Những lời về việc biết mình (Trích đoạn 48)

Trong số những người tin Đức Chúa Trời, loại người nào khó được cứu rỗi nhất và có loại bản tính nào dễ dẫn đến sự diệt vong nhất? Các ngươi có nhìn rõ được chuyện này không? Bất kể là lãnh đạo hay người đi theo, bản tính chung của con người là gì? Thứ tính chất chung bên trong bản tính con người chính là phản bội Đức Chúa Trời; mỗi một người đều có thể phản bội Đức Chúa Trời. Phản bội Đức Chúa Trời là gì? Những biểu hiện nào là phản bội Đức Chúa Trời? Có phải chỉ những người nào ngừng tin Đức Chúa Trời thì mới phản bội Ngài không? Con người phải hiểu được thực chất của mình là thứ gì và nắm bắt được căn nguyên. Tính cáu kỉnh, tật xấu, thói quen không tốt hoặc sự vô giáo dục của ngươi đều là những thứ bề ngoài. Nếu ngươi luôn nắm lấy những thứ bề ngoài này mà không buông, lại còn quy định bừa bãi, không nắm bắt được cái thực chất, không giải quyết những thứ bên trong bản tính và tâm tính bại hoại, thì cuối cùng ngươi vẫn sẽ đi lạc đường và vẫn chống đối Đức Chúa Trời. Con người có thể phản bội Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu, đây là một vấn đề nghiêm trọng. Có thể trong một khoảng thời gian, ngươi có thể có chút lòng yêu kính Đức Chúa Trời, có thể có lòng nhiệt tình dâng mình cho Ngài và thực hiện bổn phận với chút lòng trung thành, hoặc có thể trong khoảng thời gian này, ngươi có lý trí vô cùng bình thường và có lương tâm. Nhưng con người đều không ổn định và còn có thể thay đổi thất thường, bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu, họ đều có khả năng chỉ vì một sự kiện mà dẫn đến chống đối và phản bội Đức Chúa Trời. Chẳng hạn như, hiện tại một người có lý trí vô cùng bình thường, có công tác của Đức Thánh Linh, có trải nghiệm thực tế, có gánh nặng và cũng thực hiện bổn phận với lòng trung thành, nhưng khi đức tin của họ đang vô cùng mạnh mẽ, nếu nhà Đức Chúa Trời khai trừ kẻ địch lại Đấng Christ mà họ sùng bái, thì trong lòng họ bắt đầu có quan niệm. Họ sẽ tiêu cực ngay lập tức, không còn hăng hái trong công tác, thực hiện bổn phận thì qua loa chiếu lệ, cũng không muốn cầu nguyện, mà chỉ oán trách rằng: “Cầu nguyện làm gì chứ? Nếu người tốt như vậy cũng có thể bị khai trừ, thì còn ai có thể được cứu rỗi? Đức Chúa Trời không nên đối đãi với con người như vậy!”. Lời nói này của họ có tính chất gì? Chỉ vì một sự kiện không phù hợp với tâm ý họ mà họ có thể xét đoán Đức Chúa Trời. Đây chẳng phải là biểu hiện của việc phản bội Đức Chúa Trời sao? Con người có thể rời xa Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu; nói không chừng, khi gặp phải chuyện gì đó, họ sẽ có thể nảy sinh quan niệm, xét đoán và định tội Đức Chúa Trời, đây chẳng phải là biểu hiện của việc phản bội Đức Chúa Trời sao? Đây là chuyện nghiêm trọng. Ngươi cho rằng hiện tại mình không có quan niệm nào về Đức Chúa Trời và có thể thuận phục Ngài, nhưng nếu ngươi làm sai chuyện gì đó và đột nhiên phải đối mặt với việc bị tỉa sửa nghiêm khắc, thì liệu ngươi còn có thể thuận phục không? Ngươi có thể tìm kiếm lẽ thật để giải quyết không? Nếu ngươi không thể thuận phục hoặc tìm kiếm lẽ thật để giải quyết vấn đề phản nghịch, thì ngươi vẫn