Những lời về việc biết mình (Trích đoạn 47)

Hiện tại, các ngươi có thấy được rõ ràng cách đi theo Đức Chúa Trời và đi con đường mưu cầu lẽ thật không? Rốt cuộc thì tin Đức Chúa Trời và đi theo Ngài là gì? Vứt bỏ một số thứ, có thể dâng mình cho Đức Chúa Trời, có thể chịu một chút đau khổ và đi theo Đức Chúa Trời đến cuối con đường, vậy là xong việc phải không? Đi theo như vậy thì có thể đạt được lẽ thật không? Có thể đạt đến được cứu rỗi không? Rốt cuộc trong lòng các ngươi có rõ ràng về những chuyện này không? Một số người cho rằng khi người ta trải nghiệm xong sự phán xét, hình phạt và tỉa sửa, hoặc sau khi bị tiết lộ chân tướng, thì kết cục của họ đã được định hình, nhất định là họ không có hy vọng được cứu rỗi. Đa số mọi người đều không nhìn thấu được chuyện này, đều quanh quẩn ở ngã tư đường và không biết đi con đường phía trước như thế nào. Chuyện này không phải là vì họ còn chưa thực sự nhận biết về công tác của Đức Chúa Trời sao? Người mà luôn nghi hoặc công tác của Đức Chúa Trời, luôn nghi hoặc việc Ngài cứu rỗi con người, thì có một chút đức tin thực sự nào không? Có những người lúc bình thường chưa bị tỉa sửa và chưa gặp bất kỳ thất bại nào, thì họ cảm thấy rằng họ nên theo đuổi lẽ thật và đáp ứng tâm ý của Đức Chúa Trời trong đức tin của mình. Tuy nhiên, ngay khi họ chịu đòn một chút hoặc có bất kỳ khó khăn nào nảy sinh, thì bản tính phản bội của họ liền lộ ra. Điều này trông thật đáng ghê tởm. Sau đó, họ cũng cảm thấy điều đó thật ghê tởm, và cuối cùng tự xác định kết cục của chính mình và cho rằng: “Mọi chuyện đã kết thúc với mình rồi! Nếu mình có thể làm những việc như thế, thì chẳng phải điều đó có nghĩa là mình đã xong rồi sao? Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ cứu rỗi mình”. Nhiều người đang ở trong tình trạng này. Thậm chí có thể nói rằng mọi người đều như thế này. Tại sao mọi người lại tự quy định bản thân mình như thế? Điều đó chứng tỏ rằng họ vẫn không hiểu ý định cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời. Bị tỉa sửa một lần cũng có thể khiến ngươi tiêu cực suốt thời gian dài, thậm chí là từ bỏ bổn phận; chỉ một tình huống nhỏ cũng có thể khiến ngươi sợ sệt không tiếp tục mưu cầu lẽ thật, đình trệ không tiến lên được. Cứ như thể mọi người chỉ nhiệt thành mưu cầu khi họ cảm thấy mình hoàn mỹ và không tỳ vết, tuy nhiên khi họ phát hiện mình quá bại hoại thì họ lại không còn lòng dạ nào để tiếp tục theo đuổi lẽ thật. Nhiều người đã thốt ra những lời lẽ đầy thất vọng và tiêu cực như là: “Chắc chắn tôi đã kết thúc rồi; Đức Chúa Trời sẽ không cứu rỗi tôi. Ngay cả khi Đức Chúa Trời có tha thứ cho tôi, thì tôi cũng không thể tha thứ cho bản thân mình; tôi không bao giờ có thể thay đổi”. Mọi người không hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời, điều này cho thấy họ vẫn chưa biết đến công tác của Ngài. Thực ra, trong trải nghiệm của mình, con người có lúc bộc lộ một ít tâm tính bại hoại, làm việc có uế tạp, không có trách nhiệm, hoặc là qua loa chiếu lệ và không trung thành, đây là chuyện rất tự nhiên. Chuyện này là bởi con người có tâm tính bại hoại, đây là quy luật tất nhiên. Nếu không có những biểu lộ này thì sao có thể gọi là nhân loại bại hoại được? Nếu nhân loại không bại hoại thì công tác cứu rỗi của Đức Chúa Trời cũng sẽ không có ý nghĩa nữa. Vấn đề bây giờ là, bởi vì con người