Mưu cầu lẽ thật là gì (7) Phần 3
Tiếp theo Ta sẽ thông công về chủ đề “Xả thân vì người”. “Xả thân vì người” là một phẩm chất đạo đức tốt đẹp trong văn hóa truyền thống Trung Quốc được người ta xem là cao thượng và vĩ đại. Đương nhiên, điều này có chút khoa trương và phi thực tế, nhưng dù vậy, người ta ai cũng công nhận nó là một phẩm chất tốt. Cứ hễ ai đó nghe nói về phẩm chất tốt này là trong đầu người ta hiện ra một số hình ảnh, chẳng hạn như: khi ngồi ăn chung thì gắp đồ ăn cho nhau và nhường món ngon cho người khác còn mình thì nhịn; khi xếp hàng mua đồ trong siêu thị thì nhường nhịn nhau, ưu tiên cho người khác trước; khi mua vé ở ga xe lửa hoặc sân bay thì nhường người khác mua vé trước; khi đi bộ hoặc lái xe trên đường thì nhường đường và cho người khác đi trước… Đây thật sự là những hình ảnh “đẹp” của “mọi người vì một người, một người vì mọi người”. Mỗi một cảnh tượng cho thấy xã hội và nhân gian ấm áp, hài hòa, hạnh phúc, an khang như thế nào. Chỉ số hạnh phúc cao vượt quá cả trăm phần trăm, vượt quá mong đợi rồi. Nếu có người hỏi họ: “Tại sao anh lại hạnh phúc như vậy?” họ đáp, “Văn hóa truyền thống Trung Quốc đề xướng xả thân vì người. Chúng tôi đều thực hành như thế, và chẳng cực nhọc chút nào, trong lòng cảm thấy quá đỗi hạnh phúc”. Trong lòng các ngươi có những cảnh tượng này không? (Thưa, có.) Có thể tìm thấy những cảnh tượng này ở đâu? Có thể tìm thấy chúng trong những bức tranh lễ hội mùa xuân thường được dán lên tường vào dịp Tết Nguyên Đán trước năm 1990. Có thể tìm thấy chúng trong tâm trí của mọi người và thậm chí trong những cái gọi là lâu đài ảo ảnh. Tóm lại, không thể thấy những cảnh tượng đẹp này trong cuộc sống thực tế. Đương nhiên, “Xả thân vì người” cũng là một yêu cầu mà các nhà đạo đức học đưa ra về tiêu chí đạo đức. Nó đưa ra một câu nói như thế đối với đức hạnh của con người, yêu cầu con người làm gì cũng phải suy nghĩ đến người khác trước thay vì suy nghĩ đến bản thân trước, phải suy nghĩ đến lợi ích của người khác chứ đừng suy nghĩ đến lợi ích của mình. Họ nên nghĩ đến người khác trước và học cách xả thân – tức là buông bỏ những lợi ích, yêu cầu, dục vọng và dã tâm của bản thân, thậm chí là buông bỏ mọi thứ của bản thân và nghĩ cho người khác trước. Bất kể con người có đạt đến yêu cầu này hay không, thì trước tiên người đưa ra câu nói này thuộc loại người nào? Họ có hiểu nhân tính không? Họ có hiểu bản năng và thực chất nhân tính của sinh vật gọi là con người không? Họ không hiểu gì hết. Những người đưa ra câu nói này hẳn là cực kỳ ngu xuẩn khi đưa ra yêu cầu xả thân vì người phi thực tế đối với những kẻ như con người, một sinh vật ích kỷ, không những có tư tưởng và ý chí tự do, mà còn đầy dã tâm và dục vọng. Bất kể con người có khả năng đạt đến yêu cầu này hay không, nếu nhìn vào thực chất và bản năng của sinh vật này, thì những nhà đạo đức học đưa ra một yêu cầu như vậy đúng là vô nhân đạo. Tại sao Ta nói họ vô nhân đạo? Ví dụ, khi ai đó đói bụng, theo bản năng họ sẽ chỉ cảm thấy mình đói và không quan tâm ai khác đói hay không. Họ sẽ nói: “Tôi đói quá, tôi muốn ăn gì đó”. Họ nghĩ đến “tôi” trước. Việc này là rất bình thường, tự nhiên và chính đáng. Chẳng có ai đang đói mà lại dối lòng hỏi người khác: “Anh muốn ăn gì?” Chính họ đang đói mà lại đi hỏi người khác muốn ăn gì thì có bình thường không? (Thưa, không bình thường.) Tối đến, khi ai đó mệt mỏi và buồn ngủ, họ sẽ nói: “Tôi mệt quá. Tôi muốn đi ngủ”. Chẳng ai nói, “Tôi mệt quá, anh đi ngủ đi, ngủ thay tôi đi. Anh ngủ rồi thì tôi sẽ không buồn ngủ nữa”. Nếu họ có biểu hiện này thì chẳng phải rất bất thường sao? (Thưa, phải.) Tất cả những gì con người có khả năng nghĩ đến và làm được theo bản năng đều là vì chính họ. Có thể chăm sóc tốt bản thân thì đã là rất tốt rồi – đây là bản năng của con người. Nếu ngươi có thể sống tự lập, đến mức mà ngươi có thể sinh sống và làm việc một mình, có thể chăm sóc bản thân, biết đi khám bác sĩ khi ốm, biết cách dưỡng bệnh, biết cách giải quyết các vấn đề và khó khăn nảy sinh trong cuộc sống, thì đã là rất tốt rồi. Tuy nhiên, xả thân vì người yêu cầu ngươi phải từ bỏ những nhu cầu của mình để suy nghĩ cho người khác, chẳng làm gì cho bản thân mà thay vào đó phải nghĩ cho người khác, làm gì cũng vì người khác – như vậy có vô nhân đạo không? Theo Ta thấy, việc này quả thực là muốn tước đoạt đi quyền sống của con người. Những chuyện ăn, mặc, đi, ở thiết yếu trong cuộc sống là thứ ngươi nên tự mình xử lý, tại sao người khác lại phải xả thân để làm và xử lý thay ngươi cơ chứ? Ngươi là loại người gì vậy? Ngươi bị thiểu năng trí tuệ, tàn tật hay là động vật? Đây là những việc mà con người có thể làm được theo bản năng – tại sao người khác lại phải từ bỏ những việc họ nên làm và hy sinh sinh lực của họ để làm những việc này cho ngươi? Như thế có thích hợp không? Chẳng phải yêu cầu xả