con người sống có những dạng điều kiện nào, thì những thứ vật chất này và môi trường chung cũng chẳng là gì cả, chúng không quan trọng. Cái gì mới quan trọng? Điều quan trọng nhất không phải là thời đại mà ngươi đang sống, hay công nghệ mà ngươi có thể sử dụng, cũng không phải là bao nhiêu lời Đức Chúa Trời mà ngươi đã đọc hoặc nghe. Điều quan trọng nhất là con người có đức tin thật hay không, có sự thuận phục thật hay không. Hai điều này là quan trọng nhất, và không thể thiếu điều nào. Nếu các ngươi được đặt vào thời Nô-ê, ai trong số các ngươi có thể hoàn thành sự ủy thác này? Ta dám nói rằng ngay cả khi hợp thành một nhóm, các ngươi cũng không thể hoàn thành được một việc như vậy, thậm chí còn không thể làm được một nửa. Khi còn chưa chuẩn bị xong vật liệu, nhiều người trong số các ngươi đã bỏ chạy, nhiều khả năng sẽ phàn nàn về Đức Chúa Trời, và hoài nghi Ngài. Một số ít các ngươi có thể kiên trì một cách miễn cưỡng, dựa vào nghị lực, nhiệt tâm và ý niệm mà kiên trì. Nhưng ngươi có thể kiên trì trong bao lâu? Ngươi cần loại động lực nào để có thể kiên trì? Không có đức tin thật và sự thuận phục thật thì ngươi có thể kiên trì được mấy năm? Chuyện này phụ thuộc vào nhân phẩm. Những người có nhân phẩm tốt hơn một chút và có chút lương tâm thì có thể kiên trì được 8 hoặc 10 năm, 20 hoặc 30 năm, thậm chí có thể 50 năm. Nhưng sau 50 năm, họ sẽ ngẫm nghĩ: “Khi nào Đức Chúa Trời mới đến? Khi nào hồng thủy mới đến? Khi nào dấu hiệu do Đức Chúa Trời đưa ra sẽ xuất hiện? Mình đã dành cả cuộc đời mình để làm một việc mà thôi, lỡ như hồng thủy không đến thì biết làm sao? Một đời này mình đã chịu khổ không ít, đã kiên trì trong 50 năm – chừng đó đủ tốt rồi, bây giờ mà mình từ bỏ thì Đức Chúa Trời sẽ không ghi nhớ, cũng không định tội. Vậy mình sẽ sống cuộc sống của chính mình. Đức Chúa Trời không nói hay phản ứng gì. Suốt ngày mình nhìn trời xanh mây trắng mà chẳng thấy gì. Đức Chúa Trời ở đâu chứ? Đấng đã có lần nổi sấm và phán đó có phải là Đức Chúa Trời không? Liệu đó có phải là một ảo ảnh không? Khi nào thì chuyện này sẽ kết thúc? Đức Chúa Trời cũng đâu có quan tâm. Mình kêu trời, trời làm thinh, kêu đất, đất im lặng, cầu nguyện với Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời cũng không khai sáng, không chỉ đường. Thôi, bỏ đi!”. Họ vẫn còn đức tin thật sao? Qua thời gian, có khả năng họ sẽ hoài nghi, sẽ thay lòng, muốn tìm kiếm một lối thoát, buông bỏ sự ủy thác của Đức Chúa Trời, buông bỏ nhiệt tâm và lời thề nhất thời của mình; họ sẽ muốn tự mình nắm lấy số phận của mình, muốn sống đời mình, và gạt sự ủy thác của Đức Chúa Trời ra một góc trong đầu mình. Và khi, một ngày nọ, Đức Chúa Trời đích thân đến để thúc giục họ và hỏi về tiến độ đóng tàu, họ sẽ nói: “A! Đức Chúa Trời đây rồi! Vậy là thực sự có Đức Chúa Trời. Phải nhanh đóng tàu thôi!”. Nếu Đức Chúa Trời không phán lời, không thúc giục, thì họ sẽ không xem đây là chuyện quá cấp bách; để nó đợi cũng được. Suy nghĩ hay thay đổi này, thái độ làm việc qua loa miễn cưỡng này – đây có phải là một thái độ biểu hiện từ đức tin thật không? (Thưa, không.) Có thái độ như vậy là sai, là không có đức tin thật, càng không có sự thuận phục thật. Khi Đức Chúa Trời trực tiếp phán với ngươi, nhiệt huyết thoáng qua của ngươi biểu hiện rằng ngươi tin Đức Chúa Trời, nhưng khi Đức Chúa Trời đặt ngươi sang một bên, và không thúc giục, không giám sát, cũng không hỏi han, thì đức tin của ngươi biến mất. Sau một thời gian, khi Đức Chúa Trời không phán, cũng không xuất hiện với ngươi, không hề thị sát công tác của ngươi, thì đức tin của ngươi hoàn toàn biến mất; ngươi sẽ muốn sống cuộc đời của riêng mình, muốn làm việc kinh doanh của riêng mình, và sự ủy thác của Đức Chúa Trời đã bị lãng quên nơi một góc trong đầu ngươi; nhiệt tâm, lời thề và quyết tâm của ngươi khi ấy đều chẳng là gì cả. Các ngươi nói xem, Đức Chúa Trời dám giao phó việc lớn cho một người như thế này không? (Thưa, không.) Tại sao không? (Thưa, vì họ không đáng tin cậy.) Đúng vậy. Chính là bốn chữ này: không đáng tin cậy. Ngươi không có đức tin thật. Ngươi không đáng tin cậy. Và như vậy, ngươi không xứng để được Đức Chúa Trời giao phó bất cứ việc gì. Một số người nói: “Tại sao con không xứng? Đức Chúa Trời giao việc gì, con cũng sẽ làm – có lẽ con sẽ làm được”. Những chuyện trong cuộc sống thường nhật thì ngươi có thể tùy tiện làm chút này chút kia, kết quả có không đạt một chút cũng không thành vấn đề. Nhưng những việc được Đức Chúa Trời giao phó, chuyện mà Đức Chúa Trời muốn hoàn thành thì có bao giờ đơn giản không? Nếu chúng được giao phó cho một người hấp tấp, một kẻ gian dối, một người làm gì cũng có thể qua loa chiếu lệ, một người đã nhận sự ủy thác mà vẫn có thể bội tín bội nghĩa bất kỳ lúc nào, vậy chẳng phải là làm chậm trễ đại sự hay sao? Nếu các ngươi được yêu cầu lựa chọn, nếu các ngươi giao phó một chuyện trọng đại cho ai đó, ngươi sẽ giao phó nó cho dạng người nào? Ngươi sẽ chọn dạng người nào? (Thưa, người đáng tin cậy.) Chí ít, người này phải đáng tin cậy, có nhân phẩm, và cho dù ở thời điểm nào, hay gặp khó khăn lớn đến đâu, họ cũng sẽ tận tâm tận lực hoàn thành những gì ngươi đã giao phó cho họ, và báo cáo lại cho ngươi. Con người khi giao phó cho người khác làm gì còn chọn người như thế, huống gì Đức Chúa Trời? Vì vậy, đối với sự kiện trọng đại là hồng thủy hủy diệt thế gian, một sự kiện đòi hỏi phải đóng một con tàu, và cần có một người xứng đáng sống sót được giữ lại, thì Đức Chúa Trời sẽ chọn ai? Đầu tiên, về lý thuyết, Ngài sẽ chọn một người xứng để giữ lại, người xứng để sống trong thời đại tiếp theo. Trên thực tế, trước hết, người này phải có thể nghe lời Đức Chúa Trời, có đức tin thật nơi Đức Chúa Trời, và bất