Cách mưu cầu lẽ thật (16) Phần 4
Loại người không rõ phải trái cũng sẽ thuận theo một vài câu nói đúng đắn và tích cực, hoặc bề ngoài họ cũng làm theo người khác mà thích và khao khát một vài điều tích cực. Nhưng một khi thời gian trôi qua, môi trường khác đi, con người, sự việc và sự vật thay đổi, thì trong sâu thẳm nội tâm họ, những điều tích cực sẽ lập tức trở thành những điều tiêu cực, đồng thời những điều tiêu cực mà họ thực sự thích sẽ theo đó mà trở thành những điều tích cực, thành đối tượng theo đuổi của họ. Nói cách khác, trước khi thấy được bất kỳ điều tiêu cực nào mà mình thích, thì đối với họ, những điều tích cực chỉ là một dạng đạo lý, và họ có thể hùa theo số đông, gió chiều nào theo chiều đấy, nhưng theo tuổi tác tăng dần và thời gian trôi qua, những thứ họ thực sự yêu thích trong lòng và những quan điểm thực sự của họ sẽ tự nhiên lộ diện. Chẳng hạn như, có người thường nói: “Tin Đức Chúa Trời là tốt, người tin Đức Chúa Trời thì đi theo con đường đúng đắn và không hành ác, đều là người tốt”. Nhưng sau khi họ tin Đức Chúa Trời được mấy năm, thấy những bài giảng đạo và mối thông công của nhà Đức Chúa Trời đều bảo người ta làm người trung thực, mưu cầu lẽ thật, thuận phục Đức Chúa Trời và làm bổn phận của loài thọ tạo, thì họ thấy phản cảm, cảm thấy tin Đức Chúa Trời chẳng có ý nghĩa, và muốn rời khỏi hội thánh mà quay về thế gian, lòng họ không còn ở hội thánh nữa. Người không yêu thích lẽ thật chính là vậy. Thực ra, loại người này đâu có yêu thích những điều tích cực, hơn nữa trong lòng họ có rất nhiều lý lẽ méo mó và tà thuyết. Đối với họ, những lý lẽ méo mó và tà thuyết này chính là điều tích cực, đồng thời trong sâu thẳm nội tâm, họ lại thấy phản cảm, ghê tởm và xem thường những điều tích cực đích thực, chẳng bao giờ tiếp nhận. Chính vì họ chẳng bao giờ tiếp nhận những điều tích cực, lại còn thích những điều tiêu cực, cho nên trong nhân tính của loại người này không có năng lực rõ phải trái. Cũng như có vài người khi mới tin Đức Chúa Trời thì chỉ tin vì muốn kiếm phúc lành. Sau khi nghe giảng đạo nhiều năm, cuối cùng họ hiểu ra rằng: “Tin Đức Chúa Trời nghĩa là được yêu cầu làm người trung thực, trung thành và chịu trả giá trong khi làm bổn phận, có lòng thành với Đức Chúa Trời, không được tùy ý làm càn, còn phải bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Nhất là vào lúc lợi ích của nhà Đức Chúa Trời xung đột với lợi ích bản thân, thì phải bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và từ bỏ lợi ích bản thân”. Khi đã hiểu được mọi phương diện lẽ thật khác nhau rồi, thì họ hối hận vì đã tin Đức Chúa Trời, nói rằng: “Tôi cứ tưởng tin Đức Chúa Trời nghĩa là sẽ có một đoàn thể lớn, một thế lực lớn để có thể cậy dựa, tưởng rằng chỉ cần người ta vứt bỏ nhiều, chịu khổ và trả giá là có thể vào vương quốc và có đích đến tốt đẹp, oanh liệt bước vào thời đại kế tiếp và làm chủ nhân của thời đại, nắm quyền như vua. Hóa ra không phải như vậy. Việc tin Đức Chúa Trời toàn là về chuyện dạy người ta cách làm người, cách thuận phục Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác, nhất là luôn bảo người ta làm người trung thực và nói lời trung thực, luôn yêu cầu người ta thực hành lẽ thật, không để người ta tự mình định đoạt. Vậy thì tin Đức Chúa Trời còn có ý nghĩa gì chứ?”