còn khả năng phản bội Đức Chúa Trời. Mặc dù ngươi chưa nói “Tôi không tin Đức Chúa Trời nữa”, nhưng vào lúc này, lòng của ngươi đã phản bội Ngài rồi. Ngươi phải nhìn thấu bản tính của con người rốt cuộc là thứ gì, thực chất của bản tính đó có phải là phản bội hay không? Rất ít người có thể nhìn thấu thực chất bản tính của con người. Tất nhiên, một số người có chút lương tâm và nhân tính tương đối tốt, số khác thì không có nhân tính, nhưng dù là nhân tính tốt hay ác, tố chất tốt hay kém, thì tính chất chung của họ là đều có thể phản bội Đức Chúa Trời. Bản tính của con người chính là phản bội Đức Chúa Trời. Các ngươi cho rằng: “Con người bị Sa-tan làm bại hoại thì có bản tính phản bội Đức Chúa Trời, nên tôi cũng chẳng còn cách nào, đành từ từ thay đổi thôi”. Bây giờ các ngươi còn nghĩ như vậy không? Vậy thì các ngươi nói xem, con người không bị làm bại hoại thì có thể phản bội Đức Chúa Trời không? Con người không bị làm bại hoại vẫn có thể phản bội Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Trời tạo dựng con người, Ngài ban cho họ một ý chí tự do. Con người vô cùng yếu đuối, họ không có lòng chủ động muốn đến gần Đức Chúa Trời và nói rằng: “Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa của chúng ta, và chúng ta là loài thọ tạo”. Bên trong con người không có khái niệm này. Vốn dĩ bên trong con người không có lẽ thật, không có những thứ như thờ phượng Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ban cho con người một ý chí tự do, cho họ có khả năng tư duy, nhưng con người không tiếp nhận lẽ thật, không biết Đức Chúa Trời chút nào, cũng không hiểu phải thuận phục và thờ phượng Ngài ra sao. Bên trong con người không có những thứ này, cho nên dù không bị làm bại hoại thì ngươi vẫn có thể phản bội Đức Chúa Trời. Tại sao lại nói rằng ngươi có thể phản bội Đức Chúa Trời? Khi Sa-tan đến dụ dỗ, ngươi đi theo Sa-tan và phản bội Đức Chúa Trời. Ngươi được Đức Chúa Trời tạo dựng nhưng không đi theo Ngài mà đi theo Sa-tan, đây chẳng phải là phản bội sao? Kẻ phản bội chính là kẻ sẽ gây ra hành vi phản bội, ngươi có nhìn thấu được thực chất này không? Cho nên mới nói, con người có thể phản bội Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu. Chỉ khi con người sống hoàn toàn ở vương quốc của Đức Chúa Trời và sống trong sự sáng của Ngài, khi những gì thuộc về Sa-tan đều bị hủy diệt, và không còn những thứ cám dỗ hay dụ dỗ con người phạm tội nữa, thì con người mới không thể phản bội Đức Chúa Trời. Nếu vẫn còn thứ dụ dỗ con người phạm tội thì họ vẫn có thể phản bội Đức Chúa Trời. Cho nên mới nói, con người là thứ vô giá trị. Ngươi còn cho rằng vì bản thân có thể giảng một ít câu chữ và đạo lý, nên ngươi hiểu một ít lẽ thật và không thể phản bội Đức Chúa Trời, dù không được coi là vàng bạc thì cũng phải là đồng hoặc sắt, vẫn quý giá hơn nhiều so với đồ đất nung, nhưng ngươi đánh giá quá cao bản thân rồi. Ngươi có biết con người là thứ gì không? Con người có thể phản bội Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu, họ không đáng giá một xu; chính như lời Đức Chúa Trời đã phán, con người là súc sinh, là thứ đê tiện. Nhưng trong lòng con người không nghĩ như vậy. Họ cảm