không hiểu lẽ ​​thật, còn chưa thực sự nhận biết bản thân, cũng không nhìn thấu được trạng thái của bản thân, cho nên họ cần Đức Chúa Trời bày tỏ lời vạch rõ và phán xét của Ngài, như thế thì họ mới bỗng nhiên tỉnh ngộ. Nếu không, họ sẽ vẫn tê liệt và ngu ngốc. Nếu không công tác như vậy thì con người sẽ không biến đổi. Ở mỗi giai đoạn, bất kể các ngươi gặp phải khó khăn gì, Ta sẽ thông công lẽ thật với các ngươi, khiến các ngươi hiểu và chỉnh hướng cho các ngươi, miễn các ngươi có thể bước vào con đường đúng đắn là được. Nếu không, con người sẽ luôn cực đoan, luôn đi vào ngõ cụt, đi một chút là hết đường và đi một chút là tự quy định bản thân. Khi vừa mới bắt đầu trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời, con người đều không nhận biết bản thân. Sau vài lần gặp thất bại và bị tỏ lộ, cuối cùng họ quy định chính mình và nói: “Tôi chính là ma quỷ và Sa-tan! Vậy là kết thúc rồi, tôi không thể được cứu rỗi, không còn cơ hội nữa và không còn đường nào cứu vãn”. Con người thực sự quá yếu đuối và rất khó xử lý, đi một chút là sẽ đi đến cực đoan. Khi con người không nhìn thấy rằng bản thân đã bại hoại quá sâu sắc và rằng họ chính là ma quỷ, thì họ sẽ kiêu ngạo và tự cho mình là đúng. Họ cảm thấy mình đã chịu quá nhiều đau khổ, rằng họ chính là người yêu kính Đức Chúa Trời và có tư cách bước vào thiên quốc. Nhưng khi con người nhận biết bản thân đã bại hoại quá sâu sắc, không sống thể hiện ra được hình tượng giống con người, mà chính là ma quỷ và Sa-tan, thì họ buông mình trong sa ngã, cảm thấy bản thân không còn hy vọng nữa và chắc chắn đã bị Đức Chúa Trời định tội, tỏ lộ và loại bỏ. Khi không nhận biết bản thân, thì con người kiêu ngạo và tự cho mình là đúng; khi nhận biết bản thân rồi, họ vẫn buông mình trong sa ngã. Con người chính là phiền phức và khó xử lý như vậy. Nếu họ có thể tiếp nhận lẽ thật, nếu có một ngày mà họ thực sự hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời, thì họ sẽ nói: “Hóa ra sự bại hoại của tôi sâu sắc đến vậy, đến giờ tôi mới nhận biết được. May mà Đức Chúa Trời cứu rỗi tôi, giờ đây tôi mới có thể nhìn thấy cuộc đời tươi sáng và đi trên con đường nhân sinh đúng đắn. Tôi không biết nên cảm tạ Đức Chúa Trời như thế nào nữa”. Con người giống như thức tỉnh từ trong cơn mộng và bỗng nhiên tỉnh ngộ. Như vậy chẳng phải là nhận được sự cứu rỗi cực lớn sao? Họ còn không nên ca ngợi Đức Chúa Trời sao? Một số người đến lúc cận kề cái chết cũng không thể nhận biết bản thân, họ vẫn rất kiêu ngạo và không thể tiếp nhận sự thật được tỏ lộ. Họ vẫn cảm thấy bản thân không tồi, “Tôi là một người tốt, sao có thể làm ra chuyện đó?”. Giống như là họ chịu oan uổng vậy. Một số người trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời qua vài năm, mà cuối cùng vẫn không thể nhận biết bản tính của mình là thứ gì. Họ luôn cho rằng mình là người tốt, rằng mình nhất thời hồ đồ mà làm sai, đến bây giờ khi bị loại bỏ, họ vẫn không chịu phục. Loại người này quá kiêu ngạo, vô tri và căn bản không phải là người tiếp nhận lẽ thật. Họ sẽ mãi mãi không thể biến đổi và trở thành con người. Từ chuyện này, các ngươi sẽ có thể phát hiện rằng, mặc dù bản tính của con người đều là chống đối và phản bội Đức Chúa Trời, nhưng trong bản tính của họ vẫn có sự khác biệt. Chuyện này đòi hỏi sự nhận thức sâu sắc hơn về bản tính của con người.