. Trong lòng họ nảy sinh sự oán trách, muốn rút lui và không tin nữa. Nhưng khi nghĩ đến chuyện đã tin Đức Chúa Trời mấy năm rồi, giờ mà không tin nữa thì chẳng phải là đã tin uổng công sao, thế là họ không cam tâm. Nhưng nếu tiếp tục tin, thì họ lại chẳng có hứng thú với lẽ thật. Nhà Đức Chúa Trời lúc nào cũng nói về chuyện mưu cầu lẽ thật và bước vào thực tế, lúc nào cũng nói về chuyện thuận phục Đức Chúa Trời, tìm kiếm lẽ thật, và hành động theo nguyên tắc. Họ nghe những chuyện đó thì thấy phiền, không muốn nghe nữa. Nhất là khi nói đến chuyện thực hành lẽ thật thì lòng họ khó chịu và đau khổ, khi nói đến những điều tích cực thì họ thấy phản cảm và khinh thường trong lòng, không sẵn lòng nghe. Có những người biết mình có tin đến cùng thì cũng chẳng đạt được lẽ thật, chẳng đạt được đích đến tốt đẹp gì, nên họ dứt khoát không tin nữa. Có người đi làm công hoặc làm ăn, có người về nhà để kết hôn. Họ không tin Đức Chúa Trời nữa là vì họ không yêu thích lẽ thật. Nhà Đức Chúa Trời luôn nói về lẽ thật và thông công lẽ thật, điều mà họ đặc biệt thấy phản cảm. Điều này cho thấy loại người này không có lương tâm, lý trí, và không rõ phải trái. Không rõ phải trái nghĩa là trong nhân tính của họ không có tiêu chuẩn lẫn năng lực để nhận diện những điều tích cực và những điều tiêu cực, đây là điều mà họ không có. Vậy loại người này có nhân tính bình thường không? (Thưa, không có.) Họ là thứ không phải người. Nếu họ thực sự là người có nhân tính, thì có một điều có thể chứng minh được chuyện đó, chính là trong lòng dạng người này thì yêu thích và khao khát những điều tích cực. Ngay cả khi trong lòng không hiểu lẽ thật, thì họ cũng khao khát một xã hội công bằng và không có bóng tối, khao khát những điều tích cực, khao khát lẽ thật nắm quyền. Nhưng xã hội tà ác này không tạo ra không gian như vậy cho người ta, nếu người ta có thể bộc lộ ra những điều tích cực thì còn bị bài xích và chèn ép. Ở trong bối cảnh như vậy, người có nhân tính không có cách nào đạt được những điều tích cực mà họ thích và khao khát, nên họ thấy phiền não trong lòng. Nhưng sau khi tin Đức Chúa Trời, thông qua việc đọc lời Đức Chúa Trời và nghe giảng đạo, họ hiểu được rất nhiều lẽ thật. Những lẽ thật này ăn khớp và tương hợp với những điều tích cực họ yêu thích trong nhân tính, vừa hay thỏa mãn nhu cầu của họ đối với những điều tích cực, cho nên lòng họ càng thêm khao khát những điều tích cực. Mặc dù hiện tại, vì bị hoàn cảnh hạn chế, vì vóc giạc còn kém, vì bị phương diện tâm tính bại hoại nào đó của mình kìm kẹp và trói buộc, mà họ chưa thể hoàn toàn thực hành được lẽ thật, nhưng họ có ý chí và có nguyện vọng sau này sẽ có một ngày họ có thể hoàn toàn thực hành theo lẽ thật và lời Đức Chúa Trời, đạt đến việc thuận phục lời Đức Chúa Trời và thỏa mãn nhu cầu của bản thân đối với những điều tích cực. Dạng người như vậy chính là dạng người mà trong nhân tính có phẩm chất rõ phải trái, họ chính là người có nhân tính. Nếu ngươi chỉ nói là mình yêu thích những điều tích cực và ngoài miệng thừa nhận mọi việc Đức Chúa Trời làm đều tốt, thì đó chỉ là nói đạo lý và hô khẩu hiệu. Nói những lời dễ nghe và lý luận đúng đắn hoặc nói chuyện trên trời – mấy việc đó ai cũng làm được. Như vậy không thể cho thấy ngươi thực sự yêu thích những điều tích cực. Nhưng nếu khi nghe được lẽ thật, ngươi có thể yêu thích và khao khát, càng