Khi tin Đức Chúa Trời, điều quan trọng nhất là thực hành và trải nghiệm lời Ngài (Phần 2)
Các ngươi có biết dạng người nào cuối cùng bị Đức Chúa Trời từ bỏ không? (Thưa, là những người liên tục cương ngạnh và không chịu ăn năn trước Đức Chúa Trời.) Tình trạng cụ thể của những người này là gì? (Thưa, khi thực hiện bổn phận, họ luôn qua loa chiếu lệ, khi gặp vấn đề thì họ không tìm kiếm lẽ thật để giải quyết. Họ không sốt sắng về cách mà họ phải thực hành lẽ thật, và cứ qua loa chiếu lệ. Họ bằng lòng với việc không làm việc ác hay việc xấu, và họ không nỗ lực vì lẽ thật.) Hành vi qua loa chiếu lệ thì tùy thuộc vào hoàn cảnh. Có người làm thế vì họ không hiểu lẽ thật, họ còn nghĩ rằng qua loa chiếu lệ là bình thường. Có người cố ý qua loa chiếu lệ, chủ tâm chọn hành động theo cách như thế. Họ hành động như thế khi họ không hiểu lẽ thật, và thậm chí sau khi hiểu lẽ thật rồi, họ vẫn không cải thiện hành vi của mình. Họ không thực hành lẽ thật, trước sau vẫn hành động như thế mà không hề có chút thay đổi nào. Khi có người phê bình, họ không chịu lắng nghe, cũng không chịu tiếp nhận bị tỉa sửa hay xử lý. Thay vào đó, họ ngoan cố giữ lập trường của mình cho đến cùng. Điều này gọi là gì? Gọi là cương ngạnh. Ai cũng biết rằng “cương ngạnh” là một từ tiêu cực, một từ xúc phạm. Nó không phải là một từ tốt. Vậy các ngươi nói xem, nếu từ “cương ngạnh” được áp dụng cho người ta và họ hợp với mô tả này, vậy kết cục của họ sẽ là gì? (Thưa, họ sẽ bị Đức Chúa Trời khinh ghét, loại bỏ và gạt sang một bên.) Để Ta nói cho các ngươi nghe, điều mà Đức Chúa Trời khinh miệt nhất và muốn từ bỏ nhất chính là những dạng người cương ngạnh này. Họ biết sai mà không ăn năn, không bao giờ nhận mình sai, mà cứ viện cớ, viện lý do để thoát tội, ngụy biện, dùng cách thức ma lanh, bịt mắt người khác, liên tục phạm lỗi mà không hề có lòng ăn năn và nhận sai. Người như thế rất phiền phức và không dễ để họ đạt được ơn cứu rỗi. Họ chính là những người mà Đức Chúa Trời muốn ruồng bỏ. Tại sao Đức Chúa Trời ruồng bỏ những người như thế? (Thưa, bởi vì họ không hề tiếp nhận lẽ thật chút nào và lương tâm của họ đã trở nên tê liệt.) Những người như thế không thể được cứu rỗi. Đức Chúa Trời không cứu rỗi những người này, Ngài không làm một việc vô ích như thế. Nhìn bề ngoài, có vẻ như Đức Chúa Trời không cứu rỗi họ và không muốn họ, nhưng thật ra, có một lý do thực tế cho chuyện này, là những người này không tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, họ cự tuyệt và chống đối sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Họ nghĩ: “Tôi vâng phục Ngài, tiếp nhận và thực hành lẽ thật thì tôi đạt được gì chứ? Có lợi gì không? Có lợi cho tôi thì tôi mới làm. Nếu không có lợi thì tôi không làm”. Những người này là dạng người gì? Họ là những người bị thúc đẩy bởi tư lợi, những người không yêu mến lẽ thật đều bị thúc đẩy bởi tư lợi. Những người bị thúc đẩy bởi tư lợi thì không thể tiếp nhận lẽ thật. Với người bị thúc đẩy bởi tư lợi mà ngươi cố thông công về lẽ thật với họ và bảo họ biết mình, thừa nhận sai trái, thì họ sẽ phản ứng thế nào? “Thừa nhận sai trái của mình thì tôi được lợi ích gì? Nếu anh bắt tôi thừa nhận mình đã làm sai gì đó, bắt tôi thú nhận tội lỗi và ăn năn, thì tôi sẽ nhận được phước lành gì? Danh tiếng và lợi ích của tôi sẽ bị tổn hại. Tôi sẽ chịu mất mát. Ai sẽ bù đắp cho tôi đây?” Tâm lý của họ là vậy. Họ chỉ tìm kiếm lợi ích cá nhân, cảm thấy hành động theo một cách nhất định nào đó để nhận được phước lành của Đức Chúa Trời là chuyện rất mơ hồ. Đơn giản là họ không tin chuyện đó khả dĩ, họ chỉ tin những gì mà họ tận mắt thấy thôi. Những người như thế bị thúc đẩy bởi tư lợi, và họ sống theo triết lý Sa-tan “Người không vì mình, trời tru đất diệt”. Đây là thực chất bản tính của họ. Trong lòng họ cho rằng công nhận Đức Chúa Trời và lẽ thật thì nghĩa là họ tin Đức Chúa Trời. Họ chấp nhận được chuyện không làm việc ác, nhưng họ phải được lợi và tuyệt đối không bị tổn thất gì. Chỉ khi lợi ích của họ không bị ảnh hưởng thì họ mới bàn đến chuyện thực hành lẽ thật và vâng phục Đức Chúa Trời. Nếu lợi ích của họ bị tổn hại, họ không thể thực hành lẽ thật hay vâng phục Đức Chúa Trời. Bảo họ dâng mình, chịu khổ hay trả giá vì Đức Chúa Trời thì càng bất khả thi hơn. Những người như thế không thành tâm tin Đức Chúa Trời. Họ sống vì lợi ích bản thân, chỉ tìm kiếm phước lành và lợi ích, không sẵn lòng chịu khổ hay trả giá, nhưng lại muốn có chỗ trong nhà Đức Chúa Trời để