Mục 4. Họ đề cao và làm chứng cho bản thân (Tiểu mục 3)
Mục 4, đề cao và làm chứng cho mình là một cách làm nhất quán của kẻ địch lại Đấng Christ. Với những thủ đoạn, phương thức và phương pháp rõ ràng mà kẻ địch lại Đấng Christ dùng để đề cao và làm chứng cho mình, thì các ngươi có thể phân định được, nhưng với những hành vi và biểu hiện khó thấy hơn, các ngươi có thể phân định được không? Với những chuyện rõ ràng như dùng lời lẽ để đề cao và làm chứng cho mình, thì bản thân các ngươi cũng có những bộc lộ này, đồng thời cũng thấy chúng nơi những người khác, và các ngươi có thể phân định được. Nhưng nếu không dùng ngôn ngữ mà chỉ có những biểu hiện về hành vi, thì liệu các ngươi còn có thể phân định được không? Có thể nói rằng hầu hết mọi người đều không phân định được. Vậy thì hành vi kẻ địch lại Đấng Christ đề cao và làm chứng cho mình có những đặc điểm gì? Hành vi của họ chắc chắn là hợp với những quan niệm, tưởng tượng, đạo đức, lương tâm và tình cảm của con người. Còn gì nữa? (Thưa, nó giành được sự tán thành và tôn sùng của mọi người.) Nó giành được sự tán thành và tôn sùng; đây là hậu quả mà nó đạt được. Nếu nhìn từ góc độ hậu quả, thì hành vi này thực sự có tính chất mê hoặc. Từ góc độ tính chất của hành động này, nó vô cùng có chủ đích. Chẳng hạn như có những người, khi đổ bệnh, nếu muốn mê hoặc mọi người và khiến mọi người coi trọng mình, thì họ sẽ uống thuốc trước mặt mọi người hay là khi xung quanh không có ai? (Thưa, trước mặt mọi người.) Chẳng phải có ý đồ hay sao? Vì vậy mới nói rằng họ vô cùng có chủ đích. Khi uống thuốc như vậy, mục đích thực sự của họ là gì? Khi làm vậy, họ muốn nhận công và nói với ngươi rằng: “Nhìn này, tôi làm bổn phận mệt đến phát bệnh, vậy mà vẫn không oán trách hay nhỏ một giọt nước mắt nào. Tôi đang chữa bệnh, đang phải uống thuốc, mà vẫn có thể kiên trì làm bổn phận”. Trên thực tế, chưa chắc họ đã mắc bệnh này do làm bổn phận mệt mỏi hoặc sau khi bắt đầu tin Đức Chúa Trời mới mắc bệnh. Họ chỉ đang sử dụng đủ kiểu hành vi để truyền một thông điệp đến mọi người, rằng họ đang chịu khổ và trả giá, họ đã chịu khổ quá nhiều trong môi trường này mà không một lời oán trách, vẫn có thể làm bổn phận chủ động và tích cực như vậy, rằng họ có ý chí chịu khổ. Như vậy vô hình trung là đang nói với mọi người điều gì? Rằng lòng trung thành của họ với Đức Chúa Trời là không thể nghi ngờ. Điều họ muốn thể hiện là họ trung thành và sẵn lòng trả giá. Đây chẳng phải là đề cao bản thân một cách trá hình sao? Nếu có lý trí, họ sẽ không mang chuyện này ra, họ sẽ cầu nguyện với Đức Chúa Trời khi xung quanh không có ai, bày tỏ quyết tâm hoặc cố gắng biết mình, hoặc chỉ đơn giản là uống thuốc bình thường. Tóm lại, họ sẽ không dùng những hành vi bề ngoài để nói với mọi người rằng họ đang chịu khổ, họ đang trung thành làm bổn phận và họ nên được thưởng. Họ sẽ không nuôi những ý định này. Tuy nhiên, nếu họ hành động theo cách đặc biệt phô bày, muốn khiến cho mọi người coi trọng và khen ngợi mình, thì việc này rất có chủ đích. Và mục đích của họ là gì? Đó là thông qua thông điệp họ truyền tới mọi người mà đạt được kết quả là đề cao và làm chứng cho mình. Nếu họ trung thành, Đức Chúa Trời sẽ biết, vậy tại sao họ phải khoe khoang với người khác và để cho mọi người khác biết. Mục đích của họ khi để cho người khác biết là gì? Chính là để khiến người khác coi trọng họ. Nếu không có mục đích này, thì họ sẽ hành động vô ý, và những người khác sẽ không thấy họ làm những chuyện này. Nếu rất có chủ đích, họ sẽ đo lường quy mô hành động của mình, để tâm và bỏ công sức vào thời gian và địa điểm, đợi cho đến khi tất cả mọi người đều có mặt để nhờ ai đó mang thuốc cho mình, gióng trống khua chiêng về việc đó. Trong việc này có một mục đích rất rõ ràng. Nếu không có mục đích này, thì họ sẽ đợi cho đến khi không có ai xung quanh để uống thuốc. Sự sẵn lòng chịu khổ và trả giá của ngươi liên quan đến mối quan hệ của ngươi với Đức Chúa Trời, ngươi không cần phải làm rõ cho người khác biết. Làm rõ cho người khác thì họ có thể cho ngươi cái gì? Ngoài việc có được sự đồng tình và khen ngợi của họ, ngươi có thể nhận được gì khác từ họ không? Không gì cả. Khi ngươi chịu khổ một chút và trả giá một chút trong khi làm bổn phận, thì một mặt, đó là những việc mà ngươi nên làm, ngươi cam tâm tình nguyện làm, và ngươi đang làm bổn