nghe lẽ thật thì càng khao khát lẽ thật, tinh thần tìm kiếm lẽ thật càng cao, đức tin vào việc đi theo Đức Chúa Trời và đạt được sự cứu rỗi càng kiên định, hơn nữa trong quá trình tin Đức Chúa Trời, các phương diện mưu cầu của ngươi đều có thu hoạch, ngươi cũng dần dà thoát khỏi tâm tính bại hoại, những hành vi chống đối và phản nghịch Đức Chúa Trời của ngươi ngày càng ít đi – vậy thì ngươi chính là người yêu thích những điều tích cực, chính là người có thực tế lẽ thật. Dạng người này mà tin Đức Chúa Trời thì sẽ có thành quả và thu hoạch. Ngươi có thể cảm nhận được bản thân đã có sự thay đổi, thái độ của ngươi đối với Đức Chúa Trời và lẽ thật đã khác với trước đây. Trước đây, ngay cả trong những chuyện rất nhỏ, ngươi cũng có thể phản nghịch Đức Chúa Trời, không thể thuận phục Ngài, và không thể thực hành lẽ thật. Nhưng thông qua mấy năm mưu cầu, thông qua mấy năm làm bổn phận, cùng với sự nỗ lực về mọi mặt của bản thân, mà ngươi đã hiểu được đôi phần lẽ thật, khi gặp chuyện thì có thể tìm kiếm lẽ thật và chống lại dục vọng của xác thịt. Trong một vài chuyện lớn có liên quan đến nguyên tắc, ngươi cũng có thể giữ vững nguyên tắc, không hành động theo ý riêng, lại còn có thể bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và công tác của hội thánh. Như vậy nghĩa là ngươi có được vóc giạc nhất định rồi, cũng có được một vài sự thực hành và lối vào về phương diện chống lại bản thân, tiếp nhận và thuận phục lẽ thật, đồng thời, tâm tính bại hoại khác nhau của ngươi cũng đã có sự thay đổi với những mức độ khác nhau. Đây là biểu hiện về phương diện rõ phải trái của người thực sự có nhân tính.
Người không rõ phải trái thì cũng muốn tiếp nhận lẽ thật, cũng sẵn lòng mưu cầu sự cứu rỗi, nhưng khi gặp chuyện thì họ không thực hành được lẽ thật. Họ vẫn còn sống theo tâm tính bại hoại, thường xuyên phản nghịch và chống đối Đức Chúa Trời mà chẳng ý thức được. Mười năm trước, họ phản nghịch Đức Chúa Trời thế nào, mười năm sau vẫn có thể phản nghịch Đức Chúa Trời thế đó. Họ không tiếp nhận, cũng không thực hành lẽ thật. Chuyện này có hai nguyên nhân: Một là họ căn bản không hiểu lẽ thật là gì, nên họ cứ bám giữ đạo lý của mình, bám giữ câu nói và cách nhìn nhận của mình. Mặt khác, họ căn bản không phải là người tiếp nhận lẽ thật, mười năm trước họ phản nghịch Đức Chúa Trời thế nào thì mười năm sau, họ vẫn cứ như vậy, chẳng thay đổi gì. Họ tin bao nhiêu năm thì cũng chẳng có lời chứng về việc tiếp nhận lẽ thật và thuận phục Đức Chúa Trời, càng không có lời chứng về việc chống lại xác thịt và tâm tính bại hoại. Như vậy thì họ không phải là người tiếp nhận lẽ thật. Dạng người này không phải là người rõ phải trái, cũng có thể nói, họ không phải là người có nhân tính, nói trắng ra thì họ không phải là con người. Có những người nghe xong lời này thì trong lòng thấy không phục, nói rằng: “Tôi tin Đức Chúa Trời hơn mười năm rồi và luôn làm bổn phận. Chỉ là thỉnh thoảng tôi có phạm chút sai lầm và bị tỉa sửa một chút, đó chẳng phải là chuyện rất bình thường sao? Con người đều có tâm tính bại hoại, ai mà chẳng có sai lầm? Bất kể nói thế nào, tôi cũng tin thật, tại sao lại nói là tôi không có nhân tính chứ?”