kể Đức Chúa Trời phán gì cũng có thể xem đó là lời của Đức Chúa Trời mà đối đãi – bất kể là nói điều gì, nội dung là gì, có hợp quan niệm, thị hiếu và ý của con người hay không. Dù Đức Chúa Trời bảo họ làm gì, họ cũng không phủ nhận thân phận của Đức Chúa Trời, vĩnh viễn xem bản thân mình là loài thọ tạo, vĩnh viễn xem việc nghe lời Đức Chúa Trời là một thiên chức; đây là loại người mà Đức Chúa Trời muốn giao phó những công việc như vậy. Trong lòng Đức Chúa Trời, Nô-ê chính là một người như thế. Ông không chỉ là người được chọn xứng đáng giữ lại trong kỷ nguyên mới, mà còn là người có thể gánh vác trách nhiệm nặng nề, có thể thuận phục lời Đức Chúa Trời không chút thỏa hiệp và đến tận cùng, cũng là người sẽ dùng cả sự sống của mình để hoàn thành những gì Đức Chúa Trời đã giao phó. Đây là những gì Nô-ê có. Từ khoảnh khắc Nô-ê tiếp nhận sự ủy thác của Đức Chúa Trời, cho đến khoảnh khắc ông hoàn thành mỗi một việc được giao phó cho mình – trong suốt khoảng thời gian này, đức tin của Nô-ê và thái độ thuận phục của ông đối với Đức Chúa Trời có một tác dụng tuyệt đối quan trọng; nếu không có hai điều này, thì công tác đã không thể được hoàn thành, và sự ủy thác này đã không được hoàn thành.

Nếu trong quá trình tiếp nhận sự ủy thác của Đức Chúa Trời, mà Nô-ê có ý tưởng, tính toán và quan niệm riêng, thì toàn bộ chuyện này sẽ thay đổi như thế nào? Trước hết, đối mặt với từng chi tiết được Đức Chúa Trời truyền cho ông – quy cách và loại vật liệu, phương thức và phương pháp đóng toàn bộ con tàu, cũng như quy mô và kích thước của toàn bộ con tàu – khi Nô-ê nghe tất cả những điều này, liệu ông có nghĩ: “Sẽ mất bao nhiêu năm để xây dựng một thứ lớn như vậy? Sẽ mất bao nhiêu sức, chịu bao nhiêu khổ để tìm cho đủ những vật liệu này? Mình sẽ mệt mỏi lắm! Mệt như vậy thì mình có tổn thọ không? Mình đã cao tuổi thế này mà Đức Chúa Trời cũng không tha, còn bắt mình làm công việc mệt mỏi như vậy, mình có chịu nổi không? Làm thì cũng làm, nhưng mình có chiêu trò này: mình sẽ dựa theo ý Đức Chúa Trời phán rồi làm đại khái là được. Đức Chúa Trời phán phải tìm một loại gỗ thông không thấm nước. Mình có nghe nói về một nơi để lấy gỗ này, nhưng nó khá xa, lại còn khá nguy hiểm. Tìm cho ra nó thì sẽ rất vất vả, chi bằng tìm một loại tương tự ở quanh đây không kém thua bao nhiêu để thế vào? Làm vậy sẽ ít gặp nguy hiểm hơn và đỡ mệt hơn – làm vậy cũng ổn nhỉ?”. Nô-ê có kế hoạch như vậy không? Nếu như ông có kế hoạch như vậy, liệu đây có phải là sự thuận phục thật không? (Thưa, không.) Một ví dụ khác: Đức Chúa Trời phán rằng con tàu phải cao 100 mét. Nghe điều này, liệu ông có nghĩ: “Một trăm mét là quá cao, cao như vậy, chẳng ai leo lên nổi. Mình mà làm việc ở nơi cao như vậy thì chẳng phải nguy hiểm đến tính mạng sao? Vậy mình sẽ làm con tàu thấp hơn một chút, 50 mét đi. Như thế sẽ ít nguy hiểm hơn và mọi người dễ lên tàu hơn. Làm vậy cũng được nhỉ?”