thân vì người chỉ là phóng đại hay sao? (Thưa, phải.) Kiểu phóng đại này nghe như thế nào và nó đến từ đâu? Chẳng phải là do những người gọi là nhà đạo đức học không có một chút hiểu biết gì về bản năng, nhu cầu và thực chất của sinh vật gọi là con người, mà lại ham khoác lác về đạo đức cao thượng của họ sao? (Thưa, phải.) Như vậy chẳng phải là vô nhân đạo hay sao? (Thưa, phải.) Nếu ai cũng xả thân vì người, thì làm sao họ xử lý được việc riêng của mình? Lẽ nào trong mắt ngươi, người khác đều bị tàn tật, không có năng lực xử lý cuộc sống của họ, là những kẻ ngốc, bị thiểu năng trí tuệ hay đần độn sao? Nếu không thì tại sao ngươi phải xả thân vì người, và yêu cầu người khác xả thân vì ngươi? Kể cả một số người tàn tật cũng không sẵn lòng để người khác ra tay giúp đỡ họ, mà mong muốn sống bằng sức mình và tự xử lý cuộc sống của bản thân – họ không cần người khác phải trả giá quá mức cho họ hay giúp đỡ họ một cách quá mức. Họ muốn người khác đối đãi với họ một cách đúng đắn; đó là cách để họ giữ gìn tôn nghiêm của mình. Thứ họ cần ở người khác là sự tôn trọng, chứ không phải thương hại họ bằng cách thông cảm. Điều này thậm chí còn đúng hơn với những ai có năng lực tự lo liệu, đúng không? Vì vậy, trong mắt của Ta, yêu cầu xả thân vì người này không thể đứng vững. Nó trái với bản năng và lương tri của con người, và chí ít là vô nhân đạo. Kể cả là để giữ gìn tập tục xã hội, trị an xã hội và những mối quan hệ bình thường giữa người với người, thì cũng không cần phải dùng cách vô lý và vô nhân đạo như thế này mà yêu cầu mọi người làm trái với lòng mình và sống vì người khác. Nếu người ta chỉ sống vì người khác chứ không vì mình, chẳng phải sẽ hơi biến thái và bất thường sao?
Yêu cầu xả thân vì người áp dụng được trong những tình huống nào? Trong tình huống mà cha mẹ hành động vì con cái. Chuyện này chắc cũng là có thời hạn. Trước khi con cái trưởng thành, cha mẹ nên làm hết sức mình để chăm sóc chúng. Để nuôi con nên người và để chúng sống khỏe mạnh, hạnh phúc và vui sướng, cha mẹ hy sinh tuổi trẻ, dốc hết sinh lực, buông bỏ hưởng thụ xác thịt, thậm chí buông bỏ sự nghiệp và sở thích của mình. Họ làm tất cả những điều này vì con cái, đây là trách nhiệm. Tại sao cha mẹ phải thực hiện trách nhiệm này? Vì cha mẹ có nghĩa vụ dưỡng dục con cái của mình. Đây là trách nhiệm không thể thoái thác. Tuy nhiên, con người không có nghĩa vụ này đối với xã hội và nhân loại. Ngươi chăm sóc tốt bản thân là đủ rồi, ngươi không gây rắc rối, không làm phiền người khác, thì đã là rất tốt rồi. Có một tình huống nữa, đó là những người bị khuyết tật thể chất không có năng lực tự lo liệu và cần có cha mẹ, người thân, và thậm chí những tổ chức phúc lợi xã hội làm một số việc giúp đỡ cuộc sống của họ và duy trì sự sinh tồn của họ. Một tình huống đặc biệt khác là khi khu vực nào đó hoặc người nào đó phải hứng chịu thiên tai, và họ không thể sống sót nếu không có sự cứu tế khẩn cấp. Đây là tình huống họ cần sự giúp đỡ của người khác. Ngoài những tình huống này ra, còn tình huống nào mà con người nên xả thân vì người không? Có lẽ không. Trong cuộc sống xã hội thực tế, sự cạnh tranh rất khốc liệt, và nếu một người không vắt hết đầu óc để làm tốt công việc của mình thì sinh kế và sinh tồn của ngươi sẽ gặp trục trặc. Nhân loại không có khả năng xả thân vì người; có thể đảm bảo sự sinh tồn của bản thân và không xâm phạm lợi ích của người khác đã là không tệ rồi. Thực ra, bằng những sự tranh đấu và báo thù mà họ thực hiện trong bối cảnh và điều kiện của xã hội thực tế, bộ mặt thật của nhân loại thậm chí được phản ánh một cách chính xác hơn. Trên sân đấu, ngươi thấy rằng người ta đều dùng hết sức bình sinh xông lên phía trước, liều mạng thể hiện bản thân và cuối cùng khi giành chiến thắng, chẳng có ai nói: “Tôi không muốn chức vô địch đâu, cho anh đấy”. Chẳng ai làm thế cả. Bản năng con người là cạnh tranh để làm người đứng đầu, làm người giỏi nhất, và đứng cao nhất. Trong thực tế, con người căn bản không làm được việc xả thân vì người. Trong bản năng của con người không hề có nhu cầu hay nguyện vọng xả thân vì người. Với thực chất và bản tính của con người, con người có thể và sẽ chỉ vì bản thân. Nếu một người vì bản thân mà có thể đi con đường đúng đắn thì đã là không tệ rồi, và người này có thể được coi là một loài thọ tạo tốt giữa con người. Nếu vì bản thân mà có thể đi con đường đúng đắn, mưu cầu lẽ thật và những điều tích cực, mang đến một số ảnh hưởng tích cực đối với mọi người xung quanh, thì là rất tốt rồi. Đề xướng hay tuyên dương việc xả thân vì người chỉ là phóng đại, không phù hợp với nhu cầu của nhân loại, càng không phù hợp hiện trạng của nhân loại. Dù rằng đề xướng việc xả thân vì người không phù hợp với thực tế và vô nhân đạo, nhưng yêu cầu này vẫn chiếm một vị trí nhất định trong thâm tâm con người, và những tư tưởng của họ vẫn bị nó ảnh hưởng và ràng buộc ở nhiều mức độ khác nhau. Khi con người chỉ vì bản thân, không vì người khác, không giúp người khác, hoặc trong lòng không cân nhắc đến người khác hoặc không nghĩ đến người khác, thì trong lòng họ thường cảm thấy bị khiển trách, cảm thấy có một số áp lực vô hình, thậm chí đôi lúc còn cảm thấy có những ánh mắt khác thường nhìn họ chằm chằm. Những điều này nảy sinh do sự ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức truyền thống trong thâm tâm họ. Có phải các ngươi cũng đã bị ảnh hưởng ở nhiều mức độ bởi yêu cầu xả thân vì người trong văn hóa truyền thống không? (Thưa, phải.) Trong lòng nhiều người vẫn còn tán thành những yêu cầu này của văn hóa truyền thống, và nếu ai đó có thể làm được những yêu cầu này, bất kể là làm được yêu cầu nào, thì trong lòng người ta đều sẽ có hảo cảm với họ và không ai chê trách hay phản đối họ. Nếu có người nhìn thấy người ta ngã trên đường mà không tới đỡ họ dậy, mọi người sẽ không hài lòng với người đó, sẽ mắng người đó thật vô nhân đạo. Điều này đủ để chứng minh những tiêu chuẩn yêu cầu của văn hóa truyền thống đối với con người đều chiếm một vị trí nhất định trong lòng mọi người. Vậy thì, đánh giá một người dựa vào những thứ này của văn hóa truyền thống rốt cuộc có chính xác không? Những người không hiểu lẽ thật sẽ không bao giờ có thể nhìn thấu chuyện này. Có thể nói rằng văn hóa truyền thống luôn đồng hành cùng cuộc sống con người hàng nghìn năm nay, nhưng thực ra nó có đạt được tác dụng gì không? Nó có thay đổi được diện mạo tinh thần của nhân loại không? Nó có mang tới sự văn minh và tiến bộ cho xã hội không? Nó có giải quyết được những vấn đề trị an xã hội không? Nó có đạt được hiệu quả trong việc giáo dục nhân loại không? Nó chẳng giải quyết được vấn đề nào cả. Văn hóa truyền thống không hề có tác dụng gì, vì vậy chúng ta có thể nói chắc chắn rằng những tiêu chuẩn yêu cầu của văn hóa truyền thống đối với con người không thể được coi là tiêu chí – chúng chỉ là một loại trói buộc để trói buộc tay chân của con người, trói buộc tư tưởng của con người và quy định hành vi của họ. Chúng làm như thế để dù con người đi đâu cũng sẽ thật thà, quy củ một chút, ra dáng con người, biết kính già mến trẻ, và biết lớn nhỏ có thứ tự, không muốn để người ta trông có vẻ không hiểu chuyện, không lễ phép, khiến người khác phản cảm. Chúng cùng lắm cũng chỉ giúp con người có bề ngoài khéo léo và tao nhã hơn một chút – thật ra, nó chẳng liên quan gì đến thực chất của con người và chỉ là để đạt được sự tán dương nhất thời từ người khác và thỏa mãn lòng hư vinh của mình mà thôi. Ngươi chạy việc vặt cho người khác, được họ khen là người tốt, thì lòng ngươi phơi phới. Ngươi biết dìu già dắt trẻ, nhường ghế cho họ trên xe buýt, được người khác khen là một đứa trẻ ngoan, là tương lai của đất nước, thì lòng ngươi phơi phới. Lúc xếp hàng mua vé, ngươi nhường người khác mua trước, được người khác khen là hiểu chuyện, thì lòng ngươi cũng phơi phới. Sau khi tuân theo một số quy củ và có một vài biểu hiện tốt, ngươi cảm thấy mình có nhân cách cao thượng. Có hành vi tốt nhất thời liền cảm thấy bản thân có thân phận và địa vị cao hơn người khác, đấy chẳng phải là ngu xuẩn hay sao? Sự ngu xuẩn này có thể khiến ngươi lạc mất phương hướng và đánh mất lý trí. Chẳng đáng để dành quá nhiều thời gian thông công cho câu nói về đức hạnh xả thân vì người này. Những vấn đề của phương diện này cũng khá dễ để phân định, vì nó làm lệch lạc nhân tính, làm méo mó và ảnh hưởng lớn đến nhân cách và tôn nghiêm của con người. Nó khiến họ càng trở nên giả dối, không thực tế, tự mãn, không biết cách sống, cách để phân định con người, sự việc và sự vật trong cuộc sống thực tế, và cách để giải quyết những vấn đề khác nhau xảy đến với họ trong cuộc sống thực tế hơn. Con người chỉ biết làm một số việc tốt để giúp đỡ, giải tỏa những lo lắng và vấn đề cho người khác, nhưng lại mất phương hướng về con đường nhân sinh mà họ nên chọn, bị Sa-tan bỡn cợt và trở thành trò cười của Sa-tan – đây chẳng phải là dấu hiệu của sự sỉ nhục sao? Bất luận thế nào, cái gọi là tiêu chuẩn đạo đức xả thân vì người này chỉ là một câu nói giả dối và biến thái. Đương nhiên, trong loại chuyện này, Đức Chúa Trời chỉ yêu cầu con người làm tròn nghĩa vụ, trách nhiệm và bổn phận mà họ được giao, không được gây tổn thương, gây hại hoặc gây bất lợi cho người khác, mà có thể khiến cho người khác đạt được sự bồi dưỡng và bổ ích, như thế là được. Đức Chúa Trời không yêu cầu con người làm thêm bất kỳ trách nhiệm hoặc nghĩa vụ nào cả. Nếu ngươi có thể làm tròn mọi công tác, bổn phận, nghĩa vụ và trách nhiệm mình được giao, thì đã là không tệ rồi – chuyện này chẳng đơn giản hay sao? (Thưa, đơn giản.) Rất dễ làm được điều này. Vì nó quá đơn giản và ai cũng hiểu hết rồi, nên không cần phải thông công chi tiết thêm về nó nữa.