. Đúng là ngươi tin thật, nhưng tin thật thì có nghĩa là ngươi có thể tiếp nhận lẽ thật sao? Tin thật thì có nghĩa là ngươi có thể chống lại xác thịt và không tùy theo ý mình sao? Tin thật thì có nghĩa là ngươi có thể thuận phục Đức Chúa Trời sao? Đâu có nghĩa là như vậy. Tin thật không phải là tất cả, không có nghĩa là ngươi có thể được cứu rỗi. Muốn đạt được sự cứu rỗi, thì điều quan trọng là phải xem nhân tính của ngươi có thể tiếp nhận lẽ thật hay không, và ngươi có thể đạt đến chuyện rõ phải trái hay không. Tin thật không phải là điều kiện quan trọng nhất, cũng không phải là điều kiện cơ bản để người ta cuối cùng được cứu rỗi. Ngươi nói mình tin thật, vậy ngươi hiểu được bao nhiêu lẽ thật, đạt được bao nhiêu lẽ thật rồi? Vào những lúc có liên quan đến lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, thì ngươi bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời được mấy lần? Nếu ngươi cảm thấy mình tin thật, mình có lương tâm và nhân tính, mình là con người đích thực, vậy trong cùng một chuyện, mười năm trước ngươi có thể phản nghịch Đức Chúa Trời, mười năm sau ngươi còn có thể phản nghịch Đức Chúa Trời không? Ngươi đã thay đổi chưa? Ngươi đã chống lại xác thịt chưa? Nếu ngươi chưa chống lại xác thịt, thì trong mười năm tiếp theo, ngươi có thể chống lại được nó không? Nếu ngươi vẫn không chống lại được xác thịt, vẫn có thể phản nghịch Đức Chúa Trời, thì cho thấy nhân tính của ngươi có vấn đề. Ngươi không thực hành được lẽ thật, thì ngay cả khi ngươi nói mình tin thật cũng vô ích thôi. Ngươi nói mình sẵn lòng chịu khổ và trả giá, sẵn lòng trung thành làm bổn phận, nhưng cái sẵn lòng đó vô giá trị. Nó chỉ là tiền đề để ngươi có thể thực hành lẽ thật và thuận phục Đức Chúa Trời, nhưng cuối cùng ngươi có thể thực hành được không thì còn phải xem ngươi có nhân tính hay không. Nếu lòng ngươi chẳng bao giờ có thể ràng buộc và khống chế tâm tính bại hoại của ngươi, ngươi lại còn chọn bảo vệ lợi ích bản thân, chọn những điều tiêu cực thay vì những điều tích cực, vậy thì nó cho thấy nhân tính của ngươi không yêu thích lẽ thật và không có năng lực khống chế tâm tính bại hoại. Lúc chưa hiểu lẽ thật, nếu ngươi không có năng lực khống chế sự bộc lộ tâm tính bại hoại, thì còn tha thứ được. Nhưng bây giờ khác rồi. Ngươi nghe những bài giảng liên quan đến lẽ thật suốt nhiều năm như vậy, mà vẫn không thể ràng buộc được tâm tính bại hoại của mình để khi gặp chuyện thì có thể thực hành theo nguyên tắc lẽ thật và đưa ra lựa chọn đúng đắn. Ngươi thấy rõ có kẻ ác quấy nhiễu công tác của hội thánh, mà lại không thể đứng ra bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Nhưng khi có người làm tổn hại lợi ích thiết thân của ngươi, thì ngươi lại có thể cực lực bảo vệ lợi ích của mình. Như vậy là đủ chứng tỏ trong nhân tính của ngươi chẳng có lương tâm và lý trí để có thể đưa ngươi vào chuẩn mực, có thể ràng buộc ngươi chọn lựa con đường và nguyên tắc thực hành đúng đắn. Nếu ngươi làm những việc thiếu lý trí như vậy rồi mà vẫn nói mình là con người, thì nó cho thấy lương tâm và lý trí của ngươi không còn tác dụng nữa. Vậy thì ngươi không phải là người bình thường nữa, bởi vì trong nhân tính của ngươi chẳng có lương tâm và lý trí, cũng chẳng có thứ gì có thể khiến ngươi đưa ra lựa chọn đúng đắn. Các ngươi đã hiểu chưa? Có những người nói: “Hiện tại vóc giạc của con còn nhỏ, vì môi trường và sự giáo dục trong gia đình mà con tùy ý, buông thả và ngạo mạn. Nhưng trong cuộc sống thực, con biết cái