thấy: “Tôi không cảm thấy mình đê tiện! Sao tôi lại không thể nhìn thấu chuyện này? Sao tôi lại chưa trải nghiệm nó? Tôi thật lòng tin Đức Chúa Trời, tôi có đức tin nên sẽ không thể phản bội Đức Chúa Trời. Mặc dù lời của Đức Chúa Trời đều là lẽ thật, nhưng tôi vẫn không lý giải được câu nói ‘Con người có thể phản bội Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu’. Tôi đã nhìn thấy tình yêu của Đức Chúa Trời, tôi sẽ không bao giờ có thể phản bội Ngài”. Đây chính xác là những gì con người nghĩ trong lòng, nhưng những lời Đức Chúa Trời phán cũng đều là lẽ thật, không phải nói suông. Sự kiện nào cũng đều cho các ngươi thấy, cho các ngươi tâm phục khẩu phục, chỉ như vậy thì các ngươi mới có thể nhận biết sự bại hoại của bản thân và giải quyết vấn đề phản bội. Trong vương quốc sẽ không có sự phản bội, con người sống dưới sự thống trị của Đức Chúa Trời chứ không bị Sa-tan khống chế, con người được tự do tự tại và sẽ không cần lo lắng liệu mình có thể phản bội Đức Chúa Trời hay không. Không cần thiết phải lo lắng, như vậy là thừa thãi. Sau đó, có thể tuyên bố rằng trong các ngươi không còn những thứ có thể phản bội Đức Chúa Trời nữa, nhưng hiện tại thì chưa được. Bởi vì con người có tâm tính bại hoại nên họ có thể phản bội Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào. Không phải có hoàn cảnh thì mới có thể phản bội, cũng không phải không có hoàn cảnh hoặc không có ai ép buộc thì ngươi sẽ không phản bội; ngay cả khi không ai ép buộc, ngươi vẫn có thể phản bội. Đây là vấn đề về thực chất bại hoại của con người, là vấn đề thuộc về bản tính. Cho dù hiện tại ngươi không suy nghĩ hay làm bất cứ điều gì, nhưng bản tính của ngươi vẫn thực sự tồn tại và không ai diệt trừ được. Bởi vì trong ngươi có bản tính phản bội Đức Chúa Trời, trong lòng ngươi không có Đức Chúa Trời, trong sâu thẳm tâm linh của ngươi không có chỗ cho Đức Chúa Trời và không có sự tồn tại của lẽ thật; cho nên, ngươi có thể phản bội Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu. Thiên sứ thì không giống vậy, mặc dù họ không có tâm tính hay thực chất của Đức Chúa Trời, nhưng họ có thể hoàn toàn thuận phục Đức Chúa Trời vì họ được Ngài tạo dựng để chuyên phục vụ Ngài, theo sự sai khiến của Ngài mà đi khắp nơi. Họ hoàn toàn thuộc về Đức Chúa Trời. Còn với nhân loại, Đức Chúa Trời cho họ sống trên mặt đất chứ không tạo cho họ năng lực thờ phượng Ngài. Vì vậy, nhân loại có thể phản bội và chống đối Đức Chúa Trời. Điều này chứng tỏ rằng con người cũng có thể bị bất kỳ ai lợi dụng và tranh đoạt; họ không có chủ quyền của riêng mình. Nhân loại là thứ loài như vậy, không có chút tôn nghiêm hay giá trị nào!

Đức Chúa Trời vạch rõ bản tính phản bội của con người để con người có được nhận thức thực sự về chuyện này và về chính họ. Con người có thể từ phương diện này mà bắt đầu biến đổi và tìm kiếm con đường thực hành, nhận biết xem họ có thể phản bội Đức Chúa Trời trong những chuyện nào, và trong họ tồn tại tâm tính bại hoại nào có thể dẫn đến phản bội Ngài. Một khi ngươi đạt đến không phản nghịch Đức Chúa Trời ở nhiều phương diện và không phản bội Ngài trong hầu hết mọi khía cạnh, khi đi đến cuối hành trình sự sống của