. Liệu Nô-ê đã có nảy sinh dạng tâm tư như vậy không? (Thưa, không.) Vậy nếu ông có tâm tư như thế, các ngươi có nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã chọn lầm người không? (Thưa, có.) Đức tin và sự thuận phục thật của Nô-ê đối với Đức Chúa Trời đã khiến ông có thể buông bỏ ý riêng; ngay cả khi có những suy nghĩ như vậy, ông cũng sẽ không bao giờ chuyển chúng thành hành động. Về điểm này, Đức Chúa Trời thấy Nô-ê là người đáng tin cậy. Thứ nhất, đối với các chi tiết mà Đức Chúa Trời yêu cầu, Nô-ê sẽ không thực hiện bất kỳ thay đổi nào, cũng không thêm bất kỳ ý tưởng nào của riêng mình, càng không thay đổi bất kỳ chi tiết nào mà Đức Chúa Trời yêu cầu vì lợi ích cá nhân của riêng mình; thay vào đó, ông sẽ thực hiện tất cả những gì Đức Chúa Trời yêu cầu theo đúng nguyên bản. Bất kể vật liệu đóng tàu có khó thu thập đến đâu, bất kể làm những việc này mất công sức và khó khăn đến đâu, ông đều nỗ lực và dốc hết sức mà làm cho tốt. Đây có phải là điều khiến ông đáng tin cậy không? Và sự đáng tin cậy này có phải là biểu hiện thực tế rằng ông thực sự thuận phục Đức Chúa Trời không? (Thưa, phải.) Sự thuận phục này có tuyệt đối không? (Thưa, có.) Nó không bị uế tạp gì, không có ý nguyện cá nhân, không lẫn lộn tính toán cá nhân, càng không lẫn lộn quan niệm và lợi ích cá nhân, thay vào đó, đây là một sự thuận phục rất đơn thuần, rất đơn giản và tuyệt đối. Có dễ đạt được như vậy không? (Thưa, không dễ đạt được.) Có lẽ có một số người không phục: “Như vậy thì có gì là khó khăn? Chẳng phải là bớt động não lại, cứ làm như người máy, Đức Chúa Trời bảo gì thì nghe nấy, như vậy mà còn không dễ dàng sao?”. Khi đến lúc hành động, thì khó khăn xuất hiện; con người luôn có suy nghĩ sống động, luôn có ý nguyện riêng, nên họ dễ hoài nghi chuyện liệu lời Đức Chúa Trời có thể được hoàn thành hay không. Khi mới nghe thì họ khá dễ tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, nhưng đến lúc làm thì vất vả, chịu khổ một cái là sẽ dễ tiêu cực và khó thuận phục. Do đó, phẩm chất nhân tính, cũng như đức tin và sự thuận phục thật của Nô-ê thực sự đáng để người ta noi theo. Khi đối diện với lời và sự dặn dò và yêu cầu của Đức Chúa Trời, thì Nô-ê tiếp cận như thế nào và thuận phục như thế nào, chuyện này các ngươi đã rõ cả chưa? Sự thuận phục này không bị uế tạp bởi ý riêng. Đối với mọi lời của Đức Chúa Trời, Nô-ê đòi hỏi bản thân phải tuyệt đối thuận phục, nghe lời và thực hiện, không được chệch hướng, không được khôn lỏi, không được tự làm như thể mình thông minh, không được cảm thấy bản thân cao minh đến mức có thể bày mưu tính kế cho Đức Chúa Trời và thêm thắt ý riêng vào chuyện mà Đức Chúa Trời đã dặn dò, cũng không được làm kiểu thể hiện lòng tốt. Chẳng phải đây là việc thực hành nên có của người thuận phục tuyệt đối sao?