phận của chính mình. Mặt khác, đó là những biểu hiện mà con người thọ tạo nên có với Đấng Tạo Hóa, vậy tại sao ngươi phải cho thiên hạ thấy làm gì? Khi ngươi cho thiên hạ thấy, chúng trở nên đáng kinh tởm; tính chất của hành vi như thế biến thành gì? Biến thành đề cao và làm chứng cho mình và mê hoặc người khác – tính chất đã thay đổi rồi. Chẳng hạn như có những người luôn gãi đầu trước mặt người khác, và khi có người hỏi về chuyện đó thì họ nói: “Hơn 10 ngày rồi tôi chưa gội đầu – tôi gặp đối tượng phúc âm hết ngày này qua ngày khác. Hôm trước tôi cố gắng thu xếp chút thời gian gội đầu, thì một đối tượng phúc âm đến tìm hiểu và tôi lại không rời đi được”. Thực ra họ chủ định không gội đầu để cho mọi người cảm thấy họ rất bận rộn làm bổn phận. Đây gọi là làm màu. Mục đích của họ khi làm màu là gì? Đó là để khiến mọi người coi trọng họ, và tính chất của hành vi này chính là đề cao và làm chứng cho mình. Ngay cả với một chuyện nhỏ như vậy mà họ cũng không bỏ qua, vẫn muốn quan trọng hóa, biến nó thành một dạng tài nguyên giá trị để lợi dụng, để thể hiện bản thân, thỏa mãn dã tâm, dục vọng của mình, cũng như đạt được mục đích khiến mọi người coi trọng và tôn sùng mình. Làm vậy chẳng đáng xấu hổ sao? Thật đáng xấu hổ và đáng kinh tởm. Hết thảy những việc này đến từ đâu? Chúng đến từ tâm tính bại hoại của Sa-tan, trong đó có sự giả vờ, giả dối, tà ác và dã tâm. Những người như vậy luôn nghĩ về thể diện, địa vị và danh tiếng của mình. Chuyện gì họ cũng không bỏ qua, luôn nghĩ đủ cách để biến những thứ đó thành vốn liếng, thành tài nguyên mà họ có thể sử dụng để khiến mọi người coi trọng và tôn sùng họ. Cuối cùng, khi đã đạt được mục đích, họ lại hành động như thể chuyện đó chẳng là gì. Khi thể hiện như thể chuyện đó chẳng là gì là họ đang tạo hình tượng giả mà thôi, thực ra bên trong họ đang thầm ăn mừng, thầm đắc ý. Như vậy chẳng phải càng đáng kinh tởm hơn sao? Rõ ràng là họ đã có địa vị rất cao, được mọi người coi trọng, ngưỡng vọng, vâng lời và đi theo, nhưng bề ngoài, họ vẫn giả vờ không thích địa vị. Như vậy càng giả tạo. Cuối cùng, tất cả mọi người đều bị họ mê hoặc và nói rằng họ trời sinh không có dã tâm, rằng họ là con người của hành động. Thực ra, một thử nghiệm nhỏ cũng có thể tỏ lộ chuyện này: nếu bị tước bỏ địa vị, họ sẽ lập tức ngừng làm bổn phận. Sẽ nhanh như vậy đấy; chỉ một chuyện nhỏ cũng sẽ tỏ lộ được dã tâm của họ. Đó chính là những hành vi và cách làm, cũng như những tình trạng xấu xí mà tâm tính bại hoại của Sa-tan gây ra trong con người. Từ những biểu hiện này, có thể thấy rằng con người thích địa vị và muốn chiếm một địa vị trong lòng người khác. Họ muốn chiếm hữu lòng người khác, lôi kéo người khác, khiến người khác tôn sùng, ngưỡng vọng và thậm chí đi theo họ, từ đó thay thế địa vị của Đức Chúa Trời trong lòng người khác. Đây là điều mà bẩm sinh ai cũng có. Nó chứng thực điều gì? Rằng trong sự sống của con người, thứ khống chế họ là tâm tính của Sa-tan. Trong nhân loại bại hoại, không có một người nào mà không thích địa vị cả – ngay cả những kẻ ngu cũng muốn làm quan, ngay cả những kẻ đần cũng muốn quản lý người khác. Ai cũng thích địa vị, ai cũng làm việc vì địa vị và tranh đoạt địa vị với Đức Chúa Trời. Ai cũng có những dạng hành vi và cách làm này, cũng như dạng tâm tính này. Cho nên, khi vạch trần việc đề cao và làm chứng cho mình của kẻ địch lại Đấng Christ, chúng ta cũng đang vạch rõ những tâm tính bại hoại của mọi con người. Mục đích của việc vạch rõ là gì? Đó là để khiến mọi người nhận thức được rằng những hành vi và biểu hiện đề cao và làm chứng cho mình này không phải là những gì nhân tính bình thường nên có, mà là sự bộc lộ của những tâm tính bại hoại, và là những thứ tiêu cực, đáng ghét. Bất kể những thủ đoạn đề cao và làm chứng cho mình của ngươi cao tay đến đâu, bất kể những hành động của ngươi kín đáo đến mức nào, thì đều không phải là thứ mà nhân tính bình thường nên có, hết thảy đều bị Đức Chúa Trời ghét bỏ, định tội và rủa sả. Cho nên, hết thảy mọi người đều nên từ bỏ những cách làm này. Đề cao và làm chứng cho mình không phải là một bản năng mà Đức Chúa Trời tạo dựng cho con người – mà là một trong những sự bộc lộ điển hình nhất của tâm tính bại hoại của Sa-tan, và càng là một trong những tâm tính và cách làm điển hình nhất, cụ thể nhất của thực chất bại hoại của Sa-tan.