mình, đi đến khoảnh khắc mà công tác của Đức Chúa Trời kết thúc, ngươi sẽ không cần lo lắng liệu sau này mình có phản bội Đức Chúa Trời hay không. Tại sao lại nói như vậy? Trước khi con người bị Sa-tan làm bại hoại, họ có thể phản bội Đức Chúa Trời khi bị Sa-tan đến dụ dỗ. Khi Sa-tan bị tiêu diệt, chẳng phải con người sẽ không phản bội Đức Chúa Trời nữa sao? Thời điểm đó vẫn chưa đến, bên trong con người vẫn có tâm tính bại hoại của Sa-tan, vẫn có thể phản bội Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu. Một khi trải nghiệm sự sống đạt đến một mức nào đó, khi đã thoát khỏi tất cả những quan điểm, quan niệm và tưởng tượng sai lầm kia về việc chống đối và phản bội Đức Chúa Trời, khi ngươi đã hiểu lẽ thật và trong lòng có rất nhiều thứ tích cực, khi ngươi đã có thể khắc chế và làm chủ bản thân, và khi ngươi không còn phản bội Đức Chúa Trời trong phần lớn các tình huống, thì khi Sa-tan bị diệt vong, ngươi sẽ hoàn toàn biến đổi. Giai đoạn công tác hiện tại chính là giải quyết sự phản bội và phản nghịch của con người. Nhân loại sau này sẽ không phản bội Đức Chúa Trời, bởi vì Sa-tan đã bị giải quyết. Không còn chuyện Sa-tan mê hoặc và làm bại hoại con người, chuyện này sẽ không liên quan gì đến con người nữa. Hiện tại, việc có ý nghĩa nhất là khiến cho tất cả mọi người biết được bản tính phản bội của họ. Các ngươi nên bắt đầu từ đây, những thứ nào thuộc về bản tính phản bội Đức Chúa Trời, những thứ nào thuộc về bộc lộ sự phản bội, con người nên phản tỉnh và nhận biết như thế nào, nên thực hành và bước vào ra sao, những chuyện này đều phải được hiểu và nhìn thấy rõ ràng. Chỉ cần bản tính phản bội vẫn còn tồn tại bên trong con người, thì họ vẫn có thể phản bội Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu. Cho dù không công khai phủ nhận hoặc bán đứng Đức Chúa Trời, nhưng con người vẫn có thể làm ra rất nhiều chuyện mà họ cho rằng không phải phản bội, nhưng thực chất chính là phản bội. Tức là, con người không có quyền tự chủ, Sa-tan đã chiếm giữ họ trước tiên. Ngươi không bị làm bại hoại mà vẫn có thể phản bội Đức Chúa Trời, huống chi hiện tại toàn thân ngươi đều là tâm tính bại hoại của Sa-tan, thì chẳng phải càng có khả năng phản bội Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu hay sao? Nhiệm vụ hiện tại là khiến ngươi thoát khỏi tâm tính bại hoại này, càng ngày càng bớt đi những thứ khiến ngươi phản bội Đức Chúa Trời, ngươi đến trước Đức Chúa Trời sẽ càng có nhiều cơ hội được Ngài hoàn thiện và khiến Ngài chấp thuận ngươi. Khi ngươi trải nghiệm thêm công tác của Đức Chúa Trời ở đủ mọi chuyện khác nhau, ngươi sẽ có thể đạt được một số lẽ thật và đạt đến một chút hoàn thiện. Nếu Sa-tan và ma quỷ vẫn đến cám dỗ ngươi, hoặc vẫn còn tà linh đến mê hoặc và quấy nhiễu, thì ngươi có thể phân định một chút, như vậy thì hành vi phản bội Đức Chúa Trời của ngươi sẽ ít đi. Đây chính là thứ phát triển bên trong con người theo thời gian. Lúc con người mới được tạo dựng, họ không biết thờ phượng hay thuận phục Đức Chúa Trời, cũng không biết phản bội Ngài là gì. Khi Sa-tan đến dụ dỗ, họ đi theo và phản bội Đức Chúa Trời, họ trở thành kẻ phản bội, bởi vì họ không có năng lực phân