Trong bản tính của con người, có một vài điểm chung nhất định phải được nhận biết. Tất cả mọi người đều có thể phản bội Đức Chúa Trời, đây là một điểm chung, nhưng mỗi một người đều có chỗ chí mạng riêng của mình. Có người yêu thích quyền lực, có người yêu thích địa vị, có người tôn sùng tiền tài, có người tôn sùng ham muốn hưởng thụ vật chất. Đây chính là sự khác biệt trong bản tính. Có người sau khi tin Đức Chúa Trời, đã chịu rất nhiều đau khổ nhưng vẫn có thể đứng vững, có người chịu một chút đau khổ thì tiêu cực, buông lời oán trách và không đứng vững được. Tại sao cùng tin Đức Chúa Trời và ăn uống lời Ngài như nhau, nhưng khi gặp chuyện thì phản ứng của họ lại không giống nhau? Điều này chứng minh rằng mặc dù nhân loại bại hoại quá sâu sắc đều có bản tính của Sa-tan, nhưng phẩm chất nhân tính của họ vẫn có sự khác biệt. Có người chán ghét và thù hận lẽ thật, có người thì có thể yêu thích và tiếp nhận lẽ thật. Có người thì tâm tính bại hoại biểu hiện ra nghiêm trọng hơn, có người thì biểu hiện nhẹ hơn. Có người lương thiện hơn một chút, có người lại rất hung ác. Mặc dù ngôn ngữ, hành vi và biểu hiện có sự khác biệt, nhưng tâm tính bại hoại của họ đều giống nhau, họ đều là nhân loại bại hoại, đều thuộc về Sa-tan. Đây là điểm chung của họ. Bản tính của một người như thế nào thì họ chính là người như thế ấy. Mặc dù bản tính của người này và người kia có chỗ tương đồng, nhưng phải dựa theo thực chất của họ mà đối đãi với họ theo các cách khác nhau. Chẳng hạn như, đam mê xấu xa là một thứ điểm chung mà ai cũng có, hơn nữa, về phương diện này, con người đều không dễ dàng vượt qua. Nhưng một số người vô cùng mạnh mẽ về phương diện này. Mỗi khi gặp phải cám dỗ liên quan đến chuyện nam nữ thì họ đều không vượt qua được. Lòng họ có thể bị chiếm hữu, họ có thể sa vào cám dỗ, bất kỳ lúc nào cũng có thể chạy theo người khác và phản bội Đức Chúa Trời. Như vậy có thể nói người này có bản tính tà ác. Có người khi gặp phải chuyện này, cho dù có chút yếu đuối hoặc có bộc lộ chút đam mê xấu xa, nhưng họ sẽ không làm ra chuyện gì vượt khuôn khổ. Họ có thể khắc chế và né tránh chúng, có thể chống lại xác thịt và lánh xa cám dỗ. Như vậy thì không thể nói là họ có bản tính tà ác. Con người sống trong xác thịt sẽ có đam mê xấu xa, nhưng có người sẽ có thể làm bừa làm bậy, buông thả tình dục, thậm chí còn làm ra chuyện gây nhiễu loạn và gián đoạn công tác của hội thánh. Có người lại không như vậy, họ có thể mưu cầu lẽ thật, dựa vào lẽ thật mà làm việc, và có thể chống lại xác thịt. Mặc dù họ đều có ham muốn xác thịt nhưng biểu hiện của họ lại không giống nhau. Đây chính là thực chất bản tính của con người có sự khác biệt. Có người tham tiền, hễ nhìn