Trong việc nhận thức được những biểu hiện khác nhau của việc đề cao và làm chứng cho mình, dù là những cách nói và cách làm rõ ràng hay là kín đáo hơn, thì thông công bằng một số ví dụ cụ thể có giúp ích cho các ngươi không? (Thưa, có giúp ích.) Giúp ích như thế nào? Nó có thể giúp con người phân định bản thân và người khác. Những tình trạng, biểu hiện và sự bộc lộ mà Ta đang nói đến này đều là những điều thường thấy nơi các ngươi, và các ngươi nên đối chiếu chúng với tình trạng của mình, nhận thức được rốt cuộc mình là gì, rốt cuộc thì sự sống mà mình phụ thuộc và dựa vào để tồn tại là gì, rốt cuộc thì trong đó chứa đựng những gì, rốt cuộc thì những tâm tính này chi phối con người làm những chuyện gì, và khiến con người sống thể hiện ra những điều gì. Thông qua việc nhận thức được những hành vi, biểu hiện, cách làm và tâm tính cụ thể này, con người có thể dần dần mổ xẻ và biết mình, biết thực chất của mình, và bản tính đối địch Đức Chúa Trời của mình, từ đó buông bỏ những cách làm này, đến trước Đức Chúa Trời và thực sự quay đầu, dựa theo lẽ thật mà thực hành và sống thể hiện ra. Có những người nói: “Vì đề cao và làm chứng cho mình là cách làm không hợp lẽ thật và thuộc về Sa-tan, thuộc về kẻ địch lại Đấng Christ, vậy nếu con không nói hoặc làm gì cả, thì chẳng phải nghĩa là con không đề cao và làm chứng cho mình sao?”. Nói vậy không đúng. Vậy làm thế nào để không đề cao và làm chứng cho chính mình? Cùng một sự việc, nếu ngươi thể hiện và làm chứng cho mình thì sẽ đem lại hậu quả là khiến một số người coi trọng và sùng bái ngươi. Nhưng nếu ngươi mở lòng bộc bạch để nhận biết bản thân, thì tính chất sẽ khác, tình hình thực tế có phải như vậy hay không? Mở lòng bộc bạch và nói về việc nhận biết bản thân, đây là điều mà nhân tính bình thường nên có, là điều tích cực. Nếu thực sự nhận biết được bản thân, nói một cách chuẩn xác và chân thực về tình trạng của mình, không sai chút nào, hoàn toàn là nhận thức căn cứ vào lời Đức Chúa Trời mà nói ra, mọi người nghe xong thì đều được gây dựng, được ích lợi, hơn nữa còn làm chứng cho công tác của Đức Chúa Trời, làm vinh hiển Ngài, đây chính là làm chứng cho Đức Chúa Trời. Nếu như mượn việc mở lòng bộc bạch mà nói rất nhiều về ưu điểm của mình, về việc bản thân chịu khổ và trả giá như thế nào, đứng vững làm chứng như thế nào, thì hậu quả sẽ là khiến người ta coi trọng và sùng bái ngươi, vậy thì đây chính là đang làm chứng cho chính mình. Ngươi cần phải biết phân định sự khác biệt giữa hai điều này. Ví dụ như, nói về chuyện khi gặp phải thử luyện, mình đã yếu đuối và tiêu cực như thế nào, sau đó đã cầu nguyện và tìm kiếm lẽ thật, cuối cùng hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời, rồi có đức tin, đứng vững làm chứng, đây chính là tôn cao và làm chứng cho Đức Chúa Trời, tuyệt đối không phải thể hiện và làm chứng cho chính mình. Cho nên, rốt cuộc có phải thể hiện và làm chứng cho chính mình hay không, chủ yếu phải xem điều họ nói có phải là trải nghiệm thực sự hay không, có thể đạt đến hiệu quả làm chứng cho Đức Chúa Trời hay không, ngoài ra còn phải xem mục đích, ý định của việc nói về lời chứng trải nghiệm, như vậy thì sẽ dễ dàng phân định. Nếu ý định khi nói lời chứng là đúng đắn, thì cho dù có người coi trọng và sùng bái ngươi, chuyện đó cũng không thành vấn đề. Còn khi ý định không đúng, cho dù không có ai coi trọng và sùng bái ngươi, đó vẫn sẽ là vấn đề, nếu có người coi trọng và sùng bái, thì càng là vấn đề. Cho nên, để xác định có phải là đề cao và làm chứng cho bản thân hay không, thì không thể chỉ nhìn từ hậu quả để phân định, mà chủ yếu là nhìn vào ý định, căn cứ vào ý định để phân định thì mới chuẩn xác, nếu như chỉ căn cứ vào hậu quả để phân định thì dễ đổ oan cho người tốt. Có những người chia sẻ lời chứng vô cùng chân thực, được một vài người coi trọng và sùng bái, ngươi có thể nói rằng họ làm như vậy là đang làm chứng cho chính mình không? Không thể nói như vậy, không có vấn đề gì với người chia sẻ lời chứng. Lời chứng họ chia sẻ, bổn phận họ thực hiện là có ích lợi cho người khác, chỉ có người ngu muội, vô tri và lĩnh hội một cách lệch lạc mới sùng bái con người. Khi phân định người nào đó có phải là đề cao và làm chứng cho chính mình hay không, thì mấu chốt là phải xem ý định bên trong người chia sẻ lời chứng là gì. Nếu có ý định để cho mọi người nhìn thấy sự bộc lộ bại hoại của mình, nhìn thấy mình chuyển biến như thế nào, từ đó mà có được lợi ích, thì lời ngươi nói ra là thành khẩn, chân thực, phù hợp với sự thật. Ý định như vậy là đúng đắn, không phải là thể hiện và làm chứng cho chính mình. Nếu ý định là để cho mọi người nhìn thấy ngươi có trải nghiệm thực sự, thấy ngươi có biến đổi và có thực tế lẽ thật, rồi có thể coi trọng và sùng bái ngươi, vậy thì ý định này là sai trái, chính là đang thể hiện và làm chứng cho chính mình. Nếu lời chứng trải nghiệm ngươi chia sẻ là giả, là thêm mắm dặm muối, muốn che mắt người khác, không để người khác nhìn thấy tình trạng thực sự của ngươi, không để cho ý định, sự bại hoại hoặc sự yếu đuối, tiêu cực của ngươi bị bại lộ trước mặt người khác, thì những lời nói đó chính là đang lừa gạt, mê hoặc con người, là lời chứng giả mạo, là lừa gạt Đức Chúa Trời và làm ô danh Ngài, là điều mà Đức Chúa Trời thù ghét nhất. Những loại tình trạng này đều có khác biệt rõ ràng, đều là căn cứ vào ý định để phân định. Nếu có thể phân định được người khác, ngươi sẽ có thể nhìn thấu được tình trạng của họ, như thế, ngươi sẽ phân định được chính mình, cũng như có thể nhìn thấu được tình trạng của mình.