thoát khỏi kết cục của cái chết. Những người như thế không hề tiếp nhận lẽ thật chút nào và không thể được Đức Chúa Trời cứu rỗi. Đức Chúa Trời vẫn có thể cứu rỗi họ chứ? Chắc chắn Đức Chúa Trời khinh ghét họ, loại bỏ họ và đào thải họ. Như thế nghĩa là Đức Chúa Trời không cứu rỗi họ sao? Chính họ đã tự ruồng bỏ bản thân mình. Họ không nỗ lực hướng đến lẽ thật, không cầu nguyện với Đức Chúa Trời, không cậy dựa Ngài, thì làm sao Đức Chúa Trời có thể cứu rỗi họ chứ? Cách duy nhất là từ bỏ họ, gạt họ sang một bên và để họ tự phản tỉnh bản thân. Nếu người ta muốn được cứu rỗi, cách duy nhất cho họ là tiếp nhận lẽ thật, biết mình, thực hành ăn năn và sống thể hiện ra thực tế lẽ thật. Theo cách này, họ có thể được Đức Chúa Trời chấp thuận. Họ phải thực hành lẽ thật để có thể vâng phục và kính sợ Đức Chúa Trời, đây vốn là mục đích tối hậu của sự cứu rỗi. Vâng phục và kính sợ Đức Chúa Trời phải được biểu hiện nơi con người và cách họ sống đời mình. Nếu ngươi không bước đi con đường mưu cầu lẽ thật, thì không còn con đường nào khác để ngươi chọn. Nếu người ta không bước theo con đường này, chỉ có thể nói rằng họ không tin lẽ thật có thể cứu rỗi họ. Họ không tin rằng mọi lời Đức Chúa Trời phán có thể biến đổi họ và khiến họ trở thành một con người chân chính. Hơn nữa, về căn bản, họ không tin Đức Chúa Trời là lẽ thật, cũng không tin vào sự thật rằng lẽ thật có thể thay đổi và cứu rỗi con người. Do đó, bất kể ngươi phân tích thế nào, lòng của người như thế cũng quá cương ngạnh. Dù có thế nào họ cũng không chịu tiếp nhận lẽ thật và họ không thể được cứu rỗi.
Các ngươi có tình trạng cương ngạnh không? (Thưa, có.) Vậy các ngươi đều là người cương ngạnh sao? Có tình trạng cương ngạnh và là người cương ngạnh có gì khác nhau? Phải phân biệt hai điều này vì chúng là hai vấn đề khác nhau. Có tình trạng cương ngạnh nghĩa là có kiểu tâm tính bại hoại này. Nếu ngươi có thể tiếp nhận lẽ thật thì ngươi có thể đạt được sự cứu rỗi, nhưng nếu ngươi là người cương ngạnh thì ngươi sẽ gặp rắc rối. Người cương ngạnh không tiếp nhận lẽ thật chút nào, họ sẽ không thể đạt được ơn cứu rỗi. Đấy là sự khác biệt giữa hai loại người này. Những người có tình trạng cương ngạnh thì thể hiện một vài hành vi phản nghịch, và bộc lộ một vài sự bại hoại trong họ. Tuy nhiên, trong quá trình bộc lộ sự bại hoại, họ liên tục thú nhận tội lỗi và ăn năn trước Đức Chúa Trời, liên tục tiếp nhận sự phán xét, hành phạt và sửa phạt của Đức Chúa Trời. Bất kể gặp thất bại hay vấp ngã bao nhiêu lần, họ đều có thể phản tỉnh bản thân, giải quyết vấn đề, đứng dậy trở lại và tiếp tục đi theo Đức Chúa Trời. Thông qua hành trình này, họ đạt được nhận thức thực sự về tâm tính bại hoại của mình và nhận ra rằng việc trải nghiệm sự phán xét và hành phạt của Đức Chúa Trời thật sự là một dạng cứu rỗi, thiếu sự phán xét và hành phạt của Đức Chúa Trời thì họ không thể làm được. Thông qua sự ăn năn liên tục, thú tội không ngừng và liên tục tiếp nhận sự phán xét và hành phạt của Đức Chúa Trời, sự sống của họ cứ liên tục phát triển, tình trạng tâm linh của họ liên tục thay đổi. Trong quá trình này, tâm tính bại hoại của người ta có thể dần bị loại bỏ, họ trải nghiệm sự phát triển và biến đổi. Xét từ hành vi phản nghịch của họ, có vẻ như những người này cũng rất cương ngạnh, và đôi khi họ có tình trạng cương ngạnh, nhưng họ không phải là dạng người cương ngạnh. Vì họ không phải là dạng người cương ngạnh, nên chắc chắn họ có thể có những hành vi và sự tiến bộ tích cực. Những người như thế có thể được cứu rỗi. Các ngươi là dạng người nào? (Thưa, khi làm sai chúng con nhận ra được là sai và sẵn lòng ăn năn với Đức Chúa Trời, chỉnh đốn lỗi lầm của mình.) Nếu ngươi ý thức được việc làm sai trái, sự phản nghịch và tâm tính bại hoại của mình, và các ngươi cảm thấy ăn năn hối hận trong lòng, thì như thế là tốt và có hy vọng được cứu rỗi. Tuy nhiên, nếu ngươi theo chủ quan không có chút ý thức nào về sự phản nghịch hay bại hoại của mình, và khi có người chỉ ra cho thì ngươi vẫn cứ ngoan cố và không chịu tiếp thu, thậm chí còn ngụy biện và biện minh cho bản thân, vậy thì ngươi sẽ gặp rắc rối, và sẽ không dễ để ngươi được cứu rỗi. Nếu ngươi mới tin Đức Chúa Trời trong thời gian ngắn, chỉ mới ba đến năm năm, và vẫn chưa hiểu được nhiều về đức tin, thì đó là do vóc giạc của ngươi quá nhỏ bé. Tuy nhiên, nếu ngươi đã tin Đức Chúa Trời hơn mười năm mà vẫn không biết mình, không tiếp nhận khi bị tỉa sửa và xử lý, vậy thì ngươi gặp rắc rối