thấy tiền hay thứ gì tốt là muốn chiếm làm của mình, dục vọng chiếm hữu vô cùng mạnh mẽ. Bản tính của người này chính là tham lam. Nhìn thấy tiền tài vật chất thì họ sẽ có lòng tham, của lễ của Đức Chúa Trời mà họ cũng dám ăn trộm và dùng bậy, thậm chí là còn dám động vào số tiền hàng nghìn, hàng vạn. Số tiền càng nhiều thì họ càng dám động vào, căn bản là không có lòng sợ hãi Đức Chúa Trời. Đây là bản tính tham lam. Có người sau khi tiêu phí vài đồng hoặc vài chục đồng trong tiền của hội thánh, lương tâm cứ không yên ổn. Họ nhanh chóng đến quỳ trước Đức Chúa Trời mà cầu nguyện, rơi nước mắt hối hận mà cầu xin Đức Chúa Trời tha thứ. Như vậy không thể nói rằng người này tham tiền tài, bởi vì con người đều có tâm tính bại hoại và sự yếu đuối, nếu họ có thể thực sự hối cải thì chứng tỏ rằng đây chỉ là sự bộc lộ tâm tính bại hoại. Có người hay xét đoán người khác. Họ sẽ nói: “Vì lần này, người này đã tiêu phí mấy đồng của hội thánh, nên lần sau sẽ có thể tiêu phí mấy chục đồng. Họ chắc chắn là kẻ ăn trộm của lễ và phải bị thanh trừ”. Trong cách nói này có một chút tính chất xét đoán. Con người có tâm tính bại hoại thì chắc chắn sẽ bộc lộ sự bại hoại và chắc chắn có thể làm ra rất nhiều chuyện xấu, đây là chuyện bình thường. Nhưng bộc lộ sự bại hoại thì khác với có bản tính của kẻ ác. Mặc dù có một số việc làm giống nhau, nhưng bản tính của họ có sự khác biệt. Chẳng hạn như, khi con người đi trên con đường mưu cầu lẽ thật và mưu cầu làm người trung thực, họ sẽ khó tránh khỏi việc đôi khi buông lời nói dối, bộc lộ sự giả dối và lừa gạt. Còn ma quỷ thì có bản tính nói dối và giả dối, nên nó sẽ nói dối thường xuyên, nói dối trong mọi chuyện. Mặc dù đều có biểu hiện nói dối, nhưng ma quỷ và người mưu cầu lẽ thật là hai loại thực chất khác nhau. Nếu như gán cho một người mưu cầu làm người trung thực thành ma quỷ và Sa-tan, chỉ vì họ nhất thời bộc lộ sự bại hoại, như vậy có thích hợp hay không? Đã từng nói dối và lừa gạt không có nghĩa họ là ma quỷ nói dối và lừa gạt một cách nhất quán. Bởi vì thực chất bản tính của mọi người không giống nhau, nên không thể vơ đũa cả nắm. Đem người có vi phạm nhất thời đánh đồng với ma quỷ chính là một dạng tùy ý xét đoán và định tội người ta. Đây là chuyện hại người nhất. Nếu không có sự phân định và không nhìn thấu được chuyện thì không được nói bừa hoặc quy chụp lung tung, tránh làm tổn thương người khác. Người không có hiểu biết thuộc linh và hay tuân thủ quy định thì dễ xét đoán và định tội người khác nhất. Người không hiểu lẽ ​​thật thì sẽ nói năng và làm việc không có nguyên tắc; nói năng tùy tiện, tùy ý xét đoán và định tội người khác thì không đem lại ích lợi gì cho bản thân cũng như cho người khác.