Tiếp theo, Ta sẽ giảng về câu nói đức hạnh “Hiền lương thục đức”. Điểm khác biệt giữa tiêu chuẩn “Hiền lương thục đức” này so với những tiêu chuẩn yêu cầu về đức hạnh khác là đối tượng mà tiêu chuẩn này hướng đến có phạm vi rõ ràng, đó là nữ giới. “Hiền lương thục đức” là một yêu cầu vô nhân đạo và phi thực tế mà những người được gọi là nhà đạo đức đề xuất đối với phụ nữ. Tại sao Ta nói như vậy? Tiêu chuẩn “Hiền lương thục đức” yêu cầu mọi phụ nữ, dù là con gái hay người vợ, chỉ cần là phụ nữ thì đều phải đạt đến hiền, lương, thục, đức. Có được đức hạnh như thế, có phẩm chất đạo đức như thế, mới là phụ nữ tốt, mới là người phụ nữ đáng được người ta tôn trọng. Ngụ ý của câu này là muốn nói với đàn ông rằng phụ nữ nhất định phải hiền lương thục đức, còn đàn ông thì không, đàn ông không cần hiền, cũng không cần lương, càng không cần thục và đức. Vậy đàn ông chỉ phải làm được cái gì? Nếu vợ họ không hiền lương thục đức thì họ có thể ly dị, có thể ruồng bỏ. Nếu người đàn ông không nỡ ruồng bỏ vợ thì phải làm sao? Thì phải biến người vợ thành một phụ nữ hiền lương thục đức – đây là trách nhiệm và nghĩa vụ của người đàn ông. Trách nhiệm xã hội của đàn ông là trông nom nghiêm ngặt, dạy dỗ và quản lý phụ nữ, phải thể hiện triệt để rằng đàn ông là chủ, phải áp chế được những phụ nữ hiền lương thục đức, làm chủ của cô ấy, làm ngôi nhà của cô ấy, bảo cô ấy làm những gì nên làm, thực hiện nghĩa vụ cô ấy nên thực hiện. Ngược lại, đàn ông không cần có dạng đức hạnh này, họ là ngoại lệ. Vì đàn ông là ngoại lệ, nên câu nói đức hạnh này căn bản chỉ là cho đàn ông một tiêu chuẩn để đánh giá phụ nữ, nghĩa là khi đàn ông muốn cưới một người vợ đức hạnh tốt thì nên đánh giá người phụ nữ đó như thế nào? Là đánh giá xem người đó có phải là người phụ nữ hiền lương thục đức không. Nếu đúng là một người phụ nữ hiền lương thục đức thì anh ta có thể cưới về, nếu không thì anh ta không nên cưới. Nếu cưới một người phụ nữ như vậy thì người khác sẽ coi thường, thậm chí còn nói rằng người phụ nữ đó không phải người tốt lành gì. Vậy, các chuyên gia đạo đức học có những yêu cầu cụ thể nào đối với sự hiền lương thục đức của phụ nữ? Những tính từ này có ý nghĩa cụ thể không? Bốn chữ “hiền” “lương” “thục” “đức” bao quát rất nhiều nội dung, và mỗi một chữ đều không dễ gì đạt được. Không một người đàn ông đạt đến được, không một phần tử trí thức nào đạt đến được, thế mà họ lại yêu cầu những phụ nữ bình thường phải làm được, như vậy là quá bất công đối với phụ nữ. Vậy, tối thiểu phụ nữ phải có những biểu hiện và đức hạnh nào mới được xem là hiền lương thục đức? Trước hết, phụ nữ phải “không ra khỏi cửa chính, không bước qua cửa phụ”, phải bó chân, bó nhỏ còn chưa đến mười phân, nhỏ hơn cả bàn chân trẻ con, làm như thế có thể hạn chế được phụ nữ và không để họ chạy lung tung. Trước khi kết hôn, phụ nữ phải không ra khỏi cửa chính không bước qua cửa phụ, ru rú nơi khuê phòng, không được phép lộ mặt ra bên ngoài, nếu làm được như vậy, thì họ có phẩm chất đạo đức hiền lương thục đức của một phụ nữ chưa kết hôn. Sau khi lấy chồng, người phụ nữ phải hiếu thuận với cha mẹ chồng và đối xử tốt với cô dì chú bác. Dù bị gia đình chồng đối xử hay ngược đãi thế nào, cũng phải nhẫn nhục chịu khó, không khác gì con bò già. Người phụ nữ không chỉ phải phục vụ mọi người trong nhà, mà còn phải sinh con nối dõi, không được phép có nửa lời oán trách. Dù có bị người lớn trong nhà chèn ép, đánh đập bao nhiêu, dù làm bao nhiêu việc, mệt mỏi thế nào, cũng không được kể lể với chồng. Dù có bị cha mẹ chồng chèn ép đến đâu, cũng không được nói ra cho người ngoài biết, không được tranh luận đúng sai, có oan khuất cũng không được nói, chỉ có thể nuốt xuống. Người phụ nữ không chỉ phải nhẫn nhục chịu khó, mà còn phải học cách cúi đầu nhẫn nhục, bấm bụng chịu đựng, nhịn nhục chịu khổ, phải học được bản lĩnh “nhẫn”. Trong nhà có món ăn gì ngon, đều phải mời người nhà trước, đầu tiên là vì hiếu thuận với người lớn, mời cha mẹ chồng, còn phải nhường chồng và con ăn nữa, đợi món ngon bị người khác ăn hết rồi, bất kể còn dư lại cái gì, có thể lấp đầy bụng là được rồi. Đối với phụ nữ, ngoài những yêu cầu Ta vừa nói, còn có những yêu cầu khác của thời hiện đại, là phải “lên được phòng khách, xuống được nhà bếp”. Nghe câu này, Ta tự hỏi, nếu phụ nữ lên được phòng khách, xuống được nhà bếp, thì đàn ông làm việc gì đây? Phụ nữ ở nhà phải nấu ăn, dọn dẹp, chăm con, lại còn phải ra đồng, đi làm – việc trong nhà, ngoài đường gì họ cũng phải giỏi, hoàn thành hết các công việc. Còn đàn ông thì ban ngày đi làm, về đến nhà thì ăn uống giải trí, chẳng động tay vào việc nhà, lỡ như đi làm mà có chuyện bực mình, thì về đến nhà lại đem vợ con ra trút giận, như vậy có công bằng không? Từ chuyện này, các ngươi thấy được gì? Không ai đặt ra yêu cầu đức hạnh