Mưu cầu lẽ thật là gì (15) Phần 3
Sau khi đã phân định và mổ xẻ những sai lầm trong tư tưởng “Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy”, chúng ta hãy xem Đức Chúa Trời yêu cầu gì đối với con người về mặt lời nói và hành động? Đức Chúa Trời đòi hỏi con người phải là loại người nào? (Thưa, phải là người trung thực.) Đúng vậy. Hãy trung thực, không nói dối, không lừa lọc, không giả dối và không giở thủ đoạn. Hãy tìm kiếm lời Đức Chúa Trời và các nguyên tắc lẽ thật khi hành động. Chỉ vài điều này thôi, rất đơn giản. Nếu ngươi nói năng không trung thực, hãy sửa mình. Nếu ngươi phóng đại, nói dối hoặc nói năng quá đà, hãy phản tỉnh và nhận thức, đồng thời tìm kiếm lẽ thật để giải quyết nó. Ngươi phải nói những điều phản ánh đúng tình hình thực tế của mình, đúng nhận thức trong lòng mình và đúng sự thật. Ngoài ra, nếu ngươi có thể làm những điều đã hứa với người khác, thì hãy làm. Nếu ngươi không thể, hãy nói ngay với họ, rằng: “Tôi xin lỗi, tôi không làm được. Tôi không có khả năng, và sẽ không thể làm tốt công việc. Tôi không muốn làm anh bị chậm trễ, nên chắc anh nhờ người khác giúp hộ tôi”. Ngươi không cần phải luôn giữ lời, ngươi có thể rút lại lời hứa của mình. Chỉ cần là người trung thực. Hãy trung thực trong những gì ngươi nói và làm, thay vì cố làm giả hoặc lừa dối, và tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật trong mọi tình huống. Đơn giản vậy thôi, rất dễ. Trong những điều Đức Chúa Trời yêu cầu con người làm, có bất kỳ phần nào buộc họ phải giả vờ không? Ngài có bao giờ yêu cầu quá cao ở con người, bắt họ làm quá khả năng chịu đựng hoặc thực hiện của họ không? (Thưa, không.) Nếu con người không có đủ tố chất, khả năng hiểu biết, sinh lực hay thể lực, thì Đức Chúa Trời phán với họ rằng họ chỉ cần làm trong khả năng của mình, nỗ lực hết sức, và cống hiến hết mình là đủ. Ngươi nói: “Con đã dốc hết sức mình, nhưng vẫn không thể đáp ứng được yêu cầu của Đức Chúa Trời. Đó là tất cả những gì con có thể làm, nhưng con không biết Đức Chúa Trời có hài lòng hay không”. Trên thực tế, làm như vậy là ngươi đã đáp ứng được yêu cầu của Đức Chúa Trời rồi. Đức Chúa Trời không giao cho con người một gánh nặng quá sức chịu đựng của họ. Nếu ngươi có thể gánh một trăm cân, chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ không giao cho ngươi một gánh nặng hơn một trăm cân. Ngài sẽ không tạo áp lực cho ngươi. Đức Chúa Trời đối đãi với ai cũng như vậy. Và ngươi sẽ không bị kìm kẹp bởi bất kỳ điều gì – bất kỳ con người nào hay tư tưởng, quan điểm nào. Ngươi được tự do. Khi có chuyện xảy đến, ngươi có quyền lựa chọn. Ngươi có thể chọn thực hành theo lời Đức Chúa Trời, ngươi có thể chọn thực hành theo mong muốn cá nhân, hoặc tất nhiên, ngươi có thể chọn bám giữ những tư tưởng, quan điểm do Sa-tan tiêm nhiễm. Ngươi được tự do lựa chọn bất kỳ cách nào trong số này, nhưng ngươi phải chịu trách nhiệm cho mọi lựa chọn của mình. Đức Chúa Trời chỉ chỉ cho ngươi con đường; Ngài không ép buộc ngươi làm hoặc không làm điều gì cả. Sau khi Đức Chúa Trời đã chỉ cho ngươi con đường, sự lựa chọn là ở ngươi. Ngươi có đầy đủ nhân quyền, bao gồm toàn quyền lựa chọn. Ngươi có thể chọn lẽ thật, những ý muốn của mình, hoặc tất nhiên là các tư tưởng, quan điểm của Sa-tan. Dù ngươi chọn cái gì, thì cũng phải gánh chịu kết quả cuối cùng, không ai khác gánh thay cho ngươi được. Khi ngươi đưa ra lựa chọn, Đức Chúa Trời sẽ không can thiệp theo bất kỳ cách nào, Ngài cũng sẽ không làm bất cứ điều gì để ép buộc ngươi. Ngươi có thể lựa chọn theo ý mình, bất kể lựa chọn đó là gì. Cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ không hết lời khen ngợi ngươi, cho ngươi nếm được lợi ích lớn, khiến ngươi cảm thấy vui vẻ trong lòng, hay khiến ngươi cảm thấy vô cùng cao quý chỉ vì ngươi đã lựa chọn con đường đúng đắn và lẽ thật. Ngài sẽ không làm như thế. Nếu ngươi chọn những ý muốn con người của mình, Đức Chúa Trời cũng sẽ không ngay lập tức sửa dạy hay rủa sả ngươi, ngay cả khi ngươi hành động tùy ý, theo những tư tưởng, quan điểm do Sa-tan tiêm nhiễm, Ngài cũng không ngay lập tức giáng họa xuống đầu ngươi như một sự trừng phạt. Trong khi ngươi lựa chọn, mọi thứ sẽ diễn ra tự