rồi. Đây là người có tâm tính cương ngạnh không chịu tiếp nhận lẽ thật. Với những người không hiểu lẽ thật và không có thực tế, ngươi phải nhìn vào thời điểm lúc đó của họ. Có người có tố chất tốt, bước vào lẽ thật một cách nhanh chóng, và chỉ sau một hoặc hai năm có đức tin, họ đã hiểu được lối vào sự sống nghĩa là gì. Cũng có thể họ đã tiếp xúc với những người có lối vào sự sống rất tốt, đã có thực tế lẽ thật và hiểu nhiều lẽ thật. Những người mới tin cũng khao khát những điều này, nên họ lắng nghe nhiều và nhận được nhiều, nhờ đó bước vào sự sống một cách nhanh chóng. Có người có tố chất kém, thậm chí có tiếp xúc với người có tố chất tốt, họ vẫn cứ tiến bộ chậm. Có người vốn không thích lẽ thật, dù đã tin bao nhiêu năm đi nữa, họ cũng không thực hành lẽ thật, cũng như không có tiến bộ trong sự sống. Có người chỉ thích làm đủ việc và đầy nhiệt tâm, nhưng họ không sẵn lòng nỗ lực hướng đến lẽ thật. Ngày nào họ cũng tất bật, nhưng lại không có tiến bộ trong sự sống. Những người tin Đức Chúa Trời có thể ở trong đủ mọi loại tình trạng. Tuy nhiên, chỉ có những ai yêu mến lẽ thật mới có thể thực hành lẽ thật, đạt được lẽ thật và đạt được sự cứu rỗi. Đối với người tin Đức Chúa Trời, đáng lo nhất họ có tâm tính cương ngạnh và không tiếp nhận lẽ thật. Những người như thế là phiền phức nhất và bản tính của họ có vấn đề. Họ có thể tiếp nhận giáo lý, nhưng lại không chịu tiếp nhận lẽ thật. Họ là những người ít có khả năng đạt được sự cứu rỗi nhất. Với những người không yêu mến lẽ thật và chán ghét lẽ thật, thì chỉ còn cách duy nhất là ruồng bỏ họ.
Để Ta cho hai ví dụ về nói dối. Có hai loại người có thể nói dối. Các ngươi cần phân biệt người nào cương ngạnh và không thể cứu vãn. Các ngươi cũng cần phân biệt người nào có thể được cứu vãn. Mặc dù những người có thể được cứu rỗi thường bộc lộ sự bại hoại, nhưng miễn là họ có thể tiếp nhận lẽ thật, phản tỉnh và biết mình, thì vẫn còn hy vọng. Trong ví dụ thứ nhất, có người thường xuyên nói dối. Tuy nhiên, sau khi hiểu ra lẽ thật, lần tiếp theo họ nói dối, phản ứng của họ khác hẳn. Họ cảm thấy đau đớn và dằn vặt, nghĩ rằng: “Mình lại nói dối rồi. Tại sao mình không thể thay đổi? Lần này, dù có thế nào đi nữa, mình cũng phải vạch trần vấn đề này, phơi bày hết bản thân mình và mổ xẻ chân tướng của mình. Mình cần phải nói rõ ràng về sự thật rằng mình nói dối để giữ thể diện”. Sau khi mở lòng và thông công, họ cảm thấy thanh thản và nhận ra rằng: “Hóa ra, nói dối quá đau đớn, còn làm người trung thực thì quá dễ dàng và tuyệt vời! Đức Chúa Trời yêu cầu con người phải trung thực, đây là hình tượng mà con người phải có”. Sau khi trải nghiệm một chút hạnh phúc này, từ đó về sau, họ chủ tâm nói dối bớt đi, hạn chế nói dối hết sức có thể, có gì nói nấy, nói năng trung thực, làm việc trung thực và làm người trung thực. Tuy nhiên, khi gặp hoàn cảnh liên quan đến thể diện của họ, họ sẽ tự nhiên nói dối rồi sau đó hối hận vì chuyện này. Rồi khi họ thấy mình rơi vào hoàn cảnh mà họ có thể làm mình trông tốt đẹp, họ lại nói dối. Họ hận mình trong lòng, nghĩ rằng: “Tại sao mình không thể kiểm soát cái miệng? Đây có thể nào là vấn đề trong bản tính của mình không? Mình có quá giả dối không?” Rồi họ nhận ra rằng vấn đề này phải được giải quyết, nếu không thì Đức Chúa Trời sẽ khinh ghét và loại bỏ họ, đào thải họ. Họ cầu nguyện với Đức Chúa Trời, xin Ngài sửa dạy nếu họ nói dối lần nữa, và họ sẵn lòng tiếp nhận sự trừng phạt. Họ lấy hết dũng khí để phân tích bản thân trong những buổi hội họp, nói rằng: “Khi tôi nói dối trong những hoàn cảnh đó, là do tôi có những động cơ ích kỷ và bị ý định của tôi chi phối. Khi phản tỉnh, tôi nhận ra rằng mỗi lần tôi nói dối, đều là vì hư vinh, thể diện hoặc lợi ích cá nhân của tôi. Giờ tôi thấy rõ rồi: tôi sống vì thể diện và lợi ích cá nhân của mình, chính chúng dẫn dắt tôi nói dối suốt về mọi thứ”. Khi phân tích những lời nói dối của mình, họ cũng phơi bày ý định của mình và phát hiện vấn đề về tâm tính bại hoại của mình. Đây là tình huống lợi cả đôi đường, họ có thể thực hành làm người trung thực và đồng thời đạt được sự khai sáng, nhận ra tâm tính bại hoại của mình. Sau đó, họ suy ngẫm rằng: “Mình cần phải thay đổi! Mình vừa phát hiện ra mình có vấn đề này. Đây là sự khai sáng thực sự từ Đức Chúa Trời. Những người thực hành lẽ thật thì được Đức Chúa Trời ban phước lành!” Họ cũng nếm trải được một chút vị ngọt của việc thực hành lẽ thật. Tuy nhiên, đến một ngày, người đó lại bất tri bất