gì là điều tích cực và cái gì là điều tiêu cực, điều gì nên làm và điều gì không nên làm. Chỉ là vì vóc giạc nhỏ, không có người hiểu lẽ thật khuyên bảo và đốc thúc, nên con mới chưa thực hành lẽ thật và để lại vài vi phạm, cảm thấy có chút hối tiếc trong lòng”. Trong cuộc sống thực, dạng người này cũng có thể dựa vào lương tâm mà chuẩn hóa hành vi của mình và ràng buộc bản thân đi con đường đúng đắn. Người như vậy thì có thể cứu vãn được. Bởi vì họ có thể tiếp nhận lẽ thật, còn có thể thực hành được một chút lẽ thật và có được phần nào sự thay đổi, chỉ là bước tiến của họ chậm hơn một chút và mức độ tiến bộ của họ nhỏ hơn một chút so với người bình thường, nhưng họ vẫn đang thay đổi. Cũng giống như hạt giống được gieo ở nơi đất tốt thì lớn lên nhanh, còn hạt giống gieo vào giữa bãi cát hoặc trong khe đá thì lớn lên chậm hơn một chút, gian nan hơn một chút, nhưng chỉ cần sự sống của nó còn tồn tại thì nó sẽ lớn lên. Con người cũng vậy, chỉ cần trong nhân tính của họ có lương tâm và lý trí mà con người nên có, thì chứng tỏ họ có sự sống của con người – họ tiếp nhận lẽ thật rồi thì sẽ có sự thay đổi. Ngay cả khi thay đổi chậm thôi – người khác qua mười năm đã tiến bộ rất nhiều, họ thì qua 20, 30 năm mới có chút tiến bộ – mặc dù chậm một chút, nhưng họ đang phát triển theo chiều hướng tốt, đang thay đổi, và sự sống của họ đang liên tục lớn lên. Bất kể lớn lên nhanh hay chậm, tóm lại, loại người này có phẩm chất của nhân tính. Nhưng có một loại người, mặc dù đã tin Đức Chúa Trời nhiều năm rồi mà sự sống chẳng tiến bộ chút nào, bất kỳ ai thông công về lẽ thật, họ cũng thấy phản cảm và không muốn nghe. Đức Chúa Trời sắp đặt hoàn cảnh gì, họ cũng không thể tìm kiếm lẽ thật và rút ra bài học từ trong đó, không đạt được sự hướng dẫn và giúp đỡ tích cực từ đó. Trong lòng họ chán ghét những điều tích cực, tâm tính và lối sống muốn gì làm nấy của họ chẳng bao giờ thay đổi. Dạng người này chính là người không có lương tâm và lý trí, không phải là loài người, mà là thứ không phải người. Giảng như vậy chẳng phải là càng giảng càng rõ ràng, càng giảng càng dễ hiểu sao? (Thưa, phải.)
Còn có một loại người nữa: Họ cũng biết tin Đức Chúa Trời là tốt, nhưng họ chẳng hiểu được điều tích cực là gì và điều tiêu cực là gì, cũng khỏi nói đến chuyện họ dùng lương tâm mà chuẩn hóa và ràng buộc lời lẽ và hành vi của mình. Những người này thì càng dễ phân định. Loại người này thì khỏi nói đến chuyện yêu thích những điều tích cực, họ cũng chẳng đến được mức độ hiểu chuyện. Với họ, mọi chuyện này đều là một mớ hỗn độn khó hiểu. Ngươi hỏi họ xem những điều tích cực là gì, thì họ cũng biết nói về mặt đạo lý rằng mọi lời phán và việc làm của Đức Chúa Trời đều là điều tích cực. Họ nói thì dễ nghe lắm, nhưng gặp chuyện gì, họ cũng không biết liên hệ, không biết phân định, đầu óc họ như hồ dán, ngây ngô ngờ nghệch, chẳng rõ được chuyện gì. Ngươi hỏi xem sau nhiều năm tin Đức Chúa Trời như vậy, họ đã đạt được lẽ thật nào rồi, thì họ trả lời: “Đức Chúa Trời tể trị vạn vật, mọi việc Đức Chúa Trời làm với con người đều tốt, Đức Chúa Trời yêu thương con người. Sa-tan chống đối Đức Chúa Trời, hãm hại, bách hại và tàn hại con người”. Ngươi hỏi xem họ còn đạt được gì nữa không, thì họ nói: “Phải làm bổn phận cho đàng hoàng, phải chịu khổ và trả giá thêm”. Ngươi hỏi tiếp xem nên dựa