Sau khi nghe giảng đạo nhiều như vậy rồi, có những người vẫn tiếp tục đề cao và làm chứng cho mình như trước. Các ngươi nên đối đãi với những người như vậy thế nào? Hãy biết phân định họ, vạch trần họ và giữ khoảng cách với họ. Nếu lời họ có giá trị tham khảo, thì ngươi có thể tiếp thu, nhưng nếu lời họ không có giá trị tham khảo gì cả, thì ngươi nên vứt bỏ và đừng để bị ảnh hưởng bởi chúng. Nếu người đang nói đến là lãnh đạo, thì hãy vạch trần họ, tố giác họ, từ bỏ họ và không chấp nhận sự lãnh đạo của họ. Hãy nói rằng: “Anh luôn đề cao và làm chứng cho mình, anh luôn khiến chúng tôi tê liệt và khống chế chúng tôi, mê hoặc chúng tôi. Chúng tôi đều ngày càng xa rời Đức Chúa Trời, thậm chí còn không có Đức Chúa Trời trong lòng – chỉ có anh. Bây giờ chúng tôi sẽ đứng lên và từ bỏ anh”. Các ngươi phải làm như vậy, các ngươi phải giám sát lẫn nhau, giám sát chính mình lẫn người khác. Chẳng phải các ngươi thường xuyên gãi đầu trước mặt người khác, hoặc nói với mọi người rằng mình đã bỏ vài bữa trong khi thực ra ăn không ít đồ ăn vặt sau lưng họ sao? Đôi lúc, khi hoàn cảnh không cho phép, thì việc người ta không tắm trong một tháng, hoặc bỏ tắm hay bỏ gội đầu vì quá bận rộn với công việc, là chuyện bình thường. Đây đều là những chuyện bình thường, là những cái giá mà con người nên trả. Nó chẳng đáng để tính đến – đừng chuyện bé xé ra to. Nếu ai đó thực sự chuyện bé xé ra to đối với những chuyện như vậy, cố tình gãi đầu trước mặt người khác và nói chưa gội đầu vài ngày, cố tình uống thuốc trước mặt người khác, hoặc giả vờ kiệt sức và sức khỏe rất kém, thì tất cả mọi người nên đứng lên vạch trần họ và tỏ thái độ ác cảm với họ. Như vậy, những kẻ vô liêm sỉ này mới có thể bị hạn chế. Họ đang đạo đức giả, họ đang làm màu cho người khác thấy, thế mà lại cố gắng khiến mọi người bày tỏ sự khen ngợi hành vi của họ, nhìn họ với con mắt ngưỡng mộ, thán phục và tán thưởng. Chẳng phải họ đang lừa mọi người sao? Những cách làm này giống như khi những người Pha-ri-si cầm Kinh Thánh và cầu nguyện ở ngã tư đường, chẳng khác gì cả. Hễ có người nói đến việc người Pha-ri-si cầm Kinh Thánh đứng ở ngã tư mà đọc Kinh Thánh hoặc cầu nguyện, thì những người này liền nghĩ: “Thật quá ô nhục. Mình sẽ không bao giờ làm chuyện như thế”. Nhưng họ lại cố tình uống thuốc hoặc gãi đầu trước mặt người khác, mà không ý thức được rằng những gì họ đang làm có cùng tính chất. Họ không thể nhìn thấu điều này. Sau này mà gặp những chuyện như thế, các ngươi phải học cách phân định và vạch trần những người như vậy, vạch trần mọi sự đạo đức giả của họ – khi đó họ mới không dám hành động theo kiểu đó. Các ngươi phải tạo chút áp lực cho họ, và để cho họ cảm thấy những cách làm, hành vi và tâm tính như thế là đáng xấu hổ, ai cũng ghê tởm. Nếu con người còn ghê tởm như vậy, thì Đức Chúa Trời có ghê tởm không? Ngài còn ghê tởm hơn. Ngươi vốn chẳng là gì. Dù ngươi không đề cao và làm chứng cho mình thì cũng đủ đáng thương hại rồi, nên nếu ngươi đáng thương hại như thế mà vẫn đề cao và làm chứng cho mình, thì chẳng phải sẽ khiến mọi người kinh tởm sao? Ngươi chưa bao giờ trung thành thực hiện bổn phận, chưa bao giờ hành động có nguyên tắc, và chưa đáp ứng được yêu cầu của Đức Chúa Trời trong bất kỳ khía cạnh nào. Như vậy là phiền phức to rồi, nếu ngươi còn đề cao và làm chứng cho mình nữa, thì chẳng phải mọi thứ sẽ càng khó khăn hơn cho ngươi sao? Ngươi sẽ càng xa yêu cầu của Đức Chúa Trời và càng cách xa việc đạt đến tiêu chuẩn được cứu rỗi.
Nói Ta nghe, tính chất của vấn đề đề cao và làm chứng cho mình là gì? Sa-tan đã làm bại hoại con người đến mức độ như thế; chẳng phải nhân tính và lý trí của họ không còn bình thường nữa sao? Khi làm bổn phận, các ngươi có những biểu hiện của việc đề cao và làm chứng cho mình không? Ai có thể nói nào? (Thưa, con đã từng có biểu hiện như thế. Khi làm bổn phận cho đến đêm khuya, con sẽ gửi một tin nhắn vào nhóm họp để người khác biết giờ này con vẫn chưa ngủ và để họ nghĩ rằng con có thể chịu khổ và trả giá. Bản thân con đã làm việc đó, con cũng thường thấy những người khác cũng làm như vậy.) Xem ra có nhiều người như vậy, không phải số ít. Làm chuyện như vậy chẳng phải là quá dư thừa sao? Thật quá ngu xuẩn! Còn ai khác muốn nói không? (Thưa, con đã từng có biểu hiện như thế. Khi thấy một số vấn đề tồn tại trong công tác của hội thánh, thì con sẽ bắt tay vào giải quyết, tạo hình tượng giả như thể con rất nhiệt huyết, nhưng đa phần sau khi nói xong, con không thực sự làm gì cả. Việc con làm không tiến triển và không năng suất, cuối cùng vấn đề vẫn chưa được giải quyết và việc đó bị để tồn đọng. Con sử dụng sự nhiệt huyết bề ngoài của mình để đánh lừa mọi người và che đậy chân tướng rằng con không thực hành lẽ thật.) Ngươi đang nói