nào cho đàn ông, thế mà lại yêu cầu phụ nữ phải có thể lên được phòng khách, xuống được nhà bếp, lại còn phải đạt được hiền lương thục đức, bao nhiêu phụ nữ có thể làm được chứ? Yêu cầu phụ nữ như vậy chẳng phải là bất công sao? Nếu người phụ nữ làm chút chuyện không đúng, thì sẽ bị đánh đập, nhục mạ, thậm chí có thể bị chồng ruồng bỏ. Người phụ nữ chỉ có thể chịu đựng mà thôi, nếu chịu không nổi thì chọn cách tự sát. Thấy người phụ nữ trói gà không chặt, yếu đuối và yếu thế hơn đàn ông, thì cố ý đưa ra những yêu cầu vô nhân đạo như thế với họ, như thế chẳng phải là đang bắt nạt người ta hay sao? Trong số những phụ nữ ngồi đây hôm nay, nếu có người đưa ra yêu cầu như thế với các ngươi, các ngươi có thể lĩnh hội trong cuộc sống thực tế rằng yêu cầu này thật quá đáng không? Chẳng lẽ đàn ông được quản lý phụ nữ sao? Chẳng lẽ phụ nữ là nô lệ còn đàn ông là chủ nô sao? Chẳng lẽ đàn ông phải làm khổ phụ nữ sao? Nhìn từ hiện tượng méo mó này, thì chẳng phải yêu cầu hiền lương thục đức đóng vai trò chia rẽ xã hội sao? Chẳng phải rõ ràng là đang nâng cao địa vị xã hội của đàn ông, trong khi cố tình hạ thấp địa vị xã hội của phụ nữ sao? Yêu cầu hiền lương thục đức này khiến cả phụ nữ lẫn đàn ông càng nhận định địa vị và giá trị xã hội của phụ nữ kém hơn của đàn ông, không bằng đàn ông. Vì vậy, phụ nữ nên hiền lương thục đức, nên bị bắt nạt, nên bị kỳ thị, bị sỉ nhục, bị tước đoạt nhân quyền trong xã hội còn đàn ông mặc nhiên đứng ở vị trí chủ nhân và yêu cầu phụ nữ phải hiền lương thục đức một cách hợp lý. Như thế chẳng phải là cố ý gây ra mâu thuẫn xã hội sao? Đây chẳng phải là cố ý gây ra chia rẽ xã hội sao? Nếu phụ nữ bị bắt nạt như thế này một thời gian dài, chẳng phải sẽ có người đứng lên phản kháng sao? (Thưa, phải.) Hễ có bất công thì sẽ có phản kháng. Câu nói đức hạnh này có công bằng với phụ nữ không? Đối với phụ nữ mà nói, ít nhất, nó không công bằng, nó dung túng cho đàn ông hung hăng càn quấy, làm sâu sắc thêm sự chia rẽ xã hội, nâng cao địa vị của đàn ông trong xã hội và hạ thấp địa vị của phụ nữ thêm nữa, đồng thời tước đoạt nhiều quyền sống của phụ nữ hơn, vô hình trung khiến địa vị xã hội của đàn ông và phụ nữ càng thêm bất bình đẳng. Vai trò phụ nữ đảm nhận trong gia đình và ngoài xã hội, cũng như đức hạnh mà họ thể hiện ra có thể tóm lại trong bốn chữ: bao cát trút giận. Câu nói đức hạnh “Hiền lương thục đức” yêu cầu người phụ nữ trên thì kính trọng người lớn trong nhà, dưới thì yêu thương chăm sóc thế hệ trẻ trong nhà, còn phải cung kính, hầu hạ chồng, mọi chuyện trong nhà, mọi chuyện bên ngoài đều phải xử lý, phải làm, bất kể khổ sở thế nào cũng không được phép oán thán, đây chẳng phải là tước đoạt quyền lợi của phụ nữ sao? (Thưa, phải.) Như thế chính là đang tước đoạt quyền ngôn luận, quyền sống và tự do của phụ nữ. Tước đoạt mọi quyền lợi của phụ nữ mà vẫn yêu cầu họ thực hiện trách nhiệm của mình, như thế có nhân đạo không? Nói thẳng ra, đó chính là chà đạp phụ nữ và gây tai vạ cho phụ nữ!
Những nhà đạo đức đề xuất yêu cầu hiền lương thục đức dùng cách này để gây tai vạ cho phụ nữ, rõ ràng họ là đàn ông chứ không phải phụ nữ. Nếu là phụ nữ, họ sẽ không tự chà đạp bản thân mình như vậy, cho nên chắc chắn họ là đàn ông. Họ sợ phụ nữ quá giỏi giang, có quá nhiều quyền lợi và quá tự do, mà không bị quản chế nghiêm ngặt thì sẽ ngang vai ngang vế với đàn ông. Dần dần, những phụ nữ giỏi giang sẽ đạt được địa vị cao hơn nam giới, không còn thực hiện trách nhiệm của họ trong gia đình, gây ảnh hưởng đến sự hài hòa của gia đình. Gia đình không hài hòa thì xã hội không hài hòa, xã hội không hài hòa thì người thống trị không an tâm. Ngươi xem, nói lui nói tới rồi cũng nói đến người thống trị, lòng dạ họ không yên, liền ra tay với nữ giới, xử lý nữ giới, như thế là vô nhân đạo. Họ yêu cầu phụ nữ, dù ở trong nhà hay ở ngoài xã hội, đều phải bảo sao nghe vậy, cúi đầu nhẫn nhục, đê tiện thấp kém, bấm bụng chịu đựng, có tri thức hiểu lễ nghĩa, thùy mị chu đáo, nhẫn nhục chịu khó v.v., rõ ràng không khác gì bao cát để trút giận – có thể làm được tất cả những chuyện này thì họ có còn là con người không? Nếu họ thực sự có thể làm được tất cả những chuyện này thì họ không phải là con người; họ sẽ giống như những tượng thần mà người ngoại đạo thờ, không ăn không uống, tách biệt khỏi những bận tâm vật chất của nhân gian, không tức giận và không có tính cách, hoặc họ có thể như những con rối, những cỗ máy không suy nghĩ, không phản ứng. Nếu thực sự là con người thì sẽ có ý kiến và quan điểm đối với những câu nói và sự trói buộc từ thế giới bên ngoài, không thể lúc nào cũng cúi đầu nhẫn nhục. Chính vì thế mà trong thời cận đại, nhiều phong trào nữ quyền nổi lên, trong khoảng một thế kỷ qua, địa vị xã hội của phụ nữ đã dần dần được nâng cao, cuối cùng họ đã thoát khỏi sự trói buộc