giác nói dối lần nữa. Họ lại cầu nguyện với Đức Chúa Trời, tìm kiếm sự sửa dạy của Ngài. Hơn nữa, họ còn phản tỉnh về lý do tại sao họ luôn có ẩn ý khi nói năng, và tại sao họ luôn quan tâm đến hư vinh và thể diện của mình thay vì quan tâm đến ý muốn của Đức Chúa Trời. Sau khi phản tỉnh, họ đạt được một số hiểu biết về tâm tính bại hoại của mình và bắt đầu khinh ghét bản thân. Họ tiếp tục tìm kiếm như thế và nỗ lực hướng về lẽ thật. Sau ba đến năm năm, họ thật sự ngày càng bớt nói dối, ngày càng nói ra nhiều hơn suy nghĩ của mình và ngày càng hành xử một cách trung thực. Lòng họ dần trở nên thuần khiết hơn, ngày càng có bình an và niềm vui. Họ ngày càng dành nhiều thời gian hơn để sống trước Đức Chúa Trời và tình trạng của họ ngày càng bình thường. Đây là tình trạng thật của người thường xuyên nói dối khi họ trải nghiệm làm người trung thực. Vậy bây giờ, người này còn nói dối không? Họ vẫn còn có thể nói dối không? Họ thật sự là người trung thực sao? Không thể nói rằng họ là người trung thực. Chỉ có thể nói rằng họ có thể thực hành lẽ thật của việc làm người trung thực, và họ đang trong quá trình thực hành làm người trung thực, nhưng họ chưa hoàn toàn biến đổi trở thành người trung thực. Nói cách khác, đây là một người sẵn lòng thực hành lẽ thật. Một người sẵn lòng thực hành lẽ thật có thể được gọi là người yêu mến lẽ thật không? Họ đã thực hành lẽ thật và những sự thật đã được tỏ lộ, nên nếu xác định họ là người yêu mến lẽ thật, chẳng phải là điều tự nhiên hay sao? Dĩ nhiên, trong khi thực hành làm người trung thực, đâu phải họ ngay lập tức có thể thực hành việc thông công đơn thuần và cởi mở, hoặc phơi bày hết mọi điều ẩn giấu trong mình mà không hề dè dặt. Họ vẫn giữ lại một số điều và cẩn trọng cố gắng tiến lên. Tuy nhiên, qua những nỗ lực và trải nghiệm của mình, họ nhận ra rằng càng sống trung thực, dễ chịu và vững vàng, càng dễ thực hành lẽ thật, không gặp khó khăn gì lớn. Chỉ khi đó họ mới nếm trải được vị ngọt của việc làm người trung thực, và đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời càng thêm lớn mạnh. Khi trải nghiệm việc làm người trung thực là thế nào, họ không chỉ có thể thực hành lẽ thật mà còn trải nghiệm được sự bình an và niềm vui trong lòng. Đồng thời, họ có được hiểu biết rõ ràng về con đường thực hành sự trung thực. Họ cảm thấy làm người trung thực không quá khó. Họ thấy được rằng những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người đều hợp tình hợp lý, có thể đạt được, và họ hiểu được đôi chút về công tác của Đức Chúa Trời. Tất cả những điều này không phải là lợi ích phụ thêm, mà đây là điều người ta phải đạt được trong hành trình của lối vào sự sống, và họ có thể đạt được điều đó.
Ví dụ thứ hai là về một người mê nói dối, nói dối trở thành bản tính của họ rồi. Khi họ không nói gì thì không sao, nhưng ngay khi họ mở miệng thì lời họ chứa đầy những uế tạp. Dù họ có cố ý như thế hay không, tóm lại, đa phần những gì họ nói đều không thể tin tưởng được. Một hôm nọ, sau khi nói dối, họ suy ngẫm: “Nói dối là sai, làm phật ý Đức Chúa Trời. Nếu mọi người phát hiện ra mình nói dối, thì mình sẽ nhục lắm! Nhưng có vẻ như có người đã để ý thấy là mình nói dối. Được thôi, mình có thể dễ dàng xử lý chuyện này. Mình sẽ tìm ra một chủ đề khác, và dùng những lời lẽ khác để làm tê liệt và mê hoặc họ, để họ không thể nhìn thấu những lời nói dối của mình. Vậy chẳng phải là khôn khéo hơn sao?”. Rồi họ nói thêm một lời nói dối lớn hơn nữa để che đậy lời nói dối trước đó của mình và bịt kín kẽ hở, thành công lừa phỉnh mọi người. Họ cảm thấy đắc ý và tự mãn, nghĩ rằng: “Xem mình thông minh chưa kìa! Mình nói dối mà không có kẽ hở nào, kể cả có kẽ hở, mình chỉ việc nói dối thêm lần nữa để che đậy chúng. Hầu hết mọi người chẳng thể nhìn thấu mình. Nói dối cũng phải có kỹ năng đấy!”