nhiên, và sau khi ngươi lựa chọn, mọi thứ vẫn cứ tiến hành tự nhiên. Đức Chúa Trời chỉ quan sát, theo dõi mọi thứ diễn ra, và nhìn vào nguyên nhân, tiến trình, kết quả. Tất nhiên, cuối cùng, khi con người bị phán xét và được định đoạt kết cục, Đức Chúa Trời sẽ phân loại con đường ngươi đã đi dựa trên tất cả những lựa chọn cá nhân của ngươi, xem xét tổng thể con đường này để xem ngươi thực sự là loại người nào, và từ đó định đoạt dạng kết cục ngươi nên có. Đây là phương pháp của Đức Chúa Trời. Các ngươi hiểu chưa? (Thưa, rồi.) Khi Đức Chúa Trời đang thực hiện công tác của Ngài, Ngài không bao giờ để một phát ngôn, câu nói hay tư tưởng, quan điểm nào trở thành một xu hướng trong nhân loại để rồi giam hãm và kiểm soát tư tưởng của họ hầu khiến cho họ dù không muốn mà vẫn cứ làm những gì Đức Chúa Trời muốn họ làm. Đây không phải là cách công tác của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời cho con người toàn quyền tự do và quyền lựa chọn, và họ được hưởng đầy đủ nhân quyền cũng như toàn quyền lựa chọn. Trong mọi hoàn cảnh con người gặp phải, họ có thể chọn tiếp nhận và sử dụng những tư tưởng, quan điểm của Sa-tan để phân định và phán đoán tính chất của một sự việc cụ thể, hoặc họ có thể chọn làm điều đó theo lời Đức Chúa Trời và các nguyên tắc lẽ thật. Đây có phải là sự thật không? (Thưa, phải.) Đức Chúa Trời không ép buộc con người; những gì Đức Chúa Trời làm là công bằng với tất cả mọi người. Những người yêu lẽ thật và những điều tích cực cuối cùng sẽ đi trên con đường mưu cầu lẽ thật, đạt được lẽ thật, có tấm lòng kính sợ Đức Chúa Trời, có thể thực sự quy phục Đức Chúa Trời và sẽ được cứu rỗi bởi vì họ yêu lẽ thật và những điều tích cực. Còn những người không yêu lẽ thật, luôn hành động tùy tiện theo ý mình, thì chán ghét lẽ thật và hoàn toàn không tiếp nhận lẽ thật. Họ chỉ sợ hình phạt và sự phán xét của Đức Chúa Trời, sợ bị Đức Chúa Trời trừng phạt, nên miễn cưỡng làm một chút công việc trong nhà Đức Chúa Trời để phô ra, dâng chút phục vụ và thể hiện một số hành vi tốt. Nhưng họ không bao giờ tiếp nhận lẽ thật hay đi theo con đường của Đức Chúa Trời, và họ không đi trên con đường mưu cầu, thực hành lẽ thật. Kết quả là họ sẽ không bao giờ hiểu được lẽ thật hay bước vào thực tế lẽ thật, vì thế mà bỏ lỡ cơ hội được cứu rỗi. Phần đông những người này là kẻ phục vụ. Ngay cả khi họ không hành ác, không gây gián đoạn hoặc nhiễu loạn, và không bị đào thải hay thanh trừ khỏi nhà Đức Chúa Trời như những kẻ địch lại Đấng Christ và kẻ ác, thì cuối cùng, họ sẽ chỉ chật vật có được danh hiệu “kẻ phục vụ”, và chưa rõ có được tha hay không. Còn một nhóm người khác thuộc về Sa-tan và ngoan cố bám vào mọi tư tưởng, quan điểm của nó. Những kẻ này thà chết chứ không chịu tiếp nhận lẽ thật hoặc thuận theo lẽ thật và lời Đức Chúa Trời. Chúng thậm chí còn đối nghịch với tất cả những điều tích cực và với Đức Chúa Trời. Bởi vì chúng làm gián đoạn và nhiễu loạn công tác của hội thánh, làm nhiều việc ác và hết mức đóng vai trò Sa-tan, nên cuối cùng những kẻ này, một số bị thanh trừ khỏi hội thánh, một số bị khai trừ hoặc gạch tên khỏi sổ. Ngay cả khi có một số kẻ tránh được việc bị gạch tên hoặc khai trừ, thì cuối cùng Đức Chúa Trời cũng phải loại bỏ chúng. Chúng đánh mất cơ hội được cứu rỗi vì đơn giản là chúng không tiếp nhận lẽ thật và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, và cuối cùng, chúng sẽ bị hủy diệt cùng Sa-tan khi thế giới này bị hủy diệt. Ngươi thấy đấy, Đức Chúa Trời làm việc theo cách tự do và giải phóng đến mức mọi thứ đều diễn ra thuận theo tự nhiên. Đức Chúa Trời công tác trong con người để dẫn dắt, khai sáng và giúp đỡ họ, đôi khi để nhắc nhở, an ủi và khuyên nhủ họ. Đây là khía cạnh tỏ lòng thương xót bao la trong tâm tính của Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Trời tỏ lòng thương xót, con người được vui hưởng ân điển và phước lành dồi dào của Ngài, vui hưởng sự tự do và giải thoát hoàn toàn mà không có bất kỳ cảm giác bị kìm kẹp hay trói buộc nào, và chắc chắn là không có bất kỳ cảm giác bị giam hãm bởi bất kỳ câu nói hay tư tưởng, quan điểm nào. Song song với việc thực hiện công tác này, Đức Chúa Trời cũng kiềm chế con người