suông, mạnh miệng và không có hành động thực sự nào. Ngươi để cho mọi người thấy khí thế của mình, như thể ngươi đang thực hành lẽ thật, nhưng đến lúc làm, ngươi lại không làm cho đến nơi đến chốn mà chỉ hô khẩu hiệu. Cuối cùng, đầu voi đuôi chuột, ngươi để cho việc đó dang dở. Biểu hiện như thế cũng mang tính chất mê hoặc. Và sau này, khi chuyện tương tự xảy đến, liệu ngươi có biết phân định trong chuyện này không? (Thưa, bây giờ con đã biết phân định phần nào.) Vậy ngươi có phương hướng để xoay chuyển không? Nếu chuyện như vậy xảy đến lần nữa, ngươi có thể làm theo hai bước: bước thứ nhất là đánh giá xem liệu ngươi có thể thực sự làm tốt chuyện này không. Nếu có thể thì ngươi nên bắt tay vào làm một cách nghiêm túc và thực tế. Bước thứ hai là cầu nguyện trước Đức Chúa Trời và xin Ngài dẫn dắt ngươi nên làm thế nào, và khi làm, ngươi cũng cần tiếp nhận sự giám sát của mọi người, đồng thời quyết tâm hợp tác và phối hợp với mọi người để hoàn thành việc này. Nếu ngươi học cách làm việc theo từng bước và làm việc cho đến nơi đến chốn, thì ngươi sẽ giải quyết được vấn đề này. Khi làm việc gì đó, nếu ngươi luôn nói suông, mạnh miệng, ba hoa, chỉ làm chiếu lệ bề ngoài và không hề thực tế, thì ngươi là kẻ vô lại. Xét việc ngươi có thể thấy ra vấn đề trong công tác của hội thánh và có thể đề xuất cách giải quyết vấn đề, chứng tỏ ngươi có lẽ có tiềm năng và năng lực công tác để làm tốt việc này. Chỉ có điều là tâm tính ngươi có vấn đề – ngươi hành động nóng nảy, không sẵn lòng trả giá và chỉ chú trọng hô khẩu hiệu suông. Một khi phát hiện được vấn đề, đầu tiên hãy nhìn xem ngươi có thể giải quyết được hay không, và nếu ngươi có thể giải quyết, thì hãy gánh vác nhiệm vụ này và gánh vác cho tới cùng, làm cho xong việc, làm tốt và làm hết trách nhiệm của mình, cũng như giải trình với Đức Chúa Trời. Đây chính là làm bổn phận, là làm việc và làm người cho đến nơi đến chốn. Nếu ngươi không thể giải quyết được vấn đề này, thì hãy phản ánh với lãnh đạo, xem ai là người phù hợp nhất để làm việc này. Đầu tiên, ngươi phải làm hết trách nhiệm của mình; như vậy, ngươi mới giữ vững bổn phận và đứng đúng vị trí. Sau khi phát hiện vấn đề, nếu ngươi không thể giải quyết, nhưng có thể phản ánh, thì ngươi đã làm tròn trách nhiệm đầu tiên của mình. Nếu ngươi cảm thấy đây là bổn phận mình nên làm và mình có thể làm được, thì ngươi nên tìm kiếm sự trợ giúp của các anh chị em, đầu tiên là thông công về các nguyên tắc và lập kế hoạch, sau đó phối hợp hài hòa với nhau để hoàn thành việc này. Đây là trách nhiệm thứ hai của ngươi. Nếu ngươi có thể gánh vác cả hai trách nhiệm này, thì ngươi sẽ làm tốt bổn phận của mình và là một loài thọ tạo đạt tiêu chuẩn. Bổn phận của con người không gì khác ngoài hai khía cạnh này. Nếu ngươi có thể gánh vác những việc mà ngươi thấy được và làm được, làm tốt bổn phận của mình, thì ngươi hợp tâm ý của Đức Chúa Trời rồi.
Còn biểu hiện nào khác của việc đề cao và làm chứng cho mình không? (Thưa, gần đây con có biểu hiện như thế. Trong khi làm bổn phận, con bận rộn cả ngày, và có một số vấn đề trong hội thánh mà con chưa giải quyết được một cách thực tế, mà thay vào đó chỉ làm qua loa cho xong. Nhưng một số người thấy ngày nào con cũng bận rộn làm bổn phận, nên xem trọng và thán phục con. Hành vi này cũng có yếu tố đề cao và làm chứng cho mình, đúng không ạ? Con không thể nhìn thấu được việc này và luôn cảm thấy bị kìm kẹp một chút.) Đây có phải là làm chứng cho mình không? Nếu ngươi bận rộn làm bổn phận, có thể chịu khổ và không oán trách, và dân được Đức Chúa Trời chọn coi trọng, thán phục ngươi, thì đó là chuyện bình thường và không phải là do ngươi làm chứng cho mình mà ra. Nếu ngươi chỉ bận rộn làm bổn phận và không khoe khoang hay thể hiện bản thân, cũng không nói mãi về những trải nghiệm chịu khổ của mình, thì điều này không liên quan đến việc làm chứng cho mình. Mặc dù nhiều người bề ngoài trông có vẻ bận rộn khi làm bổn phận, nhưng trên thực tế, họ không mang lại thành quả nào, cũng không giải quyết được vấn đề gì. Đức Chúa Trời có khen ngợi những người bận rộn kiểu đó không? Nếu ngươi bận rộn cả ngày với những vấn đề đơn giản mà người lĩnh hội lẽ thật và nắm được nguyên tắc có thể giải quyết trong vòng hai giờ, lại còn cảm thấy rất mệt nhọc, cảm thấy mình đã chịu khổ quá nhiều, thì đây không phải là đang tự làm mình bận rộn đôn đáo và vô ích sao? Người làm bổn phận kiểu này thì có được Đức Chúa Trời khen ngợi không? (Thưa, không.) Ngươi đang làm việc với năng suất quá kém! Đối với chuyện này, ngươi phải tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật. Có lúc người ta có rất nhiều việc phải làm và thực sự bận rộn, đó là chuyện bình thường; nhưng có lúc họ không có nhiều việc để làm, mà vẫn bận rộn. Nguyên nhân là gì? Một nguyên nhân là do công việc của ngươi không được lập kế hoạch và sắp xếp hợp lý. Ngươi phải nắm được những công tác chính yếu trong chức trách của mình, lập kế hoạch và sắp xếp chúng hợp lý, đồng thời nâng cao năng suất làm bổn phận. Bận rộn đôn đáo và vô ích sẽ không được Đức Chúa Trời khen ngợi. Một trường hợp khác là khi ngươi có ý định khiến mọi người cảm thấy ngươi bận rộn, và ngươi sử dụng phương thức này cũng như hình tượng giả để đánh lừa người khác. Có những lãnh đạo và người làm công, mỗi khi nhóm họp, đều không giải quyết vấn đề thực tế, mà thay vào đó đưa ra những bình luận vô bổ, đi lạc đề không ngừng và nói mãi mà chưa đến điểm chính. Kiểu bận rộn không phấn đấu hướng tới năng suất hoặc tiến độ này gọi là tự làm mình bận rộn vô ích. Và đây là kiểu thái độ gì? Đó là làm công tác theo kiểu cho có, qua loa chiếu lệ, giết thời gian và cuối cùng vẫn cho rằng: “Dù người khác nghĩ gì hay Đức Chúa Trời nghĩ gì đi nữa, thì cũng chỉ cần lương tâm mình bình an là được. Ít nhất mình cũng không ăn không ngồi rồi, ít nhất mình cũng không ăn cơm chùa”. Bề ngoài, có vẻ như ngươi không ăn không ngồi rồi, ngươi không ăn cơm chùa, hàng ngày ngươi không tham gia nhóm họp thì cũng làm bổn phận, và mọi việc ngươi làm đều liên quan đến công tác của hội thánh, nhưng trên thực tế, nơi sâu thẳm nội tâm ngươi biết rằng những việc ngươi đang làm không hề hữu ích hoặc có giá trị gì cả, rằng ngươi đang làm cho có. Như vậy là có vấn đề. Vậy ngươi đang làm bổn phận tốt đến đâu? Ngươi biết rất rõ rằng ngươi có vấn đề, nhưng lại không tìm kiếm lẽ thật để giải quyết – đây chính là qua loa chiếu lệ, tê liệt và cương ngạnh. Hậu quả của việc qua loa chiếu lệ và câu thời gian khi làm bổn phận là gì? Chắc chắn ngươi sẽ không được Đức Chúa Trời khen ngợi, bởi vì ngươi làm việc không có nguyên tắc hoặc năng suất, và làm bổn phận như thế này chỉ là đem sức lực phục vụ. Nếu ngươi bị tỉa sửa và được giúp đỡ, nhưng vẫn không hối cải, thậm chí còn oán trách, tiêu cực và chểnh mảng trong khi làm việc, thì ngươi chỉ có thể bị đào thải. Cho nên, nếu ngươi không mưu cầu lẽ thật để giải quyết vấn đề qua loa chiếu lệ, thì dù ngươi làm bổn phận trong bao lâu cũng vô ích, và ngươi sẽ không đạt tiêu chuẩn làm bổn phận với lòng trung thành. Vấn đề này đáng để phản tỉnh. Đức Chúa Trời yêu cầu con người làm việc có nguyên tắc, thực hành lẽ thật và làm người trung thực. Nếu có thể bước vào những lẽ thật này, thì sẽ làm bổn phận có kết quả và ít ra cũng có thể làm việc có nguyên tắc. Căn bản và mấu chốt để nâng cao năng suất nằm ở chỗ này. Nếu không có các nguyên tắc lẽ thật, thì dù có bận rộn thực hiện bổn phận đến đâu và dù làm việc bao lâu mỗi ngày, cũng sẽ không có kết quả thực sự. Khi đánh giá việc con người có làm bổn phận với lòng trung thành hay không, Đức Chúa Trời không nhìn vào việc họ làm bổn phận trong bao lâu, mà nhìn vào những kết quả thực tế và năng suất làm việc của họ, cũng như việc họ có làm việc có nguyên tắc và hợp lẽ thật hay không. Nói một cách đơn giản, Ngài nhìn vào việc con người có lời chứng trải nghiệm thực sự và lối vào sự sống khi làm bổn phận hay không. Nếu không có bất kỳ thực tế lẽ thật nào, thì con người chỉ là người đem sức lực phục vụ, nhưng nếu họ có thể thực hành lẽ thật và làm việc có nguyên tắc, thì đó là dấu hiệu cho thấy họ đang thực hiện bổn phận như dân của Đức Chúa Trời. Thông qua so sánh này, có thể hiểu rằng chỉ những người làm bổn phận đạt tiêu chuẩn mới có thể được coi là dân của Đức Chúa Trời. Những người làm bổn phận không đạt tiêu chuẩn, luôn qua loa chiếu lệ, chỉ là người đem sức lực phục vụ. Nếu có thể đi đến chỗ hiểu được lẽ thật và làm việc có nguyên tắc, thì làm bất kỳ bổn phận nào cũng sẽ không thành vấn đề, và chỉ cần tìm tòi một thời gian thì cuối cùng sẽ có thể đạt đến làm bổn phận đạt tiêu chuẩn. Đối với những người quá kém về tố chất hoặc luôn qua loa chiếu lệ, thì sẽ khó đáp ứng yêu cầu, và việc làm bổn phận của họ chẳng qua chỉ là đem sức lực phục vụ. Đối với những người hồ đồ, những người ngu dốt và những người có nhân tính quá xấu, không chuyên tâm vào việc chính đáng, không tiếp nhận lẽ thật dù được thông công thế nào đi nữa, lại còn tiếp tục làm xằng làm bậy, thì chỉ có thể bị đào thải, để cho họ muốn tin Đức Chúa Trời thế nào thì tin. Vì vậy, nếu làm bổn phận mà không có nguyên tắc, mỗi ngày bận rộn đôn đáo và vô ích, thì phải khẩn trương tìm kiếm lẽ thật để giải quyết chuyện này và đạt đến làm việc có nguyên tắc. Mỗi ngày nên có thể làm bổn phận một cách bình thường và không được thấy mình làm việc lâu giờ là đã hài lòng, quan trọng là phải năng suất và có được thành phẩm – chỉ những người như thế mới là người được Đức Chúa Trời khen ngợi và trung thành làm bổn phận.