. Có người nói: “Nói dối vất vả lắm. Sau khi nói dối một lời thì phải nói dối thêm nhiều nữa để che đậy nó. Phải mất nhiều suy nghĩ và nỗ lực”. Tuy nhiên, bậc thầy nói dối này lại không cảm thấy như vậy. Trong ví dụ này, những lời nói dối của họ đã không bị vạch trần. Họ nói dối suôn sẻ để lừa người, rồi khi sợ bị vạch trần, họ lại nói dối để che đậy lời nói dối cũ. Họ cảm thấy đắc ý, trong lòng chẳng thấy tội lỗi hay tự trách gì. Lương tâm của họ hoàn toàn không có cảm giác gì. Sao có thể như thế? Họ không ý thức được việc nói dối gây hại như thế nào cho họ. Họ tin rằng dùng những lời nói dối để che đậy những lời nói dối trước đó là việc giúp họ cải thiện hình tượng và đạt được lợi ích. Dù có khó khăn mệt nhọc thế nào, họ vẫn nghĩ đáng để làm thế. Họ tin rằng nó giá trị hơn việc hiểu lẽ thật và thực hành lẽ thật. Tại sao họ thường xuyên nói dối mà không cảm thấy có lỗi? Bởi vì trong lòng họ không yêu mến lẽ thật. Họ đánh giá cao hư vinh và thể diện, danh tiếng và địa vị của mình. Họ không bao giờ mở lòng khi thông công với người khác, thay vào đó, họ dùng những hình tượng giả và những phương thức ngụy trang để che đậy những lời nói dối của mình. Đấy là cách họ tương tác và tiếp xúc với mọi người. Dù nói dối bao nhiêu lời, che đậy bao nhiêu lời nói dối, bao nhiêu ý định ích kỷ và hèn hạ, họ cũng không cảm thấy tội lỗi hay khó chịu trong lòng. Thông thường, những ai có lương tâm và chút ít nhân tính thì sẽ cảm thấy khó chịu sau khi nói dối, sẽ rất chật vật để khiến mình thanh thản với chuyện này. Họ sẽ có ý thức hổ thẹn, nhưng người này lại không nghĩ theo cách đó. Sau khi nói dối, họ cảm thấy đắc ý, nói rằng: “Hôm nay tôi lại nói dối và lừa tên ngốc đó. Tôi đã lo đến đổ mồ hôi hột, nhưng không hiểu sao anh ta không hề để ý thấy!”. Họ không chán cuộc sống liên tục nói dối rồi che đậy lời nói dối như vậy sao? Đây là dạng bản tính gì? Đây là bản tính của ma quỷ. Ma quỷ nói dối hằng ngày. Chúng sống một cuộc đời nói dối mà không cảm thấy khó chịu hay đau đớn gì. Nếu chúng cảm thấy khó chịu hay đau đớn thì chúng đã thay đổi rồi, nhưng chúng không thể cảm thấy đau đớn vì nói dối là cuộc sống của chúng, nó là bản tính của chúng. Khi chúng tự nhiên bộc lộ bản thân, chúng không kiềm chế gì và không hề phản tỉnh. Bất kể nói dối hay lừa lọc bao nhiêu đi nữa, chúng cũng không cảm thấy tội lỗi trong lòng, không thấy cắn rứt lương tâm. Chúng không ý thức được rằng Đức Chúa Trời dò xét tận sâu thẳm lòng người, chúng không nhận ra trách nhiệm mà chúng phải mang và báo ứng mà chúng sẽ nhận sau khi nói dối và hành động gian dối. Chúng sợ nhất chuyện có ai đó sẽ phơi bày những âm mưu ngụy kế của chúng, nên chúng nói dối thêm để che đậy những âm mưu của mình, đồng thời vắt óc suy nghĩ để tìm ra cách nào đó, phương thức nào đó để che đậy những lời nói dối của mình, che đậy sự thật về chân tướng của mình. Người như thế có chút ăn năn nào trong toàn bộ quá trình này không? Họ có cảm thấy tự trách hay đau buồn không? Họ có bất kỳ mong muốn thay đổi bản thân nào không? Không. Họ nghĩ nói dối hay che đậy lời nói dối thì không phải là tội, nghĩ rằng hầu hết mọi người đều sống như thế và họ không có ý định thay đổi. Về chuyện làm người trung thực, trong lòng họ nghĩ rằng: “Tại sao mình phải làm người trung thực, nói năng thật lòng và nói thật? Mình chẳng làm đâu. Kẻ ngốc mới làm thế, mà mình đâu có ngốc. Nếu mình nói dối và sợ bị vạch trần thì mình chỉ việc tìm thêm lý do và viện cớ để che đậy nó. Mình không phải là loại người có thể nói năng trung thực. Làm thế thì mình trở thành kẻ đại ngốc mất!”. Họ không tiếp nhận cũng không thừa nhận lẽ thật. Những người không thừa nhận lẽ thật thì không thể yêu mến lẽ thật. Tình trạng của người này từ đầu đến cuối là gì? (Thưa, họ không sẵn lòng thay đổi bản thân.) Nhìn từ quan điểm khách quan, rõ ràng là họ không sẵn lòng thay đổi, nhưng tình trạng thật sự của họ là gì? Về căn bản, họ phủ nhận chuyện làm người trung thực là con đường đúng đắn trong đời. Họ cũng bác bỏ sự tồn tại của lẽ thật, của việc Đức Chúa Trời phán xét nhân loại trong thời kỳ sau rốt, và việc Đức Chúa Trời quyết định đích đến cuối cùng của con người và sự báo ứng từng người cho hành động của họ. Đây là thiếu phân định, ngu muội và ngoan cố. Suy nghĩ như thế gây nảy sinh tình trạng, hành động và hành vi cương ngạnh của họ. Những điều này nảy sinh từ thực chất bản tính của họ. Họ là dạng người đó, một người thật sự giả dối, và họ không thể thay đổi. Khi thấy những người này từ chối tiếp nhận lẽ thật, có người thấy thật phi lý và không thể hiểu nổi. Thật ra, những người như thế này thiếu nhân tính bình thường và lương tâm của họ không hoạt động chuẩn. Hơn nữa, họ thiếu lý trí của nhân tính bình thường. Khi nghe lẽ thật và những lời phán xét, người có nhân tính và lý trí bình thường ít ra sẽ phản tỉnh bản thân và thật tâm ăn năn, những người này lại không hề có phản ứng gì sau khi nghe con đường thật. Họ vẫn nhất quyết sống theo triết lý Sa-tan, không hề có chút thay đổi nào trong đức tin vào Đức Chúa Trời sau nhiều năm. Người như thế thiếu lý trí của nhân tính bình thường, và rất khó để họ được cứu rỗi.