bằng các quy định quản trị và những chế độ khác nhau của hội thánh, đồng thời tỉa sửa, xử lý, phán xét và hành phạt sự bại hoại và bất tuân của họ. Ngài thậm chí còn sửa dạy và sửa phạt một số người, hoặc vạch trần và quở trách họ bằng lời Ngài, cũng như thực hiện những công tác khác. Tuy nhiên, trong khi con người hưởng tất cả những điều này, họ cũng được hưởng lòng thương xót bao la và sự thịnh nộ sâu sắc của Đức Chúa Trời. Khi khía cạnh khác trong tâm tính công chính của Đức Chúa Trời – sự thịnh nộ sâu sắc – tỏ lộ với con người, họ vẫn cảm thấy tự do và giải phóng, không bị kìm kẹp, ràng buộc hay giam hãm. Khi bất kỳ khía cạnh nào trong tâm tính công chính của Đức Chúa Trời đến trên con người và công tác trong con người, thì họ sẽ thực sự cảm nhận được tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Những kết quả đạt được ở họ sẽ tích cực, họ sẽ có được thu hoạch từ đó, và tất nhiên sẽ là người hưởng lợi nhiều nhất. Đức Chúa Trời làm việc theo cách này, không bao giờ ép buộc, cưỡng bức, áp chế hay trói buộc con người, trái lại, Ngài khiến cho họ cảm thấy được giải phóng, tự do, thoải mái và hạnh phúc. Bất kể con người hưởng lòng thương xót và nhân từ của Đức Chúa Trời hay sự công chính và oai nghi của Ngài, thì cuối cùng, họ cũng đạt được lẽ thật từ Đức Chúa Trời, hiểu được ý nghĩa và giá trị của cuộc đời con người, con đường họ nên bước đi, cũng như phương hướng và mục tiêu làm người. Họ đạt được quá nhiều! Con người sống dưới quyền lực của Sa-tan, và bị ràng buộc, giam hãm và tàn hại bởi nhiều tư tưởng, quan điểm sai lầm do nó tiêm nhiễm. Thật là khổ sở quá sức chịu đựng, nhưng họ vẫn bất lực không thể thoát ra. Khi con người đến với Đức Chúa Trời, bất kể họ có thái độ nào đối với Ngài, thì thái độ của Đức Chúa Trời đối với họ sẽ vẫn không thay đổi. Đó là bởi tâm tính và thực chất của Đức Chúa Trời không thay đổi. Ngài luôn bày tỏ lẽ thật, và qua đó bộc lộ tâm tính và thực chất của Ngài. Đây là cách Ngài làm việc trong con người. Họ được hưởng trọn lòng nhân từ và thương xót của Đức Chúa Trời, cũng như sự công chính và oai nghi của Ngài, và những người sống trong môi trường này thật có phước. Nếu trong một hoàn cảnh như thế này mà con người không thể mưu cầu, yêu mến và cuối cùng đạt được lẽ thật, bỏ lỡ cơ hội được cứu rỗi, một số thậm chí còn bị trừng phạt và hủy diệt như Sa-tan, thì chỉ có một lý do, sự thật là thế. Các ngươi nghĩ sự thật đó là gì? Người ta sẽ đi trên một con đường nhất định và có một kết cục nhất định dựa trên bản tính của họ. Thời điểm kết cục của mỗi người cuối cùng cũng được định đoạt sẽ là thời điểm họ được nhóm lại theo loại. Nếu người ta yêu lẽ thật và những điều tích cực, thì cho dù đã bị Sa-tan tiêm nhiễm bao nhiêu điều tiêu cực, cuối cùng khi Đức Chúa Trời phán dạy và công tác, họ sẽ trở về với Đức Chúa Trời và đi theo con đường mưu cầu lẽ thật. Thế nhưng nếu người ta không yêu lẽ thật và chán ghét lẽ thật, thì bất kể Đức Chúa Trời có phán dạy bao nhiêu, lời Ngài chân thành đến đâu, Ngài làm bao nhiêu công tác, và những dấu kỳ phép lạ của Ngài đáng kinh ngạc ra sao, thì tâm tính không yêu lẽ thật và chán ghét lẽ thật của họ vẫn sẽ chi phối con người họ, không hề thay đổi. Những kẻ ác còn cực đoan hơn. Chúng không những chán ghét lẽ thật, mà còn có thực chất tà ác và căm ghét lẽ thật. Chúng đối nghịch với Đức Chúa Trời và thuộc về phe cánh của Sa-tan. Dù có tin vào Đức Chúa Trời, thì cuối cùng chúng cũng sẽ trở lại với Sa-tan. Ba loại người này đều đã trải qua việc bị Sa-tan làm cho bại hoại, và đã bị mê hoặc, giam hãm bởi đủ loại câu nói và tư tưởng, quan điểm của Sa-tan. Vậy thì tại sao cuối cùng, một số người có thể được cứu rỗi, còn số khác lại không? Nó chủ yếu là ở vấn đề con đường người ta đi theo và việc họ có yêu lẽ thật hay không. Nó liên quan đến hai điều này. Vậy thì tại sao một số người có khả năng yêu lẽ thật, số khác lại không? Tại sao một số người có thể đi theo con đường mưu cầu lẽ thật, trong khi số khác lại không thể, thậm chí còn công khai tranh cãi với Đức Chúa Trời và công khai bôi nhọ lẽ thật? Đây là chuyện gì vậy? Có phải điều này do thực chất bản tính của họ quyết định không? (Thưa, phải.) Tất cả họ đều đã trải qua việc bị Sa-tan làm cho bại hoại, nhưng thực chất của mỗi người là khác nhau. Ngươi xem, có phải Đức Chúa Trời thực hiện công tác của Ngài với sự khôn ngoan không? Có phải Đức Chúa Trời có thể nhìn thấu nhân loại không? (Thưa, phải.) Thế thì tại sao Đức Chúa Trời lại cho con người quyền tự do lựa chọn? Tại sao Đức Chúa Trời không cưỡng bức truyền tư tưởng vào tất cả mọi người? Đó là bởi vì Đức Chúa Trời muốn phân chia từng người theo loại và Ngài muốn vạch trần hết thảy họ. Đức Chúa Trời không làm việc vô ích; đằng sau mọi công tác Đức Chúa Trời làm đều có những nguyên tắc, và công tác Ngài làm trong một người dựa trên việc họ là loại người nào. Phân loại của người ta được tỏ lộ như thế nào? Họ được chia thành các loại khác nhau dựa trên cơ sở nào? Dựa trên những điều người ta thích và con đường họ đi theo. Không phải như vậy sao? (Thưa, phải.) Đức Chúa Trời phân loại con người theo những gì họ thích và con đường họ đi, định đoạt việc họ có thể được cứu rỗi hay không dựa trên loại của họ, và làm công tác trong họ tùy theo việc họ có thể được cứu rỗi hay không. Cũng giống như có người thích ăn ngọt, có người thích ăn cay, có người thích ăn mặn, có người thích ăn chua. Nếu trên bàn bày những loại thực phẩm khác nhau này, thì không cần phải bảo ai ăn gì và không ăn gì. Ai thích ăn cay thì ăn đồ cay, ai thích ăn ngọt thì ăn đồ ngọt, ai thích ăn mặn thì ăn đồ mặn. Họ được phép tự do lựa chọn. Những người tin vào Đức Chúa Trời có quyền lựa chọn việc họ có yêu lẽ thật hay không và sẽ đi theo con đường nào, nhưng việc họ có được cứu rỗi hay không và kết cục của họ cuối cùng sẽ ra sao thì không phải do họ quyết định. Ngươi có thấy Đức Chúa Trời công tác có nguyên tắc hay không? (Thưa, có.) Đức Chúa Trời công tác có nguyên tắc, và một trong những nguyên tắc lớn nhất là để mọi người được phân loại dựa trên sự mưu cầu và con đường họ đi, và để mọi thứ thuận theo tự nhiên. Mọi người luôn không hiểu được điều này và hỏi: “Người ta luôn nói rằng Đức Chúa Trời có thẩm quyền, nhưng thẩm quyền của Ngài biểu hiện ở đâu? Tại sao Đức Chúa Trời không cưỡng bức truyền một chút tư tưởng vào con người để thể hiện thẩm quyền của Ngài?”. Đó không phải là cách thể hiện thẩm quyền của Đức Chúa Trời; đó không phải là cách Đức Chúa Trời làm cho con người thấy được thẩm quyền của Ngài.
Bây giờ các ngươi đã có thể phân định được câu nói về đức hạnh “Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy” chưa? Các ngươi cũng đã hiểu được những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người rồi, phải không? (Thưa, phải.) Các ngươi hiểu như thế nào? (Thưa, Đức Chúa Trời yêu cầu con người phải trung thực.) Yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người rất đơn giản. Ngài yêu cầu con người phải trung thực, xử lý vấn đề phát sinh theo các nguyên tắc lẽ thật, không giả vờ, không chỉ chăm chăm vào hành vi bề ngoài, mà tập trung vào việc hành xử theo nguyên tắc. Nếu con đường ngươi đi là đúng đắn, và các nguyên tắc ngươi mưu cầu để hành xử là đúng đắn và phù hợp với lời Đức Chúa Trời cũng như lẽ thật, thì thế là đủ. Như vậy không đơn giản sao? (Thưa, đơn giản.) Sa-tan không sở hữu, cũng không tiếp nhận lẽ thật, vì vậy nó mê hoặc con người bằng những câu nói mà con người cho là tốt và đúng, và khiến họ cố gắng làm quân tử có hành vi tốt, thay vì làm tiểu nhân làm việc xấu. Con người nhanh chóng bị Sa-tan mê hoặc bởi vì những điều này phù hợp với quan niệm và sở thích của con người, và họ có thể dễ dàng tiếp nhận chúng. Sa-tan khiến con người làm những điều chỉ có vẻ là tốt. Không quan trọng đằng sau ngươi đã hành ác đến đâu, tâm tính ngươi bại hoại ra sao, hoặc ngươi có phải kẻ ác hay không, chỉ cần ngươi ngụy trang vẻ bề ngoài của mình theo những câu nói và yêu cầu Sa-tan đặt ra, được người khác gọi là người tốt, thì ngươi là người tốt. Những yêu cầu và tiêu chuẩn này rõ ràng xúi giục con người trở nên giả dối và xấu xa, đeo mặt nạ và ngăn cản họ đi đúng đường. Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng mọi tư tưởng, quan điểm Sa-tan tiêm nhiễm vào con người đang dẫn họ đi hết con đường sai lầm này đến con đường sai lầm khác không? (Thưa, có.) Công tác Đức Chúa Trời muốn làm ngày nay là cho phép con người phân định được đủ loại tà thuyết và ngụy biện của Sa-tan, nhìn thấu và đoạn tuyệt nó, sau đó kéo con người từ muôn vàn con đường sai lầm trở lại con đường đúng đắn, để họ có thể nhìn nhận con người và sự việc, hành xử và hành động theo nguyên tắc. Không có nguyên tắc nào trong số này đến từ con người cả, mà đó là các nguyên tắc lẽ thật. Khi con người hiểu được các nguyên tắc lẽ thật này, và có thể thực hành chúng cũng như bước vào thực tế của chúng, thì lời và sự sống của Đức Chúa Trời sẽ dần dần ngấm vào những người này. Nếu con người coi lời Đức Chúa Trời là sự sống, họ sẽ không còn bị Sa-tan mê hoặc và đi sai đường, đi con đường của Sa-tan, con đường một đi không trở lại. Những người này sẽ không phản bội Đức Chúa Trời dù có bị Sa-tan mê hoặc và làm bại hoại đến đâu đi chăng nữa. Bất kể thế giới đổi thay ra sao, và bất kể thời điểm nào đến, sự sống của họ cũng sẽ không suy tàn hay diệt vong bởi vì những người này có lời Đức Chúa Trời làm sự sống, và bởi vì sự sống của họ sẽ không suy tàn hay diệt vong, nên họ sẽ cùng tồn tại với dạng sự sống này và sống mãi. Đây có phải là một chuyện tốt không? (Thưa, phải.) Khi người ta được cứu rỗi, họ sẽ được ban phước dồi dào!
Điều duy nhất quan trọng nhất đối với các ngươi ngay lúc này là gì? Đó là được trang bị nhiều lẽ thật hơn. Chỉ khi ngươi được trang bị nhiều lẽ thật hơn, và đã lắng nghe, trải nghiệm cũng như hiểu nhiều hơn, thì ngươi mới có khả năng nhìn nhận con người và sự việc, hành xử và hành động theo lời Đức Chúa Trời, cũng như biết được chính xác các nguyên tắc lẽ thật là gì. Chỉ khi đó ngươi mới không lạc lối, mới không thay thế lời Đức Chúa Trời và các nguyên tắc lẽ thật bằng ý muốn của con người cũng như những tư tưởng, quan điểm do Sa-tan tiêm nhiễm. Chẳng phải vậy sao? (Thưa, phải.) Vì vậy, một trong những điều quan trọng và cấp bách nhất các ngươi nên làm bây giờ là trang bị lẽ thật và hiểu thêm lời của Đức Chúa Trời. Các ngươi phải dốc sức vào lời Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời bao gồm nhiều nội dung, và lẽ thật có nhiều hạng mục. Ngươi phải gấp rút trang bị cho mình tất cả những lẽ thật này. Nếu ngươi không trang bị cho mình, ngươi sẽ không thể sử dụng lời Đức Chúa Trời làm nền tảng khi có chuyện xảy đến, và sẽ chỉ giải quyết vấn đề theo ý riêng của mình. Kết quả là ngươi sẽ vi phạm nguyên tắc, và những sự vi phạm của ngươi sẽ để lại vết nhơ nơi ngươi. Nếu ngươi không biết cách tìm kiếm lẽ thật khi có chuyện xảy đến, mà chỉ xử lý theo ý riêng và để đạt được mục đích riêng của mình, nếu ngươi dựa vào ý riêng của mình và có những sự uế tạp nhưng lại không biết tự phản tỉnh và biết mình, cũng như không biết soi mình vào lời Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ không biết mình, và sẽ không thể thực sự ăn năn. Nếu ngươi không thực sự ăn năn, thì Đức Chúa Trời sẽ nhìn nhận về ngươi ra sao? Điều này có nghĩa là ngươi có tâm tính ương ngạnh và ngươi chán ghét lẽ thật, nó sẽ để lại một vết nhơ khác và là một sự vi phạm nghiêm trọng khác. Tích lũy nhiều vết nhơ và sự vi phạm có lợi cho ngươi không? (Thưa, không.) Không có lợi. Vậy làm thế nào để giải quyết sự vi phạm? Trước đây, Ta đã bày tỏ một chương gọi là “Sự vi phạm sẽ dẫn con người xuống địa ngục”. Điều này có nghĩa là sự vi phạm liên quan trực tiếp đến kết cục của người ta. Chuyện gì đang xảy ra với những người luôn mắc vi phạm? Có người trong bọn họ nói: “Con không cố ý. Lúc đó con không có ý định làm ác”. Đây có phải là lý do chính đáng không? Nếu ngươi không có ý định đó, thì nó không phải là một sự vi phạm hay sao? Ngươi sẽ không cần phải phản tỉnh và ăn năn sao? Nó không phải là cố ý, nhưng chẳng phải nó vẫn là một sự vi phạm sao? Ngươi không cố ý làm, nhưng ngươi đã xúc phạm đến tâm tính và sắc lệnh quản trị của Đức Chúa Trời, không đúng sao? (Thưa, đúng.) Đây là sự thật, vì vậy nó đã là một sự vi phạm. Lý do lý trấu cũng vô ích. Ngươi nói: “Con còn trẻ. Con không được học hành nhiều, và con không có nhiều kinh nghiệm trong xã hội. Con không biết việc đó là sai – không ai bảo con”. Hoặc ngươi nói: “Hoàn cảnh đó quá nguy hiểm. Con đã làm điều đó trong phút