định thiện ác, cũng không có năng lực thờ phượng Đức Chúa Trời, lại càng không hiểu rằng Đức Chúa Trời chính là Đấng Tạo Hóa của nhân loại, và không hiểu nên thờ phượng Ngài như thế nào. Hiện tại, Đức Chúa Trời cứu rỗi con người chính là đem phương diện lẽ thật về việc biết Ngài – bao gồm thực chất, tâm tính, sự toàn năng và thực tế của Đức Chúa Trời, v.v. – từ từ nhào nặn vào bên trong con người, để chúng trở thành sự sống của con người, con người sẽ có quyền tự chủ và sẽ có thể sống dựa theo lẽ thật. Ngươi càng có trải nghiệm sâu sắc về lời Đức Chúa Trời cũng như sự phán xét và hình phạt của lời Ngài, thì sẽ nhận biết càng sâu sắc về tâm tính bại hoại của chính mình, từ đó có được quyết tâm đạt đến thuận phục, yêu kính và làm hài lòng Đức Chúa Trời. Càng biết nhiều về Đức Chúa Trời, thì ngươi càng thoát khỏi tâm tính bại hoại, những thứ phản bội Đức Chúa Trời sẽ càng ít đi, còn thứ tương hợp với Ngài sẽ càng nhiều, qua đó ngươi sẽ có thể hoàn toàn vượt qua và chiến thắng Sa-tan. Con người đạt được lẽ thật thì sẽ có quyền tự chủ, không còn bị Sa-tan mê hoặc hay kìm kẹp nữa, họ sẽ có thể sống thể hiện ra nhân sinh chân chính. Có người hỏi: “Nếu bên trong con người có bản tính bại hoại, họ có thể phản bội Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu, vậy thì sao Đức Chúa Trời vẫn có thể nói rằng Ngài đã làm cho con người trọn vẹn?”. Được làm cho trọn vẹn chính là thông qua việc trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời, con người biết Đức Chúa Trời và nhận biết bản tính của mình, biết cách thờ phượng và thuận phục Đức Chúa Trời. Họ có thể phân định được giữa công tác của Đức Chúa Trời và công tác của con người, nhận biết sự khác biệt giữa công tác của Đức Thánh Linh và công tác của tà linh, đồng thời cũng nhận biết được Sa-tan và ma quỷ chống đối Đức Chúa Trời như thế nào, nhân loại chống đối Đức Chúa Trời ra sao, loài thọ tạo là gì và Đấng Tạo Hóa là ai. Theo thời gian, tất cả những điều đó được thêm vào con người thông qua công tác của Đức Chúa Trời. Cho nên, con người cuối cùng được làm cho trọn vẹn thì có trọng lượng và giá trị hơn so với những người ban đầu không bị làm bại hoại, bởi vì Đức Chúa Trời đã thêm vào họ một vài thứ, nhào nặn vào bên trong họ một vài thứ. Do đó, so với A-đam và Ê-va lúc trước, nhân loại cuối cùng được làm cho trọn vẹn cũng có quyền tự chủ hơn, hiểu rõ hơn lẽ thật về việc thờ phượng và thuận phục Đức Chúa Trời cũng như cách làm người. A-đam và Ê-va không biết những điều này. Khi bị con rắn đến dụ dỗ, họ đã ăn quả từ cây biết điều thiện và điều ác, sau cùng họ biết xấu hổ, nhưng vẫn không biết thờ phượng Đức Chúa Trời như thế nào. Từ đó về sau, con người ngày càng bại hoại hơn cho đến tận bây giờ. Chuyện này rất sâu sắc, nhân loại bại hoại không ai nhìn thấu được. Do bản năng xác thịt của mình mà con người còn có thể phản bội Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào và bất cứ nơi đâu, nhưng cuối cùng, Đức Chúa Trời vẫn muốn làm cho con người trọn vẹn và mang họ vào thời đại tiếp theo. Chuyện này con người không dễ lý giải, chỉ có thể từ từ trải nghiệm. Đến khi hiểu được lẽ thật thì tự nhiên họ sẽ có thể lý giải được.