Ngày nay, có nhiều người đi theo Đức Chúa Trời và đang thực hiện bổn phận của mình, nhưng có một bộ phận không bao giờ mưu cầu lẽ thật, khi thực hiện bổn phận thì luôn tùy ý làm bậy, làm theo ý mình, muốn làm sao thì làm vậy. Họ không phạm sai lầm lớn, nhưng không ngừng phạm những sai lầm nhỏ, ngày nào trông cũng có vẻ bận rộn, nhưng trên thực tế thì không làm bao nhiêu việc chính đáng và đang sống cho qua ngày. Cũng có thể nói rằng họ chỉ làm công việc của mình để kiếm sống. Những người như thế chẳng phải gặp nguy hiểm sao? Nếu luôn tiếp cận bổn phận của mình và sự ủy thác của Đức Chúa Trời với thái độ khinh mạn như vậy, thì hậu quả sẽ như thế nào? Làm công tác không hiệu quả và bị tước bổn phận là hậu quả nhẹ – nếu làm đủ loại việc ác thì nên bị thanh lọc, và Đức Chúa Trời sẽ giao một kẻ như vậy cho Sa-tan. Bị giao cho Sa-tan nghĩa là gì? Nghĩa là Đức Chúa Trời sẽ mặc kệ họ, Đức Chúa Trời sẽ không cứu rỗi họ, và họ sẽ bắt đầu đi sai đường để rồi bị trừng phạt. Các ngươi hiểu được chuyện này, phải không? Bây giờ là thời điểm Đức Chúa Trời tỏ lộ con người, và nếu ngươi nhất thời không đi đúng đường, thì Đức Chúa Trời sẽ mượn hoàn cảnh thực tế để cho ngươi cơ hội nhận thức được vấn đề của mình. Nhưng một khi ngươi biết rằng Đức Chúa Trời đã cho ngươi chút thời gian để phản tỉnh, đang cho ngươi một cơ hội cuối cùng, mà ngươi vẫn không quay đầu, vẫn ngoan cố làm bổn phận qua loa chiếu lệ, thì Đức Chúa Trời sẽ hành động. Khi hủy diệt thành Ni-ni-ve, Đức Chúa Trời có làm ngay không? Không. Khi Đức Chúa Trời hành động, bước đầu tiên của Ngài là gì? Đầu tiên, Ngài thông báo cho Giô-na, và phán bảo rõ ràng với ông về toàn bộ tiến trình sẽ như thế nào và ý của Ngài là gì. Sau đó, Giô-na đến thành Ni-ni-ve và đi khắp quanh thành, thông báo rằng: “Còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-ve sẽ bị đổ xuống!” (Giô-na 3:4). Thông điệp này đã đến tai hết thảy mọi người; đàn ông, đàn bà, người trẻ, người già, và dân chúng từ mọi ngành nghề xã hội đều nghe tin – mọi nhà đều hay biết, ngay cả nhà vua cũng nghe tin. Tại sao Đức Chúa Trời lại hành động như vậy? Nhìn vào việc này, có thể thấy rằng dù Đức Chúa Trời cứu rỗi, tỏ lộ hay trừng phạt con người, thì cách Ngài đối đãi con người đều có trình tự và nguyên tắc. Ngài không hành động tùy hứng, thấy ai không vừa mắt liền lập tức tiêu diệt. Mà thay vào đó, Ngài để chút độ chênh về thời gian. Khi để chút độ chênh về thời gian này, mục đích của Ngài là gì? (Thưa, đó là để cho con người hối cải.) Đó là để cho dân Ni-ni-ve biết Ngài định làm gì và để cho họ phản tỉnh, từng chút hiểu được tâm ý của Ngài và dần dần bắt đầu quay đầu. Có quá trình để con người nhận ra được điều này, và 40 ngày này chính là thời gian Đức Chúa Trời cho con người để quay đầu. Nếu sau 40 ngày mà họ vẫn không quay đầu và không nhận tội với Ngài, thì Ngài sẽ hoàn thành việc này theo những gì Ngài đã phán. Đó là bởi Đức Chúa Trời đã phán tất tính, đã tính tất thành – những lời này không có gì sai. Vậy thì khi nhận được tin này, phản ứng của dân Ni-ni-ve là gì? Họ có lập tức quấn bao gai và ngồi trong tro không? Không, chuyện này có một quá trình. Lúc đầu, mọi người có thể nghi ngờ: “Đức Chúa Trời định hủy diệt chúng ta, Ngài thực sự phán như vậy sao? Chúng ta đã làm gì?”. Sau đó, mọi nhà đều báo tin cho nhau và cùng nhau bàn luận về việc này. Họ cảm thấy nguy cơ đã đến và họ đang đứng trước ngã rẽ sinh tử tồn vong. Vậy thì họ nên làm gì? Họ nên nhận tội và hối cải, hay hoài nghi và phản kháng? Nếu họ thực sự chọn cách hoài nghi và phản kháng, thì hậu quả sẽ là họ bị hủy diệt sau 40 ngày, nhưng nếu họ nhận tội và quay đầu, thì họ vẫn còn đường sống. Sau khi bàn luận về việc này ở mọi tầng lớp trong nhiều ngày, một bộ phận cực nhỏ người dân đã có thể có thái độ nhận tội và quay đầu. Họ đã có thể quỳ lạy, hiến tế hoặc thể hiện một số hành vi và biểu hiện tốt. Nhưng có một nhân vật quan trọng nhất đã cứu sống thành này – đó là ai? Đó chính là vua Ni-ni-ve. Ông đã ra lệnh cho cả nước, từ nhà vua cho đến tận dân thường dưới đáy xã hội, đều phải quấn bao gai và ngồi trong tro để nhận tội và hối cải với Giê-hô-va Đức Chúa Trời. Sau khi một lệnh như vậy được ban hành, liệu có bất kỳ ai trong thành dám không làm không? Vua có dạng quyền lực này. Nếu ông sử dụng quyền lực trong tay để làm những việc xấu, thì người dân cả nước đã phải chịu đại họa, nhưng thay vào đó, ông đã sử dụng quyền lực này để làm những việc tốt, những việc thờ phượng Đức Chúa Trời và quay trở lại với Ngài, và thành phố được tồn tại, người dân cả nước đã được cứu sống và có hy vọng được xá tội. Chẳng phải điều này được quyết định chỉ bởi một suy nghĩ của vị vua này sao? Nếu ông nói: “Dù các ngươi có sẵn lòng hối cải hay không, ta cũng sẽ không hối cải; các ngươi muốn làm gì thì làm. Ta không tin vào những chuyện như thế, ta cũng chưa làm gì ác cả. Ta còn có địa vị nữa, Đức Chúa Trời làm gì được ta? Ngài có thể truất ngôi của ta không? Nếu thành này bị hủy diệt thì cứ để vậy đi. Không có những dân chúng này, ta vẫn là vua như trước!”. Nếu ông có ý nghĩ và tư tưởng như thế thì sao? Thì số dân chúng được cứu rỗi sẽ ít hơn nhiều, và cuối cùng Đức Chúa Trời có thể chọn lọc đưa ra khỏi đó những người sẵn lòng hối cải. Sau khi Ngài đưa họ ra, những người thà chết cũng không hối cải sẽ bị hủy diệt cùng thành, và tất nhiên vua cũng nằm trong số đó. Còn đối với những người sẵn lòng hối cải, họ sẽ có thể tiếp tục sống sau khi được Đức Chúa Trời đưa ra khỏi thành. Nhưng điều tuyệt vời nhất ở đây là vua Ni-ni-ve đã có thể đi đầu trong việc quấn bao gai và ngồi trong tro, đồng thời lệnh cho dân chúng trong thành, dù là đàn bà hay đàn ông, trẻ hay già – bất kể là ai, bất kể quan lại cấp cao đến đâu hay người dân thấp cổ bé họng thế nào – từ quý tộc cho đến dân thường, tất cả đều phải quấn bao gai và ngồi trong tro, quỳ lạy trước Giê-hô-va Đức Chúa Trời, phủ phục và nhận tội, tỏ thái độ quay đầu, rời bỏ con đường ác và vứt bỏ việc ác trong tay, hối cải với Đức Chúa Trời và cầu xin Ngài không hủy diệt họ. Vua Ni-ni-ve đi đầu bằng việc hối cải và nhận tội với Đức Chúa Trời, và nhờ thế mà cứu được toàn bộ dân chúng trong thành, nhiều người được lợi cùng ông. Bằng cách đi đầu trong việc làm này, quyền lực của ông đã có giá trị. Việc vị vua này dẫn dắt dân mình quay trở lại trước Đức Chúa Trời là điều mà Đức Chúa Trời ghi nhớ.