nóng vội”. Đây có phải là những lý do chính đáng không? Không cái nào là lý do chính đáng cả. Nếu ngươi có cơ hội hành động theo ý mình, thì ngươi cũng có cơ hội tìm kiếm lẽ thật, và nên dùng lẽ thật làm nguyên tắc cho hành động của mình. Vậy tại sao khi có cơ hội tìm kiếm lẽ thật mà ngươi lại chọn hành động theo ý mình? Một lý do là hiểu biết của ngươi về lẽ thật còn quá nông cạn, và ngươi thường không coi trọng việc mưu cầu lẽ thật cũng như việc trang bị cho mình lời Đức Chúa Trời. Còn một lý do và tình huống khác cũng đúng: ngươi thường làm mọi việc mà không có Đức Chúa Trời hoặc lời Đức Chúa Trời trong lòng. Lời Đức Chúa Trời chưa bao giờ ngự trị trong lòng ngươi. Ngươi đã quen ương bướng, và ngươi quen tự cho mình là đúng, quen làm chủ mọi việc, và quen làm mọi việc theo ý thích riêng của mình. Ngươi cầu nguyện với Đức Chúa Trời chỉ là trên hình thức và quy trình mà thôi. Lời Đức Chúa Trời không có chỗ và không thể ngự trị trong lòng ngươi, Đức Chúa Trời không có chỗ và không thể ngự trị trong lòng ngươi. Đương nhiên là ngươi làm chủ mọi việc mình làm, và kết quả là ngươi vi phạm các nguyên tắc lẽ thật. Đây có phải là một sự vi phạm không? Chắc chắn rồi – đây là một sự vi phạm. Vậy thì tại sao ngươi lại viện cớ? Không có cái cớ nào hợp lệ cả. Vi phạm là vi phạm. Nếu ngươi mắc nhiều vi phạm, làm tổn hại đến lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và công tác của hội thánh, cuối cùng chọc giận tâm tính của Đức Chúa Trời, thì cơ hội cứu rỗi của ngươi sẽ chấm hết. Đây là cách hiểu chính xác về câu “Sự vi phạm sẽ dẫn con người xuống địa ngục”; đó là sự thật. Nó là do những tâm tính bại hoại của con người gây ra, tâm tính bại hoại của con người tạo ra đủ loại cách hành động, và cách hành động tạo thành con đường con người đi. Con đường sai lầm này khiến con người mắc đủ loại vi phạm vào những thời điểm quan trọng và then chốt trong khi thực hiện bổn phận của mình. Nếu ngươi đã mắc quá nhiều vi phạm và chúng tích tụ lại, thì cơ hội được cứu rỗi của ngươi sẽ không còn. Tại sao con người luôn mắc vi phạm? Nguyên nhân cơ bản là họ chưa bao giờ hoặc hiếm khi trang bị lời Đức Chúa Trời, và họ hiếm khi làm bất cứ việc gì dựa trên lời Đức Chúa Trời hay các nguyên tắc lẽ thật – cuối cùng, họ luôn mắc vi phạm. Khi con người vi phạm, họ luôn tự tha thứ mình và đưa ra lý do, viện cớ, chẳng hạn như: “Mình không cố ý làm điều đó. Mình có ý định tốt mà. Đó là do tình thế cấp bách. Đó là do người này. Đó là do đủ loại lý do khách quan…”. Bất kể nguyên nhân là gì, nếu ngươi không mưu cầu lẽ thật, và không hành động theo lời Đức Chúa Trời, lấy lẽ thật làm tiêu chí, thì ngươi sẽ dễ vi phạm và chống đối Đức Chúa Trời. Đây là sự thật không thể phủ nhận. Dựa trên sự thật này, kết cục của ngươi sẽ diễn ra như Ta đã đề cập trước đó: “Sự vi phạm sẽ dẫn con người xuống địa ngục”. Đây sẽ là kết cục của ngươi. Các ngươi hiểu chưa? (Thưa, rồi.)
Tâm tính của một số người quá ương ngạnh, và họ vô lại đến mức luôn suy nghĩ hão huyền: “Một chút vi phạm thì nhằm nhò gì. Đức Chúa Trời không trừng phạt con người đâu. Ngài thương xót và nhân từ, khoan dung và nhẫn nại với con người. Ngày của Đức Chúa Trời vẫn còn xa. Sau này có cơ hội thì mình sẽ mưu cầu những lẽ thật Ngài đã ban này. Mặc dù Đức Chúa Trời đã phán những lời này với giọng điệu chân thành và khẩn thiết, nhưng vẫn sẽ còn rất nhiều cơ hội cho chúng ta để tin Đức Chúa Trời và được cứu rỗi”. Họ luôn xem nhẹ, không bao giờ có cảm giác cấp bách, không có lòng khao khát Đức Chúa Trời mãnh liệt, cũng không khao khát lẽ thật. Lòng họ luôn ương ngạnh, và họ luôn hoàn toàn phớt lờ lẽ thật cũng như những yêu cầu của lời Đức Chúa Trời. Nếu họ thực hiện bổn phận với kiểu thái độ này và trong tình trạng này, thì cuối cùng sẽ như thế nào? Họ sẽ liên tục mắc vi phạm và có vết nhơ! Thật nguy hiểm khi một người liên tục có vết nhơ và mắc vi phạm, nhưng lại không xem trọng và không quan tâm đến điều đó. Chỉ vì Đức Chúa Trời chưa kết tội ngươi bây giờ không có nghĩa là Ngài sẽ không kết tội ngươi trong tương lai. Nói tóm lại, một người sống trong tình trạng như vậy sẽ lâm nguy. Họ không trân trọng lời Đức Chúa Trời, cơ hội được cứu rỗi, hay cơ hội thực hiện bổn phận, càng không quan tâm đến mọi hoàn cảnh Đức Chúa Trời đã sắp đặt cho họ. Họ luôn chểnh mảng và hờ hững, làm mọi việc một cách hồ đồ, thiếu nghiêm túc và lơ đãng. Loại người này đang lâm nguy. Một số người vẫn cảm thấy hài lòng về bản thân, nghĩ rằng: “Trong mọi việc mình làm đều có Đức Chúa Trời ở bên, mình có được sự khai sáng và dẫn dắt của Đức Chúa Trời, đôi khi mình được Đức Chúa Trời sửa dạy, và Ngài ở bên mình trong những lời cầu nguyện!”