về phương diện này. Phụ nữ đã bị trói buộc bao nhiêu năm rồi? Ở phương Đông, ít nhất trong mấy nghìn năm, phụ nữ đã bị trói buộc vô cùng tàn khốc và thê thảm, đôi bàn chân cũng bó đến mức tàn phế, mà chẳng trông thấy ai bất bình thay cho phụ nữ. Nghe nói vào thế kỷ 17 và 18, một số quốc gia và khu vực ở phương Tây cũng hạn chế tự do của phụ nữ. Họ hạn chế phụ nữ bằng những cách nào? Họ bắt phụ nữ mặc những chiếc váy phồng lớn gắn chặt vào eo bằng móc kim loại, được tạo hình bằng những vòng kim loại rất nặng nề và trĩu xuống, dù là ra khỏi nhà hay đi lại cũng đều rất bất tiện, và làm ảnh hưởng đáng kể đến hành động của phụ nữ. Do đó, phụ nữ rất khó đi xa, rất khó rời khỏi nhà. Trong tình huống như thế, phụ nữ đã làm gì? Họ chỉ có thể im lặng và ở nhà, không thể đi xa. Ra ngoài đi dạo, ngắm cảnh, mở mang kiến thức hoặc thăm bạn bè là chuyện ngoài tầm với. Xã hội phương Tây dùng phương pháp này để hạn chế phụ nữ, không muốn phụ nữ ra khỏi nhà và tùy ý tiếp xúc với bất kỳ ai. Thời đó, đàn ông có thể chạy xe ngựa đi khắp nơi, không có ai hạn chế, nhưng phụ nữ mà muốn ra khỏi nhà thì gặp phải vô số hạn chế. Đến thời cận đại, những trói buộc trên phụ nữ ngày một ít đi, đối với phụ nữ ở phương Đông, tục bó chân đã bị cấm, họ được tự do yêu đương, tương đối được giải phóng và dần dần được đi ra ngoài. Phụ nữ đi ra ngoài, bước vào xã hội và dần dần bắt đầu nhận lấy tư cách một nửa thế giới của mình. Quyền lợi và địa vị xã hội của phụ nữ tương đối được nâng cao. Dần dần, đã có nữ thủ tướng và nữ tổng thống ở một số quốc gia. Đối với nhân loại, địa vị của phụ nữ ngày càng được nâng cao là chuyện tốt hay xấu? Địa vị của phụ nữ được nâng cao ít nhất đã mang lại cho phụ nữ một số tự do và giải phóng, đương nhiên đây là chuyện tốt đối với phụ nữ. Việc phụ nữ được tự do và có quyền lên tiếng có mang lại lợi ích cho xã hội không? Thực ra là có lợi; có nhiều việc mà đàn ông làm không tốt, không sẵn lòng làm, nhưng lại là việc mà phụ nữ làm được. Phụ nữ làm rất tốt trong nhiều lĩnh vực công việc. Ngày nay, phụ nữ không chỉ có thể lái ô tô mà còn có thể lái máy bay, thậm chí có phụ nữ làm quan chức hoặc tổng thống quản lý các quốc gia, không thua kém gì đàn ông – đây là một sự thể hiện rõ ràng về nam nữ bình đẳng. Giờ đây, những quyền lợi mà phụ nữ đáng được hưởng đang được nâng cao và bảo vệ đầy đủ, đó là hiện tượng bình thường. Tất nhiên, việc phụ nữ hưởng thụ quyền lợi mình nên có là một việc chính đáng, chỉ là sau hàng nghìn năm bị bóp méo đến tận bây giờ mới trở nên bình thường, và sự bình đẳng nam nữ cơ bản đã trở thành hiện thực. Nhìn từ góc độ cuộc sống thực tế, phụ nữ bất kể thuộc tầng lớp nào cũng dần dần gia tăng trong mọi ngành nghề. Chuyện này có nghĩa là gì? Nó cho thấy rằng phụ nữ với đủ mọi chuyên môn khác nhau đang dần phát huy vai trò của mình và cống hiến giá trị của mình cho nhân loại và xã hội. Bất kể nhìn từ phương diện nào, chuyện này đều có ích cho nhân loại. Nếu quyền lợi và địa vị xã hội của phụ nữ không được khôi phục thì họ sẽ làm những công việc gì? Họ sẽ ở nhà chăm chồng nuôi con, lo liệu việc nhà và phát huy đức hạnh hiền lương thục đức, căn bản không có cách nào thực hiện được trách nhiệm xã hội. Hiện tại, sau khi quyền lợi được nâng cao và bảo vệ, sự cống hiến của phụ nữ cho xã hội có thể phát huy một cách bình thường, và nhân loại được hưởng lợi từ những giá trị và cống hiến mà phụ nữ đã dành cho xã hội. Từ thực tế này, hoàn toàn có thể khẳng định rằng nam nữ bình đẳng, đàn ông không nên hạ thấp hay ngược đãi phụ nữ, địa vị xã hội của phụ nữ nên được nâng cao, và nó đại diện cho sự tiến bộ của xã hội. Cách nhìn nhận của nhân loại hiện nay về giới tính đã có hiểu biết hơn, chính xác và chuẩn mực hơn, và cho nên phụ nữ bắt đầu xuất hiện trong những công việc mà mọi người từng nghĩ rằng họ không có khả năng làm. Không chỉ ở các công ty tư nhân mới thường xuyên nhìn thấy nhân viên nữ, mà trong các sở nghiên cứu khoa học cũng thường xuyên nhìn thấy bóng dáng phụ nữ, thậm chí tỷ lệ phụ nữ làm lãnh đạo quốc gia cũng đang gia tăng. Chúng ta cũng từng nghe tới các nữ văn sĩ, nữ ca sĩ, nữ doanh nhân và nữ khoa học gia, nhiều phụ nữ đã trở thành những nhà vô địch và xếp thứ hạng cao trong các sự kiện thể thao, còn có các nữ anh hùng trên chiến trường, tất cả đều chứng minh rằng phụ nữ không thua đấng mày râu. Tỷ lệ phụ nữ trong mọi ngành nghề đang gia tăng, chuyện này tương đối bình thường. Ngày càng ít định kiến về phụ nữ ở khắp mọi ngành nghề trong xã hội hiện tại, xã hội như thế tương đối công bằng và nam nữ thực sự bình đẳng. Phụ nữ không còn bị ràng buộc và đánh giá bởi những câu nói và tiêu chí đạo đức như “Hiền lương thục đức” hay “Ru rú trong khuê phòng”. Quyền lợi của phụ nữ giờ tương đối được bảo vệ, thật sự phản ánh nếp sống xã hội nam nữ bình đẳng.