Trong hai dạng người này, các ngươi nghĩ Đức Chúa Trời sẽ cứu rỗi ai? (Thưa, dạng người đầu tiên, vì dù có nói dối, nhưng họ có thể tiếp nhận lẽ thật và trở nên trung thực.) Người ta thấy chuyện này và hỏi: “Làm sao những người được Đức Chúa Trời cứu rỗi vẫn nói dối và làm việc sai trái suốt? Chẳng phải họ vẫn còn là con người bại hoại sao? Họ đâu phải là người hoàn hảo!”. Họ dùng từ “hoàn hảo” ở đây. Các ngươi nghĩ sao về chuyện này? Đây là những lời của một người không hiểu quá trình bình thường của sự phát triển sự sống. Đức Chúa Trời cứu rỗi những người đã bị Sa-tan làm bại hoại và có những tâm tính bại hoại, chứ không phải cứu rỗi những người hoàn hảo không tì vết hoặc những người sống giữa chân không. Có người khi bộc lộ một chút bại hoại thì nghĩ: “Mình lại chống đối Đức Chúa Trời rồi. Mình đã tin Đức Chúa Trời nhiều năm mà vẫn chẳng thay đổi. Chắc chắn Đức Chúa Trời không muốn mình nữa!”. Rồi họ buông mình vào vô vọng và không còn sẵn lòng mưu cầu lẽ thật. Các ngươi nghĩ thái độ này là gì? Chính họ đã từ bỏ lẽ thật, tin rằng Đức Chúa Trời không còn muốn họ nữa. Như thế chẳng phải là hiểu lầm Đức Chúa Trời sao? Sự tiêu cực như thế là cách dễ dàng nhất để bị Sa-tan lợi dụng. Sa-tan mỉa mai họ rằng: “Đồ ngốc! Đức Chúa Trời muốn cứu ngươi, nhưng ngươi vẫn đang chịu đau khổ thế này! Vậy nên ngươi hãy từ bỏ đi! Nếu ngươi từ bỏ, Đức Chúa Trời sẽ đào thải ngươi, cũng như là Ngài giao ngươi cho ta. Ta sẽ hành hạ ngươi đến chết!”. Một khi Sa-tan thành công, hậu quả sẽ không thể nào tưởng tượng nổi. Do đó, bất kể gặp phải khó khăn hay chuyện tiêu cực như thế nào, người ta cũng không được bỏ cuộc. Họ phải tìm kiếm lẽ thật để giải quyết, và không được thụ động chờ đợi. Trong quá trình phát triển sự sống và tiến trình cứu rỗi con người, có lẽ đôi lúc người ta đi lầm đường lạc lối, hoặc có những lúc thể hiện các trạng thái và hành vi của một sự sống non nớt. Có lẽ họ có những lúc yếu đuối và tiêu cực, có những lúc nói lời sai trái, vấp ngã hoặc thất bại. Trong mắt Đức Chúa Trời, mọi chuyện này là bình thường. Ngài không để bụng chuyện đó. Có người nghĩ rằng mình bại hoại quá sâu sắc, không bao giờ có thể làm thỏa lòng Đức Chúa Trời được, nên họ cảm thấy buồn sầu và khinh ghét bản thân. Những người có lòng ăn năn như thế chính là những người được Đức Chúa Trời cứu rỗi. Mặt khác, những người tin rằng mình không cần Đức Chúa Trời cứu rỗi, nghĩ rằng mình là người tốt và không có gì sai trái, thường không phải là người được Đức Chúa Trời cứu rỗi. Những lời Ta đang nói với các ngươi có ý nghĩa gì? Ai hiểu, cứ nói ra đi. (Thưa, chúng con phải đối đãi đúng đắn với sự bộc lộ bại hoại của mình, chú trọng thực hành lẽ thật rồi sẽ có thể nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Nếu cứ luôn hiểu lầm Đức Chúa Trời thì sẽ dễ buông mình vào vô vọng.) Ngươi phải có đức tin và nói rằng: “Mặc dù hiện giờ mình yếu đuối, mình đã vấp ngã và thất bại. Nhưng mình sẽ trưởng thành và đến một ngày, mình sẽ hiểu được lẽ thật, sẽ làm thỏa lòng Đức Chúa Trời và đạt được sự cứu rỗi”. Ngươi phải có quyết tâm như thế. Bất kể gặp phải bước lùi, khó khăn, thất bại hay vấp ngã gì, ngươi cũng không được tiêu cực. Ngươi phải biết dạng người nào được Đức Chúa Trời cứu rỗi. Hơn nữa, nếu ngươi cảm thấy mình vẫn chưa đủ tư cách để được Đức Chúa Trời cứu rỗi, hoặc nếu có những lúc ngươi ở trong những tình trạng mà Đức Chúa Trời ghét hoặc không hài lòng, hoặc có những lúc ngươi hành xử tệ và Đức Chúa Trời không chấp nhận ngươi, hoặc khinh ghét và cự tuyệt ngươi, cũng không sao cả. Giờ ngươi biết rồi, và vẫn chưa quá muộn. Chỉ cần ngươi ăn năn, Đức Chúa Trời sẽ cho ngươi cơ hội.