. Ân điển của Đức Chúa Trời dồi dào – chắc chắn đủ cho ngươi vui hưởng – ngươi có thể lấy bao nhiêu tùy thích mà không bao giờ dùng hết, nhưng vậy thì sao? Ân điển của Đức Chúa Trời không đại diện cho lẽ thật, và việc ngươi vui hưởng ân điển của Đức Chúa Trời không có nghĩa là ngươi có được lẽ thật. Đức Chúa Trời có lòng thương xót đối với tất cả mọi người, nhưng lòng thương xót của Ngài không phải là nhân từ quá đáng. Đức Chúa Trời có lòng thương xót đối với sự sống của con người và với mọi loài thọ tạo. Nhưng điều này không có nghĩa rằng Ngài hành động không có nguyên tắc, rằng Ngài không có tâm tính công chính, và rằng các tiêu chuẩn Ngài yêu cầu ở con người và dùng để đánh giá họ sẽ thay đổi. Các ngươi hiểu chưa? (Thưa, rồi.) Ngươi cảm thấy rằng Đức Chúa Trời chưa bao giờ nổi giận với ngươi, rằng Đức Chúa Trời luôn dịu dàng và ân cần với ngươi, và rằng Ngài quan tâm, yêu thương và nâng niu ngươi vô cùng. Ngươi cảm nhận được hơi ấm của Đức Chúa Trời, sự cung dưỡng của Đức Chúa Trời, sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, và thậm chí cả sự ưu ái và ân đãi của Đức Chúa Trời. Ngươi cảm thấy rằng Đức Chúa Trời yêu thương ngươi nhất, và ngay cả khi Ngài bỏ rơi người khác, Ngài cũng sẽ không bao giờ bỏ rơi ngươi. Vì vậy, ngươi tràn đầy tự tin, và cảm thấy như thể mình có lý do khi không mưu cầu lẽ thật, không chịu khổ và trả giá trong khi thực hiện bổn phận, và không nỗ lực thay đổi tâm tính. Chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ không bỏ rơi ngươi. Sự tự tin mạnh mẽ này của ngươi có dựa trên lời Đức Chúa Trời không? Nếu một ngày nào đó ngươi thực sự không thể cảm nhận được sự hiện diện của Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ hoang mang trong lòng và nghĩ: “Chẳng lẽ Đức Chúa Trời đã bỏ rơi mình rồi sao?”. Ngươi nên rõ kết cục của mình sẽ thế nào. Những kẻ không mưu cầu lẽ thật và quá tự nên công chính sẽ tuyệt đối không có kết cục tốt đẹp. Khi Đức Chúa Trời yêu thương và nâng niu con người, có lòng thương xót con người, ban ân điển cho con người, hoặc thậm chí đối xử ưu ái hay ân đãi một số người nhất định, mục đích cũng như tính chất của những hành động này, chắc chắn không phải là để sủng ái, nuông chiều ngươi, tuyệt đối không phải là để dẫn ngươi đi sai đường hay lạc lối, hoặc khiến ngươi quay lưng lại với lẽ thật hay con đường thật. Mục đích của Đức Chúa Trời khi làm tất cả những điều này là để hỗ trợ ngươi đi trên con đường đúng đắn, để khiến ngươi có một tấm lòng khao khát Ngài mãnh liệt, để gia tăng đức tin của ngươi nơi Ngài, và sau đó là để hình thành nên một tấm lòng thực sự kính sợ Ngài. Nếu ngươi luôn muốn tận hưởng sự sủng ái của Đức Chúa Trời và trở thành sủng vật của Ngài, thì Ta nói ngươi sai rồi. Ngươi không phải là sủng vật của Đức Chúa Trời, và sự ân đãi hay ưu ái của Ngài dành cho ngươi chắc chắn không phải là sự sủng ái hay nuông chiều. Mục đích của Đức Chúa Trời khi làm tất cả những điều này là để giúp ngươi trân quý lời Đức Chúa Trời, tiếp nhận lẽ thật, và trở nên mạnh mẽ nhờ sự ân đãi và phước lành của Ngài, để ngươi có quyết tâm và nghị lực bước đi trên con đường mưu cầu lẽ thật, cũng như bước đi trên con đường nhân sinh đúng đắn. Tất nhiên, có thể khẳng định chắc chắn rằng khi Đức Chúa Trời bày tỏ những lẽ thật này, ngươi đã được cung dưỡng, ngươi đã có được sự sống, và ngươi đã được vui hưởng tình yêu thương của Ngài. Nếu ngươi có thể cảm tạ Đức Chúa Trời vì sự ân đãi của Ngài, giữ đúng vị trí của mình, trang bị nhiều hơn lời Đức Chúa Trời, trân quý lời Ngài hơn, tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật khi thực hiện bổn phận, và cố gắng nhìn nhận con người và sự việc, hành xử và hành động theo lời Đức Chúa Trời, thì