Dường như chúng ta chỉ thấy đàn ông đòi hỏi phụ nữ phải hiền lương thục đức, nhưng chưa hề thấy phụ nữ đòi hỏi đàn ông như thế. Đây là cách đối xử vô cùng bất công với phụ nữ, thậm chí là có phần ích kỷ, hèn hạ và vô liêm sỉ. Cũng có thể nói rằng đối xử với phụ nữ như thế là phi pháp và ngược đãi. Trong xã hội đương đại, nhiều quốc gia đã ban hành luật cấm ngược đãi phụ nữ và trẻ em. Kỳ thực, Đức Chúa Trời đâu có nói gì cụ thể về giới tính của con người, bởi vì cả đàn ông và phụ nữ đều được Đức Chúa Trời tạo ra, đều phát xuất từ Đức Chúa Trời. Dùng cách nói của nhân loại thì là: “Lòng bàn tay và mu bàn tay đều là thịt”, Đức Chúa Trời không kỳ thị đàn ông hay phụ nữ, Ngài cũng không có những yêu cầu khác biệt nào đối với đàn ông hay phụ nữ, với Ngài cả hai giới đều như nhau. Do đó, bất kể ngươi là nam hay nữ, Đức Chúa Trời đều dùng một vài tiêu chuẩn như nhau để đánh giá ngươi, Ngài sẽ nhìn xem ngươi có dạng thực chất nhân tính nào, ngươi đi con đường nào, ngươi có thái độ nào đối với lẽ thật, ngươi có phải là người yêu lẽ thật không, có lòng kính sợ Đức Chúa Trời không và có thể quy phục Ngài không. Khi chọn ai đó và bồi dưỡng họ để làm một bổn phận nhất định hoặc đảm nhận một trách nhiệm nhất định, Đức Chúa Trời đâu nhìn vào chuyện người đó là nam hay nữ. Khi đề bạt và sử dụng người ta, Đức Chúa Trời không nhìn xem họ là nam hay nữ, Đức Chúa Trời chỉ nhìn xem họ có lương tâm và lý trí hay không, có tố chất đạt tiêu chuẩn hay không, có tiếp nhận lẽ thật hay không và đang đi con đường nào. Dĩ nhiên, khi cứu rỗi và hoàn thiện con người, Đức Chúa Trời cũng đâu có xem họ là nam hay nữ. Nếu ngươi là phụ nữ, Đức Chúa Trời sẽ không nhìn xem ngươi có hiền lương thục đức hay không, có ngoan ngoãn không, và Ngài cũng không đánh giá đàn ông dựa trên sự nam tính của họ, v.v. Đức Chúa Trời không dùng những tiêu chuẩn này để đánh giá con người. Nhưng trong nhân loại bại hoại, luôn có những người kỳ thị phụ nữ, đề xuất những câu nói vô đạo đức và vô nhân đạo đối với phụ nữ để tước đoạt quyền lợi của họ, tước đoạt địa vị họ nên có trong xã hội, tước đoạt giá trị họ nên có đối với xã hội, những người này mưu tính hạn chế và trói buộc sự phát triển và sinh tồn tốt đẹp của phụ nữ trong xã hội, khiến tâm lý của phụ nữ bị méo mó. Điều này khiến phụ nữ phải sống cả đời kìm nén và thống khổ, chỉ có thể sống khuất nhục trong hoàn cảnh xã hội đạo đức bất lương hoặc lệch lạc. Nguyên nhân sau cùng chỉ có một, xã hội và thế giới này bị Sa-tan nắm trong tay, và đủ thứ ác ma trắng trợn mê hoặc và làm bại hoại nhân loại, nhân loại không thấy được ánh sáng thật, không tìm kiếm Đức Chúa Trời, chỉ có thể trái lòng hoặc vô thức sống dưới sự lừa gạt và thao túng của Sa-tan, mà không thể thoát ra. Lối thoát duy nhất của họ là tìm kiếm lời Đức Chúa Trời, sự xuất hiện và công tác của Ngài để đạt đến việc biết lẽ thật và có thể thấy rõ, phân định những tà thuyết và lý luận sai lầm, những lời của quỷ và luận điệu hoang đường vốn đều phát xuất từ Sa-tan và nhân loại tà ác. Chỉ khi đó, họ mới có thể thoát khỏi những sự trói buộc, áp lực và ảnh hưởng này. Chỉ khi nhìn nhận con người và sự việc, hành xử và hành động theo lời Đức Chúa Trời và lẽ thật, thì người ta mới có thể sống ra dáng con người, sống có tôn nghiêm, sống trong ánh sáng, làm việc mình nên làm, thực hiện những nghĩa vụ nên thực hiện, và dĩ nhiên là cống hiến giá trị của mình, hoàn tất sứ mạng cuộc đời dưới sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời và sự hướng dẫn của những tư tưởng và quan điểm đúng đắn, sống như thế này không phải rất có ý nghĩa sao? (Thưa, phải.) Khi nghĩ lại về cách Sa-tan dùng câu nói “Hiền lương thục đức” để yêu cầu, kìm kẹp và khống chế phụ nữ, thậm chí là nô dịch phụ nữ trong hàng thiên niên kỷ, các ngươi cảm thấy thế nào? Mỗi khi nhắc tới “Hiền lương thục đức”, chẳng phải mọi phụ nữ đều có tâm lý trái ngược: “Đừng nói câu đó! Nó chẳng liên quan gì đến tôi cả. Dù tôi là phụ nữ, nhưng lời Đức Chúa Trời bảo rằng câu này chẳng liên quan gì đến phụ nữ cả” sao? Có một số đàn ông bảo: “Nếu câu này không liên quan đến cô thì liên quan đến ai? Cô không phải là phụ nữ sao?” Ngươi mới đáp lại rằng: “Tôi là phụ nữ, sự thật là vậy. Nhưng những lời này không đến từ Đức Chúa Trời, không phải là lẽ thật. Những lời này đến từ ma quỷ và con người, chúng chà đạp phụ nữ và tước đoạt quyền sống của họ. Những lời này vô nhân đạo và bất công với phụ nữ. Tôi phải phản kháng!” Thật ra phản kháng là việc không cần thiết. Ngươi chỉ cần có cách tiếp cận đúng đắn với những câu này, loại bỏ chúng và không để chúng ảnh hưởng hay ràng buộc ngươi. Nếu sau này có ai bảo ngươi: “Cô trông chẳng giống phụ nữ, cô nói năng thô lỗ như đàn ông. Sau này, ai cưới cô chứ” thì ngươi nên trả lời thế nào? Ngươi có thể nói: “Không có ai cưới tôi thì thôi. Lẽ nào phải có người cưới thì mới sống có tôn nghiêm sao? Lẽ nào phải hiền lương thục đức, người thấy người yêu, hoa thấy hoa nở, mới là phụ nữ đích thực sao? Nói thế không thể nào đúng được, không nên định nghĩa phụ nữ bằng mấy chữ hiền lương thục đức. Không nên định nghĩa phụ nữ bằng giới tính, và không nên định nghĩa nhân tính của phụ nữ bằng hiền lương thục đức, mà phải đánh giá dựa trên những tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời dùng để đánh giá nhân tính của con người. Như thế mới là cách đánh giá công chính và khách quan”. Giờ các ngươi đã hiểu căn bản về câu nói đức hạnh “Hiền lương thục đức” chưa? Ta thông công cho đến lúc này hẳn đã nói rõ được những lẽ thật liên quan đến câu nói này và những quan điểm đúng đắn mà con người nên tiếp cận câu nói này.