Trong lòng các ngươi không biết tin Đức Chúa Trời thì phải đạt đến mục tiêu gì mới phù hợp với tâm ý của Ngài. Không có mấy người có thể hoàn toàn dựa theo yêu cầu của Đức Chúa Trời mà tin Ngài. Bên trong các ngươi tồn tại quá nhiều vấn đề, có khả năng là bây giờ các ngươi còn chưa nhận biết được và chưa rõ ràng lắm. Như vậy cho thấy các ngươi còn chưa hiểu lẽ thật, không biết phản tỉnh bản thân, chưa đào sâu và không thể mổ xẻ các loại tư tưởng và đủ thứ bản tính bên trong mình. Đến một ngày, khi nghe giảng đạo nhiều hơn và đã có trải nghiệm, các ngươi sẽ hiểu lẽ thật. Khi đó các ngươi mới có thể nhận biết thực sự về bản thân. Mặc dù các ngươi thật lòng tin Đức Chúa Trời, nhưng vẫn chưa thoát khỏi tâm tính bại hoại, bên trong bản tính vẫn còn rất nhiều thứ phù phiếm, vẫn yêu thích ăn mặc đẹp và hưởng thụ đồ tốt. Có những người khi mặc quần áo đẹp hoặc có một chiếc điện thoại di động tốt, thì giọng điệu nói chuyện của họ sẽ thay đổi. Còn có những phụ nữ khi đi giày cao gót, thì tư thế đi đứng của họ sẽ khác đi và họ không còn biết mình là ai nữa. Để biết trong lòng họ đang có thứ gì, bản tính gì khiến họ có thể bộc lộ những thứ tà ác, xấu xí và phù phiếm này, thì con người cần nhận biết tâm tính bại hoại và những thứ trong bản tính của chính họ. Mặc dù con người có thể cảm giác được những tâm tính bại hoại này, nhưng họ vẫn không giải quyết được, chỉ có thể dựa vào ý chí để khắc chế và ngăn chúng bộc lộ ra bên ngoài. Khi trải nghiệm và nhận thức của con người về đủ mọi phương diện lẽ thật và bản tính của mình ngày càng sâu sắc hơn, khi con người từng bước hiểu và bước vào những yêu cầu của Đức Chúa Trời, thì những tâm tính bại hoại và những thứ trong bản tính của họ dần dần bắt đầu biến đổi. Lúc đầu, sự nhận biết bản thân của họ đều rất nông cạn. Mặc dù có thể thừa nhận tâm tính bại hoại, nhưng họ không thể tìm kiếm lẽ thật và nhận biết thực chất trong sự bại hoại của mình. Khi có được một chút nhận thức, họ muốn dùng nỗ lực để khắc chế, chống lại xác thịt và đạt được kết quả, nhưng vẫn chẳng được gì, họ vẫn không nhìn thấu được căn nguyên của vấn đề. Sau này, khi thực sự hiểu lẽ thật và nhận biết thấu đáo về tâm tính bại hoại rồi, họ bắt đầu căm ghét bản thân. Khi đó, họ không cần tốn nhiều công sức để chống lại xác thịt, họ sẽ có thể tự giác thực hành lẽ thật và sẽ có thể làm việc dựa theo nguyên tắc. Dù đôi khi không hiểu rõ được lẽ thật, nhưng ít nhất họ cũng có thể dựa vào lương tâm và lý trí mà làm việc. Khi mới bắt đầu trải nghiệm lời Đức Chúa Trời thì ai cũng có khó khăn, bởi vì họ không hiểu lẽ thật, cũng không biết dựa theo nguyên tắc, nên họ luôn hỏi chuyện này làm như thế nào, chuyện kia làm như thế nào, và chỉ biết tuân thủ quy định. Ngoài ra, con người còn luôn chịu đựng sự quấy nhiễu của trạng thái tiêu cực, có lúc không còn đường nào để đi. Đối với trạng thái tiêu cực, có