vào nguyên tắc nào khi làm bổn phận, thì họ nói: “Bên trên nói gì thì nghe nấy, bảo làm gì thì làm nấy, bất kể là việc bẩn thỉu, mệt nhọc thế nào cũng phải làm cho đàng hoàng. Không được gây gián đoạn và nhiễu loạn, không được gây rắc rối. Phải làm việc có ích cho mọi người và cho nhà Đức Chúa Trời”. Họ nói những đạo lý đó đều đúng cả, chẳng có câu nào sai, nhưng khi gặp chuyện thì họ toàn bộc lộ những quan điểm lệch lạc và ngu xuẩn. Ngươi uốn nắn họ bao nhiêu lần rồi mà họ vẫn không thay đổi được. Họ là thứ gì vậy? (Thưa, là người hồ đồ.) Người hồ đồ có phải là người không? (Thưa, không phải.) Người hồ đồ là gì? (Thưa, là súc sinh.) Nói kiểu văn minh thì gọi là động vật, nói kiểu thông tục thì là súc sinh. Bất kể đã nghe bao nhiêu bài giảng, họ vẫn không hiểu được lẽ thật là gì, những điều tích cực là gì và những điều tiêu cực là gì. Họ làm biết bao nhiêu việc phản nghịch Đức Chúa Trời mà trong lòng vẫn chẳng có ý thức gì, lại còn cảm thấy bản thân bẩm sinh tốt bụng, có lòng đồng cảm với người khác. Thấy ai chịu khổ, họ cũng đau lòng, chỉ hận không thể chịu khổ thay người ta. Thấy ai không có ăn, không có mặc, thì họ muốn lấy áo quần, lấy đồ ăn của mình cho người ta. Nghe bao nhiêu lời Đức Chúa Trời vạch trần sự bại hoại của nhân loại rồi, mà họ vẫn cảm thấy bản thân mình rất tốt, tốt hơn bất kỳ ai. Họ làm biết bao nhiêu việc sai mà vẫn không biết mình sai ở đâu và chẳng bao giờ thừa nhận bản thân có tâm tính bại hoại. Ngươi mà hỏi họ: “Anh có phải là loài người bại hoại không? Anh có tâm tính bại hoại không?” thì họ nói: “Có chứ, con người ai cũng có sự bại hoại, làm sao tôi không có được chứ? Anh toàn nói những lời ngốc nghếch thôi!”. Họ còn nói ngươi ngốc cơ đấy. Nhưng khi làm sai thì họ không thừa nhận, còn đẩy trách nhiệm sang người khác. Bất kể làm sai gì, họ cũng không thừa nhận, làm việc xấu đến mức nào, họ cũng đều có cái cớ và lý do để biện bạch. Dạng người này có lý trí không? Họ có phải là người rõ phải trái không? (Thưa, họ không có lý trí và không rõ phải trái.) Ngươi thấy họ ngày ngày đều dốc công sức, nghe giảng đạo và đọc lời Đức Chúa Trời từ sáng sớm đến tối mịt, nhưng họ lại không hiểu được một câu lẽ thật nào, cũng chẳng làm được một việc nào phù hợp nguyên tắc lẽ thật, chẳng nói được câu nào phù hợp lẽ thật. Khỏi nói đến những lời phù hợp với lẽ thật, ngay cả những lời phù hợp với lương tâm và lý trí của nhân tính mà họ còn không nói ra được, thay vào đó, họ toàn nói những lời hồ đồ và phi lý, toàn nói lý lẽ méo mó. Dạng người này căn bản không đến được mức có lương tâm và lý trí, họ chỉ là kẻ hồ đồ, bụng đầy những lý lẽ méo mó. Họ nghe giảng đạo nhiều thì cũng nói được chút lời thuộc linh. Ngươi nghe họ nói những lời thuộc linh thì thấy họ có vẻ thông thạo lắm, nói rõ ràng lắm, nhưng đến khi làm việc thì ngươi phát hiện ra họ vừa hồ đồ vừa phi lý, họ mà nói lý lẽ méo mó thì có thể khiến ngươi cạn lời. Cạn lời nghĩa là gì? Nghĩa là ngươi không tưởng tượng nổi lại có người có thể nói ra lời phi lý như vậy, có tư duy như vậy, thực sự là ngươi không thể tin nổi. Cuối cùng, ngươi chỉ có thể dùng cách lặng thinh mà đối đãi với họ, đấy là biện pháp đối phó tốt nhất.
Nội dung liên quan
Lời Đức Chúa Trời | Hiểu biết về công tác mới nhất của Đức Chúa Trời và đi theo dấu chân Ngài
Đọc diễn cảm lời Đức Chúa Trời Toàn Năng...