Khi tin Đức Chúa Trời, điều gì là quan trọng nhất? (Thưa, là hiểu được lẽ thật và có lối vào sự sống.) Đúng vậy, lối vào sự sống là điều quan trọng nhất, là điều trên hết. Bất kể ngươi thực hiện bổn phận gì, bất kể ngươi bao nhiêu tuổi, đã tin Đức Chúa Trời bao nhiêu năm, hiểu bao nhiêu lẽ thật, thì việc bước vào sự sống vẫn là điều trên hết. Đừng nghĩ rằng: “Có người tin Đức Chúa Trời đã hai mươi năm, còn mình chỉ mới tin có năm năm. Mình thua kém họ nhiều quá. Mình vẫn có hy vọng được cứu rỗi sao? Chẳng phải mình đang tụt lại quá xa sao?”. Tin muộn vài năm không phải là vấn đề lớn. Nếu ngươi là người mưu cầu lẽ thật, ngươi vẫn có thể bắt kịp những người đã tin Đức Chúa Trời sớm hơn ngươi. Chẳng phải Kinh Thánh nói: “Song có nhiều kẻ ở đầu sẽ nên rốt, và nhiều kẻ ở rốt sẽ nên đầu” (Ma-thi-ơ 19:30) sao? Nếu người ta luôn tìm lý do và viện cớ để không mưu cầu lẽ thật, thì kể cả khi họ tin cả đời cũng chỉ vô ích thôi, họ sẽ chẳng đạt được gì. Trong nhà Đức Chúa Trời, có nhiều người tin Đức Chúa Trời đã 20 hay 30 năm, nhưng lại không thực hiện bổn phận cho đạt tiêu chuẩn và họ đã bị đào thải. Có nhiều người luôn mưu cầu danh lợi và địa vị, trở thành những lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ, rồi bị đào thải. Có nhiều người không tin ngoan cố từ chối tiếp nhận lẽ thật và họ đều bị đào thải. Đây chẳng phải là sự thật sao? (Thưa, phải.) Hơn nữa, có những người chỉ mới tin Đức Chúa Trời trong ba đến năm năm, mà đã có thể nói về các lời chứng trải nghiệm của mình. Lời chứng và đức tin của họ vượt xa những người đã tin Đức Chúa Trời nhiều năm. Những người này đã nhận được phước lành của Đức Chúa Trời. Có nhiều người tin Đức Chúa Trời đã nhiều năm mà không mưu cầu lẽ thật chút nào và đã bị đào thải. Điều này khiến người ta thấy rõ một sự thật là Đức Chúa Trời công chính và công bằng với tất cả mọi người. Đức Chúa Trời không nhìn vào con người ngươi trước đây hay vóc giạc hiện tại của ngươi, Ngài nhìn vào việc liệu ngươi có mưu cầu lẽ thật, có bước đi con đường mưu cầu lẽ thật hay không. Ngươi không bao giờ được hiểu lầm Đức Chúa Trời mà nói rằng: “Tại sao những người có thể được Đức Chúa Trời cứu rỗi vẫn cứ nói dối và bộc lộ sự bại hoại? Đức Chúa Trời nên cứu những ai không nói dối thôi”. Đây chẳng phải là ngụy biện sao? Trong nhân loại bại hoại, có ai không nói dối? Người không nói dối vẫn cần Đức Chúa Trời cứu rỗi sao? Nhân loại bị Sa-tan làm cho bại hoại mới là người Đức Chúa Trời cứu rỗi. Đến sự thật này mà ngươi cũng không thể hiểu rõ được, thì ngươi thật vô tri và ngu muội. Đúng như Đức Chúa Trời đã phán: “Trên mặt đất này không có người công chính, trên thế giới này không có người công chính”. Chính xác là vì nhân loại đã bị Sa-tan làm cho bại hoại nặng nề, nên Đức Chúa Trời mới nhập thể đến nhân gian để cứu rỗi những con người bại hoại này. Tại sao Đức Chúa Trời không nói gì về chuyện cứu rỗi các thiên thần? Là bởi thiên thần ở trên thiên đàng, không bị Sa-tan làm cho bại hoại. Ngay từ đầu, Đức Chúa Trời luôn phán rằng: “Nhân loại mà Ta cứu rỗi là nhân loại đã bị Sa-tan làm cho bại hoại, nhân loại được giành lại từ tay Sa-tan, nhân loại có tâm tính bại hoại của Sa-tan, nhân loại đối địch Ta, chống đối và phản nghịch với Ta”. Vậy tại sao người ta không chịu đối diện với sự thật này? Chẳng phải họ đang hiểu lầm Đức Chúa Trời sao? Hiểu lầm Đức Chúa Trời là con đường ngắn nhất dẫn đến việc chống đối Ngài và nó phải được giải quyết ngay lập tức. Không giải quyết được vấn đề này thì rất nguy hiểm, vì nó có thể dễ dàng dẫn đến việc ngươi bị Đức Chúa Trời gạt bỏ. Những hiểu lầm của người ta phát xuất từ những quan niệm và tưởng tượng của họ. Nếu họ luôn bám vào những quan niệm và tưởng tượng của mình, thì họ rất dễ từ chối tiếp nhận lẽ thật. Khi ngươi hiểu lầm Đức Chúa Trời, mà ngươi không tìm kiếm lẽ thật để giải quyết, thì các ngươi biết hậu quả sẽ thế nào rồi đấy. Đức Chúa Trời cho phép ngươi vấp ngã, thất bại và phạm sai lầm. Đức Chúa Trời sẽ cho ngươi những cơ hội và thời gian để hiểu lẽ thật, thực hành lẽ thật, dần hiểu được ý muốn của Ngài, làm mọi việc theo ý muốn của Ngài, thật sự vâng phục Ngài, và đạt được thực tế lẽ thật mà Đức Chúa Trời yêu cầu con người phải có. Tuy nhiên, ai là người mà Đức Chúa Trời ghét nhất? Là người dù trong lòng biết lẽ thật, nhưng từ chối tiếp nhận, càng không đưa lẽ thật vào thực hành. Thay vào đó, họ vẫn sống theo triết lý của Sa-tan, nhưng lại xem bản thân mình là khá tốt đẹp, là vâng phục Đức Chúa Trời trong khi cứ tìm cách lừa phỉnh người khác và cố đạt được địa vị trong nhà Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ghét dạng người này nhất, họ là những kẻ địch lại Đấng Christ. Mặc dù ai cũng có tâm tính bại hoại, nhưng những hành động này có tính chất khác biệt. Nó không phải là tâm tính bại hoại thông thường, cũng không phải là bộc lộ sự bại hoại bình thường, mà đúng hơn là ngươi chủ tâm và ngoan cố đối kháng với Đức Chúa Trời đến cùng. Ngươi biết Đức Chúa Trời hiện hữu, ngươi tin Đức Chúa Trời, thế mà ngươi chủ tâm chọn đối kháng với Ngài. Đây không phải là có quan niệm về Đức Chúa Trời, không phải là vấn đề hiểu lầm, mà đây là ngươi chủ tâm đối kháng với Đức Chúa Trời đến cùng. Liệu Đức Chúa Trời có thể cứu rỗi một người như thế hay không? Đức Chúa Trời không cứu rỗi ngươi nữa. Ngươi là kẻ địch của Đức Chúa Trời, do đó, ngươi là ma quỷ Sa-tan. Đức Chúa Trời vẫn có thể cứu rỗi ma quỷ Sa-tan sao?