thể thông công để giải quyết thì thông công để giải quyết, một số chuyện không thông công để giải quyết được thì không cần quan tâm đến. Ngươi chỉ nên quan tâm đến việc thực hành và bước vào một cách bình thường, cũng cần thông công về lẽ thật nhiều hơn. Đến một ngày ngươi hiểu rõ lẽ thật và nhìn thấu được rất nhiều chuyện rồi, thì trạng thái tiêu cực sẽ tự nhiên không còn nữa. Chẳng phải trạng thái tiêu cực lúc đầu của ngươi bây giờ đã không còn nữa sao? Ít nhất là đã ít hơn so với lúc trước. Các ngươi chỉ cần để ý mưu cầu lẽ thật cho tốt, thì vấn đề gì cũng có thể giải quyết được. Có thể giải quyết vấn đề của chính mình thì ngươi đã có tiến bộ và trưởng thành rồi. Khi con người trải nghiệm cho đến ngày mà nhân sinh quan của họ, ý nghĩa và cơ sở tồn tại của họ đã hoàn toàn thay đổi, khi họ đã được thay đổi đến tận xương tủy và trở thành một người khác, điều này chẳng phải không thể tin được sao? Đây là một sự thay đổi rất lớn, một sự thay đổi động địa. Chỉ khi ngươi trở nên không quan tâm đến danh lợi địa vị, tiền bạc, thú vui, quyền lực và vinh quang của thế gian, và có thể dễ dàng từ bỏ chúng, thì ngươi sẽ có được hình tượng giống con người. Những ai cuối cùng sẽ được Đức Chúa Trời làm cho trọn vẹn là một nhóm người như thế; họ sống vì lẽ thật, sống vì Đức Chúa Trời, và sống vì những điều chính nghĩa. Đây là hình tượng giống con người đích thực.

Có người sẽ hỏi: “Rốt cuộc thì con người là gì?”. Con người hiện tại đều không phải là con người. Không phải là con người vậy thì là gì? Họ là động vật, súc sinh, Sa-tan hoặc là ma quỷ gì cũng được, tóm lại, họ chỉ khoác lên một lớp da người, nhưng không thể được gọi là con người, bởi vì họ không có nhân tính bình thường. Nói con người là động vật thì sát thực tế, nhưng con người có ngôn ngữ, tư tưởng, tư duy, có thể làm khoa học và chế tạo nên đành phải liệt vào loại động vật cấp cao. Nhưng con người bị Sa-tan làm bại hoại quá sâu sắc, họ đã sớm mất đi lương tâm và lý trí, và không thuận phục hay kính sợ Đức Chúa Trời chút nào. Nói con người là ma quỷ và Sa-tan cũng hoàn toàn thích hợp, bởi vì bản tính của họ là của Sa-tan, những gì họ bộc lộ đều là tâm tính của Sa-tan, những gì họ bày tỏ đều là quan điểm của Sa-tan, cho nên nói con người là ma quỷ và Sa-tan càng chuẩn xác hơn. Con người bị làm bại hoại quá sâu sắc và không còn bao nhiêu hình tượng con người nữa, họ giống như súc sinh và động vật, họ là ma quỷ. Hiện tại, con người không có đặc tính rõ ràng, người không ra người, quỷ không ra quỷ, họ không có hình tượng con người thực sự. Giống như có những người tin Đức Chúa Trời trong thời gian dài, đã trải nghiệm nhiều năm, có được chút thân thiết với Đức Chúa Trời, ít nhiều có thể lý giải được Ngài một chút, ít nhiều có thể lo những gì Ngài lo, và nghĩ những gì Ngài nghĩ, đây chính là có một chút dáng dấp của con người và ở dạng bán thành