Việc thông công về nội dung kẻ địch lại Đấng Christ đề cao và làm chứng cho mình chi tiết như vậy thì có ích lợi gì cho các ngươi không? Thông công lặp đi lặp lại nhiều lần như thế này, đưa ra ví dụ, kể câu chuyện, sử dụng các phương thức và từ ngữ khác nhau để mô tả và định nghĩa – nếu người ta vẫn không hiểu, thì họ thực sự không có hiểu biết thuộc linh rồi, và những người như thế này vô phương cứu vãn. Mục đích của việc thông công chi tiết như vậy là gì? Đó là để đảm bảo rằng sau khi người ta nghe những lời này, những gì họ hiểu và tiếp nhận không phải là đạo lý, không phải là nghĩa đen, cũng không phải là một câu nói nào đó, mà là tình hình thực tế, cũng như một số lẽ thật và nguyên tắc liên quan đến thực chất của con người, sự sinh tồn và cuộc sống của họ. Nếu các ngươi có thể dùng những câu nói hoặc những ví dụ mà Ta nói đến này để đối chiếu với tình trạng thực tế của mình hoặc những điều mình bộc lộ trong cuộc sống, thì các ngươi có thể hiểu được lẽ thật và là người có hiểu biết thuộc linh. Có thể đối chiếu nghĩa là kết nối được mỗi ví dụ và sự việc được nói đến với tình trạng của ngươi, kết nối được những khía cạnh lẽ thật đang được thông công với tình trạng và những sự bộc lộ của ngươi. Nếu ngươi biết cách kết nối và vận dụng chúng, thì ngươi có hiểu biết thuộc linh, có hy vọng bước vào thực tế lẽ thật, và có thể hiểu lẽ thật. Nếu dù có nói gì, ngươi cũng không hiểu được, không đối chiếu được với bản thân, nghe cái gì cũng không thấy chúng có liên quan đến những gì mình bộc lộ, đến thực chất bản tính của chính mình, không kết hợp được chúng, thì ngươi dốt đặc cán mai và không thể tiếp thu được gì vào đầu; ngươi không có hiểu biết thuộc linh. Những người không có hiểu biết thuộc linh như thế chỉ phù hợp để đem sức lực phục vụ và không thể bước vào thực tế lẽ thật. Con người muốn được cứu rỗi thì phải bước vào thực tế lẽ thật, muốn bước vào thực tế lẽ thật thì phải hiểu được những lời này, hiểu được những câu chuyện và tình tiết này mà Ta nói đến, cũng như mỗi sự tình, mỗi loại bộc lộ, và thực chất, biểu hiện, tình trạng của mỗi loại người là gì, đồng thời đạt đến có thể đối chiếu chúng với bản thân. Chỉ như vậy mới có thể hiểu được lẽ thật; nếu không đạt đến điểm này thì không có cách nào hiểu được lẽ thật. Cũng giống như khi người ta nuôi gà – nếu nuôi gà được nửa năm mà gà vẫn chưa đẻ trứng, thì có thể nói con gà này không đẻ trứng không? (Thưa, không.) Nếu người chủ nuôi con gà này đã ba năm và cho nó ăn ngũ cốc, rau xanh, nhưng dù cho ăn gì, nó vẫn không đẻ trứng, thì có thể nói con gà này không đẻ trứng không? (Thưa, có.) Vậy thì đối với con người, có những người, dù nghe giảng đạo thế nào, dù được thông công về lẽ thật thế nào, họ cũng không hiểu được. Đây chính là người không có hiểu biết thuộc linh. Lại có loại người, nghe xong thì có thể hiểu được, nhưng lại không đưa vào thực hành, không quay đầu. Loại người này coi như xong và cũng giống như dân thành Sô-đôm – chắc chắn phải chịu số phận là đối tượng bị hủy diệt. Những kẻ địch lại Đấng Christ thuộc loại người này; dù ngươi có thông công về lẽ thật thế nào đi nữa, họ cũng sẽ không quay đầu. Đây có phải chỉ là tâm tính cương ngạnh không? (Thưa, không.) Họ có thực chất bản tính đối địch với Đức Chúa Trời và thù hằn lẽ thật, loại người này thì khỏi nói đến chuyện hiểu được lẽ thật. Họ biến lẽ thật thành kẻ thù, căm thù lẽ thật và Đức Chúa Trời, thù hằn những điều tích cực, cho nên khi ngươi thông công về lẽ thật, họ không xem đó là lẽ thật, mà như một kiểu lý luận, học thuật hoặc đạo lý. Sau khi nghe thông công, họ trang bị cho lòng mình để sau đó có thể thể hiện và giành được lợi ích, địa vị và danh lợi cho chính mình. Đây chính là mục đích của họ. Dù ngươi thông công về lẽ thật như thế nào, dù ngươi có nói những ví dụ gì, cũng không thể cảm hóa được họ, và ngươi không thể xoay chuyển được ý đồ hay thay đổi được phương thức làm việc của họ. Họ là người không mưu cầu lẽ thật. Những người sau khi nghe không tiếp nhận và thực hành lẽ thật, thì không thể được lẽ thật thay đổi, và Đức Chúa Trời sẽ không cứu rỗi những người như thế. Những người kiểu này về cơ bản có thể được xác định tính chất là người thù hằn lẽ thật, nói cụ thể hơn một chút, họ là kẻ địch lại Đấng Christ. Đây chính là sự khác biệt giữa kẻ địch lại Đấng Christ và người bình thường.