Các ngươi cảm nhận thế nào về mối thông công của Ta hôm nay? Các ngươi có hiểu được không? (Thưa, chúng con có hiểu.) Nếu các ngươi hiểu được gì đó thì các ngươi sẽ đạt được gì đó, và các ngươi sẽ đạt được phần nào lối vào lẽ thật. Nếu bước vào lẽ thật, thì sự sống của ngươi sẽ phát triển, nhưng nếu ngươi không bước vào lẽ thật thì sự sống của ngươi sẽ không phát triển. Nó giống như hạt giống đang nảy mầm thì cần được tưới nước, bón phân và có ánh nắng mặt trời. Nếu ngươi không chăm bón cho nó cẩn thận, nó sẽ không lớn lên rồi cuối cùng sẽ héo tàn và chết đi. Ta nói như thế nghĩa là gì? Nghĩa là chỉ thú nhận trên môi miệng và tin vào sự nhập thể của Đức Chúa Trời trong lòng thôi thì chưa đủ để biết Đức Chúa Trời và đủ tư cách bước vào vương quốc của Ngài. Như thế không có gì là bảo đảm, nó chỉ là một bước sơ bộ. Ngươi chưa đạt được sự cứu rỗi, ngươi chưa được biến đổi, và ngươi vẫn còn quãng đường dài phải đi. Trong thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật để cứu rỗi nhân loại một cách triệt để. Khi ngươi bước lên con đường tin Đức Chúa Trời, ngươi đã có cơ hội được Đức Chúa Trời cứu rỗi ngay từ đầu. Đây là phúc lành vô cùng lớn lao! Không được từ bỏ chuyện này. Việc Đức Chúa Trời cứu rỗi và hoàn thiện nhân loại trong thời kỳ sau rốt là một cơ hội cực kỳ hiếm có. Nhân loại đã sống qua hàng ngàn thế hệ, nhưng chưa ai từng có được cơ hội này. Được cứu rỗi là chuyện trọng đại, ngươi không được bỏ lỡ cơ hội này. Thế hệ các ngươi đã gặp Đức Chúa Trời nhập thể, đây là một phước lành! Phước lành này thế giới trần tục không thấy được, nhưng các ngươi đã thấy và được vui hưởng nó, đây chính là phước lành của Đức Chúa Trời. Có lẽ có người vẫn chưa rõ về các khải tượng, họ chỉ hiểu một số giáo lý nhưng không có đức tin chân thật. Họ chỉ cảm thấy rằng tin Đức Chúa Trời là tốt, thấy rằng đọc lời Đức Chúa Trời soi rạng lòng họ, nên họ tin đây là con đường đúng đắn trong đời và lòng họ có sức mạnh. Họ kiên quyết không đi theo con đường diệt vong của người ngoại đạo, cũng không đi theo con đường của những người trong tôn giáo chống đối Đức Chúa Trời. Họ quyết tâm chỉ đi theo Đức Chúa Trời, mưu cầu lẽ thật, đạt được sự tinh sạch, đạt được sự cứu rỗi và chỉ bước đi con đường theo Đức Chúa Trời. Người ta có quyết tâm như thế là tốt, và như thế nghĩa là có hy vọng cho họ. Đi theo Đức Chúa Trời thì được Đức Chúa Trời bảo vệ. Ít nhất là bây giờ, trong đời này, họ sẽ được hạnh phúc. Họ sẽ không còn bị tàn hại bởi Sa-tan, xã hội hay nhân loại, họ sẽ sống dưới sự thống trị của Đức Chúa Trời một cách trọn vẹn và chân thực. Đây là điều vinh dự và là niềm hạnh phúc có thể cảm nhận được trong đời này. Còn về đời sau thì sao? Đức Chúa Trời đã lập lời hứa. Ngoài việc cho ngươi sự cứu rỗi và cung dưỡng ngươi bằng lẽ thật và sự sống, Ngài còn hứa ban cho ngươi gấp trăm lần hơn trong đời này và cho ngươi sự sống đời đời trong đời sau. Do đó, đừng đánh giá thấp chuyện này. Cái giá ngươi trả và đau khổ ngươi chịu để đạt được lẽ thật và nhận lãnh sự cứu rỗi chỉ là tạm thời. Trong tương lai, khi người ta hiểu lẽ thật và có được lẽ thật, thì hạnh phúc, hân hoan và phước lành họ hưởng sẽ không thể nào tả xiết. Như thế nghĩa là, chỉ khi ngươi hiểu và đạt được lẽ thật thì ngươi mới có tư cách để nhận lãnh lời hứa của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã cho các ngươi mọi lẽ thật và sự cung dưỡng sự sống một cách vô điều kiện. Đúng là Đức Chúa Trời có thể cứu rỗi ngươi, nhưng cuối cùng ngươi có đạt được lẽ thật và sự sống hay không thì tùy thuộc vào việc ngươi có chọn con đường mưu cầu lẽ thật hay không. Quyết định đưa ra lựa chọn này nằm trong tay ngươi phải không? (Thưa, phải.) Nói cách khác, việc ngươi có thể đạt được sự sống và lẽ thật hay không, có đủ tư cách để nhận lãnh lời hứa của Đức Chúa Trời hay không và việc ngươi có thể nhận phước lành, nhận ơn phước “gấp trăm lần hơn cho đời này và sự sống đời đời ở đời sau” hay không, chính là một cơ hội nằm trong tay ngươi. Không ai khác có thể chi phối ngươi, giúp đỡ ngươi hay hạn chế ngươi. Ngươi có quyền lợi này, Đức Chúa Trời đã ban nó cho ngươi. Chuyện này tùy thuộc vào việc cuối cùng ngươi có chọn đi con đường mưu cầu lẽ thật hay không. Đây là vấn đề quan trọng nhất.
Ngày 09 tháng 11 năm 2016