hình. Những người mới tin, chưa trải nghiệm bị hành phạt và phán xét, chưa trải qua nhiều sự tỉa sửa, chưa nghe nhiều về lẽ thật, thì họ chỉ đọc lời Đức Chúa Trời nhưng không có trải nghiệm thực sự. Như vậy thì họ còn kém quá xa. Chiều sâu trải nghiệm quyết định việc người ta biến đổi nhiều hay ít. Ngươi càng ít trải nghiệm lời Đức Chúa Trời thì sẽ càng ít hiểu được lẽ thật. Nếu không có chút trải nghiệm nào, thì ngươi chính là một Sa-tan sống và nguyên vẹn, chính là một ma quỷ thuần chủng, ngươi có tin không? Sẽ có một ngày ngươi hiểu được lời này. Hiện tại có người tốt không? Nếu không có dáng dấp con người, thì làm sao có thể gọi là con người? Gọi là người tốt lại càng không thể. Họ chỉ có cái lốt con người nhưng không có thực chất của con người, nói con người là mặt người dạ thú thì cũng không có gì quá đáng. Khi trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời, nếu muốn biến thành người có hình tượng giống con người, thì họ phải trải qua sự vạch rõ, hành phạt và phán xét của lời Đức Chúa Trời, cuối cùng thì họ mới có thể có biến đổi. Đây là con đường, nếu không như vậy thì con người sẽ không có cách nào biến đổi, phải làm từng chút từng chút như vậy. Con người phải trải nghiệm sự phán xét, hình phạt, còn phải không ngừng bị tỉa sửa, tâm tính bại hoại của con người có bộc lộ ra những gì thì phải được vạch rõ ra. Con người biết phản tỉnh bản thân, có thể hiểu lẽ thật thì mới có thể đi theo con đường đúng đắn. Chỉ sau một thời gian trải nghiệm và hiểu được một ít lẽ thật, con người mới có chút chắc chắn rằng họ có thể đứng vững. Theo Ta thấy, hiện tại các ngươi đều có vóc giạc quá nhỏ, hiểu quá ít lẽ thật và không đạt đến thực hiện bổn phận đạt tiêu chuẩn. Mặc dù bề ngoài các ngươi có vẻ rất bận rộn thực hiện bổn phận, nhưng thực ra, mỗi người các ngươi đều đang ở bên bờ vực nguy hiểm. Ta không thấy được các ngươi có thực tế lẽ thật nào, cũng khó mà nói liệu các ngươi có phải là người mưu cầu lẽ thật hay không. Như vậy thì quá nguy hiểm rồi. Ta đã nói qua những lời này nhiều lần, nhưng rất nhiều người đều không hiểu lời này có ý nghĩa gì. Một số người nói: “Bây giờ tôi tin Đức Chúa Trời hăng hái như vậy, tôi sẽ không đến nổi vấp ngã hay mất phương hướng. Đức Chúa Trời ân đãi tôi như vậy, sẽ không có gì nguy hiểm cả”. Đức Chúa Trời ân đãi và bảo vệ tất cả mọi người, nhưng ngươi chưa bước vào thực tế lẽ thật, nên đương nhiên là nguy hiểm. Khi đối mặt với sự thử luyện, ngươi có thể đảm bảo rằng mình sẽ đứng vững không? Không ai dám đảm bảo. Rất nhiều người chỉ biết nói một số câu chữ và đạo lý, điều này không có nghĩa là họ hiểu lẽ thật, lại càng không có nghĩa là họ có vóc giạc thực tế, nhưng họ vẫn cho rằng mình gần làm được rồi. Có thể nói rằng người nói ra lời này còn kém quá xa. Con người không có thực tế lẽ thật thì đều đang sống bên bờ vực nguy hiểm, đây là sự thật tuyệt đối.