Còn có một câu nói khác: “Uống nước nhớ nguồn” Ta không muốn thông công về câu nói này. Tại sao? Câu nói này về tính chất cũng tương tự như câu nói “Xả thân vì người”, nó cũng có một chút ý nghĩa biến thái. Mỗi lần uống nước giếng là người ta phải tỏ lòng tôn kính người đào giếng, như thế chẳng phải quá phiền phức sao? Có những cái giếng được treo dải băng đỏ, lá bùa vàng, nếu người ta còn thắp hương và cúng hoa quả ở giếng, vậy chẳng hơi biến thái sao? So với câu “Uống nước nhớ nguồn”, Ta thích câu nói “Đời trước trồng cây, đời sau hưởng bóng mát” hơn, bởi vì đây mới là sự thật, người ta đều có thể trải nghiệm và thể nghiệm được. Phải mất mười đến hai mươi năm thì cây mới lớn đủ để có bóng mát, nên người trồng cây không hề được hưởng thụ bao nhiêu, chỉ có những thế hệ kế tiếp mới có thể liên tục hưởng thụ. Đây là quy luật tự nhiên. Ngược lại, nếu đưa câu nói đức hạnh “Uống nước nhớ nguồn” vào thực hành thì thần kinh có hơi nhạy cảm quá rồi. Nếu ai cũng phải nhớ lại và nhắc đến người đào giếng mỗi một lần tới uống nước giếng đó, thì chẳng phải có hơi thần kinh sao? Nếu năm đó khô hạn, nhiều người phải lấy nước ở giếng đó, mà cứ nhớ lại, nhắc đến một lúc trước khi lấy nước thì chẳng phải sẽ ảnh hưởng người khác lấy nước, nấu ăn hay sao? Làm vậy có thật sự cần thiết không? Làm vậy sẽ gây chậm trễ vô cùng. Linh hồn người đào giếng ở cạnh miệng giếng sao? Người đó có nghe được những lời này không? Chuyện này đâu ai xác nhận được. Cho nên câu nói “Uống nước nhớ nguồn” là hoang đường và hoàn toàn vô nghĩa. Văn hóa truyền thống Trung Quốc đã đưa ra nhiều câu nói về phương diện đức hạnh, đa số chúng đều hoang đường, mà câu nói này lại càng hoang đường hơn. Ai đã đào cái giếng đó? Đào cho ai và vì lý do nào? Người đó thật sự đào giếng vì mọi người và vì các thế hệ sau sao? Không hẳn. Người đó chỉ đào cái giếng cho mình, để gia đình mình giải quyết vấn đề uống nước, chứ chẳng quan tâm gì đến các thế hệ sau cả. Vậy thì khiến các thế hệ sau tưởng niệm và cảm tạ người đào giếng, cho rằng người đó đào giếng này vì mọi người, chẳng phải là đang mê hoặc và gây lầm lạc cho mọi người sao? Do đó, người nào đề xuất câu nói này chỉ đang áp đặt ý kiến và quan điểm của họ lên người khác, bắt họ tiếp nhận. Làm như thế là vô đạo đức, thậm chí khiến trong lòng người ta ác cảm, bài xích và chán ghét câu nói như thế này hơn nữa. Những ai tuyên dương dạng câu nói này chắc chắn là có khiếm khuyết về trí tuệ nên nói chuyện và làm việc khó tránh khỏi có chút hoang đường. Những tư tưởng và quan điểm của văn hóa truyền thống như câu nói “Uống nước nhớ nguồn” và “Nhận ơn một giọt, trả ơn một dòng” có ảnh hưởng nào trên người ta? Những người có học và có chút tri thức sẽ đạt được gì từ những văn hóa truyền thống này? Họ có thật sự trở thành người tốt không? Họ đã sống ra dáng con người sao? Tuyệt đối là không. Những nhà đạo đức tôn sùng văn hóa truyền thống này ngồi trên đỉnh cao đạo đức mà đặt ra cho con người những yêu cầu đạo đức không phù hợp chút nào với tình hình thực tế của nhân loại, làm như thế chính là vô đạo đức và vô nhân đạo với tất cả mọi người sống trên thế gian. Hậu quả của quan điểm đạo đức về văn hóa truyền thống mà họ tuyên dương là có thể biến một người lý trí khá bình thường trở thành một người lý trí bất thường, có thể nói ra những điều mà người khác chẳng tưởng tượng nổi, nghe không hiểu nổi. Những người như thế thì nhân tính bị méo mó và tâm lý bị biến thái rồi. Chẳng trách ở các sự kiện thể thao, nơi công cộng và chốn quan trường, nhiều người Trung Quốc hay nói ra những lời hơi khác thường khiến người khác suy nghĩ không ra. Mọi lời họ nói đều là lý luận sáo rỗng và sai lầm, chẳng hề có chút thật lòng hay chân thực nào cả. Đây là bằng chứng xác thực, là kết quả của việc Sa-tan làm bại hoại nhân loại, và là hậu quả của việc người Trung Quốc bị văn hóa truyền thống giáo dục qua nhiều thiên niên kỷ. Tất cả những điều này đã biến những con người sống chân thực và xác thực trở thành những người giả dối, giỏi che đậy, đeo mặt nạ lừa người, trông như có văn hóa cao, mở miệng nói lý luận, nhưng thật ra họ chỉ là những người tâm thái lệch lạc, chẳng nói được tiếng người, chẳng giao tiếp được với người, không thể chung sống với người, về cơ bản họ đều mang tính chất như thế. Nghiêm khắc mà nói, những người đó đang ở bên bờ vực bị bệnh thần kinh rồi. Nếu ngươi không tiếp nhận nổi những lời này, Ta khuyên ngươi nên thể nghiệm chúng. Buổi thông công hôm nay kết thúc tại đây.
Ngày 2 tháng 4 năm 2022
Nội dung liên quan
Lời Đức Chúa Trời | Hiểu được tâm tính của Đức Chúa Trời là điều rất quan trọng
Đọc diễn cảm lời Đức Chúa Trời Toàn Năng...