Tại sao yêu cầu con người biết Đức Chúa Trời? Vì con người mà không biết Đức Chúa Trời thì sẽ chống đối Ngài. Con người mà không hiểu lẽ thật thì sẽ dễ dàng bị Sa-tan và tà linh mê hoặc, lợi dụng. Họ sẽ không thể thoát khỏi quyền thế của Sa-tan và không thể đạt được sự cứu rỗi. Nhưng nếu con người hiểu lẽ thật, thì họ sẽ có hiểu biết thực sự về Đức Chúa Trời, có thể thực sự thuận phục Ngài, làm chứng cho Ngài và được Ngài thu phục. Sa-tan có muốn mê hoặc hay lợi dụng họ cũng không được. Đây chính là hoàn toàn thoát khỏi quyền thế của Sa-tan và đạt được sự cứu rỗi, chính là ý nghĩa của việc Đức Chúa Trời yêu cầu con người phải biết Ngài. Biết Đức Chúa Trời thì sẽ có thể được Ngài cứu rỗi, không biết Đức Chúa Trời thì không có cách nào đạt được sự cứu rỗi của Ngài. Nếu con người không hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời và không mưu cầu lẽ thật chút nào, vẫn có thể sống dựa theo tâm tính Sa-tan, cho dù hiểu được chút lẽ thật nhưng lại không thực hành mà còn cố ý vi phạm, thì người như vậy đã hết thuốc chữa. Hiện tại các ngươi đang thuộc loại trạng thái nào? Miễn là hiện tại các ngươi còn một chút hy vọng, thì dù Đức Chúa Trời có nhớ những vi phạm trước đây của ngươi hay không, các ngươi nên duy trì tâm lý nào? “Tôi phải mưu cầu thay đổi tâm tính của mình, mưu cầu sự hiểu biết về Đức Chúa Trời, không bao giờ bị Sa-tan lừa gạt nữa, và không bao giờ gây ra bất cứ điều gì làm nhục danh Đức Chúa Trời nữa”. Con người hiện nay bị làm cho bại hoại quá sâu sắc và không có chút giá trị nào. Những điểm then chốt nào quyết định liệu họ có thể được cứu rỗi hay không và liệu họ có hy vọng nào không? Mấu chốt của vấn đề là, sau khi nghe một bài giảng, ngươi có thể lĩnh hội lẽ thật, có thể đưa lẽ thật vào thực hành và có thể thay đổi hay không. Đây là những điểm then chốt. Nếu ngươi chỉ cảm thấy hối hận, đến khi làm việc thì muốn gì làm nấy, làm theo những cách cũ, không những không tìm kiếm lẽ thật, vẫn bám vào những quan điểm, phương thức và quy định xưa cũ, không phản tỉnh và cố gắng biết mình, mà còn trở nên ngày càng tồi tệ, vẫn khăng khăng đi trên con đường cũ, thì ngươi sẽ không còn hy vọng, và nên bị xóa sổ. Với sự hiểu biết nhiều hơn về Đức Chúa Trời và sự hiểu biết sâu hơn về bản thân, ngươi sẽ có thêm khả năng ngăn cản bản thân hành ác và phạm tội. Ngươi càng biết thấu đáo về bản tính của mình thì càng có thể bảo vệ bản thân. Và sau khi tổng kết những kinh nghiệm và bài học của mình, ngươi sẽ không thất bại nữa. Trên thực tế, ai cũng có vài vết nhơ, chỉ là Đức Chúa Trời không bắt họ chịu trách nhiệm cho những vết nhơ đó. Mọi người đều có vết nhơ, chỉ là ở mức độ nào mà thôi; một số có thể nói ra, số khác thì không. Một số người làm những điều mà người khác biết, trong khi số khác làm những việc mà không ai biết. Mọi người đều có những vi phạm và vết nhơ, đều tỏ lộ một số tâm tính bại hoại nhất định, như sự kiêu ngạo hoặc tự cho mình là đúng; họ đều đã có vài sai lệch trong công việc hoặc thỉnh thoảng phản nghịch. Tất cả những điều này đều có thể hiểu được, con người bại hoại không thể tránh khỏi chúng. Nhưng một khi người ta hiểu lẽ thật thì họ nên có khả năng tránh được điều này và không vi phạm nữa; họ không cần phải lo lắng về những vi phạm trước đó nữa. Điều chính yếu là người ta có ăn năn hay không, có thực sự thay đổi hay không. Những người ăn năn và thay đổi là những người được cứu rỗi, trong khi những người vẫn mãi không ăn năn và không thay đổi thì phải bị đào thải. Nếu sau khi hiểu lẽ thật, người ta vẫn cố ý vi phạm, vẫn kiên quyết không ăn năn, hoàn toàn không thay đổi dù bị tỉa sửa, xử lý hay cảnh báo thế nào, thì những người như vậy vô phương cứu chữa.