ngươi đã không phụ lòng Ngài. Tuy nhiên, nếu ngươi lợi dụng sự ân đãi và ưu ái của Đức Chúa Trời dành cho ngươi, coi thường lòng thương xót của Ngài dành cho ngươi, khăng khăng làm mọi việc theo cách riêng của mình, hành động một cách tùy tiện theo ý mình, không bao giờ trang bị cho mình lời Đức Chúa Trời, không có quyết tâm phấn đấu vươn tới lẽ thật, hoặc không nhìn nhận con người và sự việc, hành xử và hành động theo lời Đức Chúa Trời, lấy lẽ thật làm tiêu chí, mà chỉ biết vui hưởng ân điển của Đức Chúa Trời và cảm thấy hài lòng về bản thân, thì khi ngươi không đáp ứng được kỳ vọng của Đức Chúa Trời – nghĩa là khi ngươi liên tục phụ lòng Đức Chúa Trời, thì sớm muộn gì, sự ân đãi, lòng thương xót và nhân từ của Đức Chúa Trời dành cho ngươi cũng sẽ cạn kiệt. Ngày mà những điều đó cạn kiệt chính là ngày Đức Chúa Trời lấy đi tất cả ân điển của Ngài. Khi ngươi thậm chí còn không cảm nhận được sự hiện diện của Đức Chúa Trời, thì ngươi sẽ biết mình thực sự cảm thấy gì bên trong. Sẽ có bóng tối bên trong ngươi. Ngươi sẽ cảm thấy chán nản và bất an, lo lắng và trống rỗng. Ngươi sẽ cảm thấy tương lai thật vô định. Ngươi sẽ sợ hãi và luôn trong trạng thái lo lắng. Đây là một điều rất khủng khiếp. Vì vậy, con người phải học cách trân trọng mọi điều được Đức Chúa Trời ban cho, trân trọng bổn phận mình phải thực hiện, và đồng thời phải biết đền đáp. Thực ra, yêu cầu của Đức Chúa Trời rằng ngươi phải biết đền đáp không phải là vấn đề ngươi cống hiến bao nhiêu cho Ngài, hay chứng ngôn của ngươi cho Ngài vang dội đến đâu. Điều Đức Chúa Trời muốn là ngươi đi con đường đúng đắn, con đường mà Ngài yêu cầu ngươi đi. Ân điển của Đức Chúa Trời đủ để con người vui hưởng. Ngài không tiếc gì khi ban ân điển này cho con người, Ngài cũng sẽ không hối tiếc khi ban ân điển này cho con người. Nếu Đức Chúa Trời ban phước lành và ân đãi ai, thì Ngài luôn làm một cách sẵn lòng. Việc Ngài làm điều đó là một phần thực chất, tâm tính và thân phận của Ngài. Ngài không bao giờ hối tiếc hay hối hận khi ban những điều này cho con người. Tuy nhiên, nếu như con người không biết phân biệt tốt xấu hay quý trọng ân huệ, luôn phụ lòng Đức Chúa Trời và làm Ngài thất vọng hết lần này đến lần khác. Bất kể Đức Chúa Trời đã trả giá đắt đến đâu hay chờ đợi bao lâu, con người vẫn thờ ơ với Ngài và không hiểu được những ý định tốt đẹp của Ngài. Con người chỉ mưu cầu được vui hưởng ân điển của Đức Chúa Trời – càng nhiều càng tốt. Dù được vui hưởng bao nhiêu ân điển và phước lành của Đức Chúa Trời, họ cũng không biết đền đáp tình yêu thương của Đức Chúa Trời, hay quay lòng lại với Đức Chúa Trời và đi theo Ngài. Các ngươi có nghĩ rằng Đức Chúa Trời sẽ hài lòng nếu con người đối xử với Ngài như vậy không? (Thưa, không.) Con người nên có kiểu thái độ chân thật nào để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời? Con người phải ăn năn, phải có những biểu hiện thiết thực, và làm tròn bổn phận của mình. Họ không được bám lấy đủ loại lý do và bao biện. Ân điển, sự khoan dung và lòng thương xót của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại không phải là vốn liếng để các ngươi dung túng bản thân, hay là cái cớ để các ngươi nuông chiều bản thân. Bất kể Đức Chúa Trời làm gì, hay Ngài đã dốc tâm huyết, trả giá hoặc dành tâm tư như thế nào cho con người, thì Ngài cũng chỉ có một mục đích cuối cùng. Đó là Ngài hy vọng con người sẽ hướng đến và đi theo con đường đúng đắn. Con đường đúng đắn là gì? Đó là mưu cầu lẽ thật và trang bị nhiều lẽ thật hơn. Nếu con đường con người đi phù hợp với lời Đức Chúa Trời, lấy lẽ thật làm tiêu chí, thì cái giá Đức Chúa Trời đã trả vì con người cùng tất cả những kỳ vọng Ngài dành cho họ sẽ được đền đáp. Các ngươi có nghĩ rằng Đức Chúa Trời đặt ra yêu cầu cao đối với con người không? (Thưa, không.) Đức Chúa Trời không đặt ra những yêu cầu cao đối với con người, và Ngài có đủ kiên nhẫn cùng tình yêu thương để chờ đợi con người quay về. Khi ngươi quay về với Đức Chúa Trời, Ngài sẽ không chỉ đơn giản ban cho ngươi một số ân điển và phước lành, mà sẽ cung dưỡng cho ngươi, hỗ trợ và dẫn dắt ngươi về mặt lẽ thật, sự sống và con đường ngươi đang đi. Đức Chúa Trời sẽ làm công tác vĩ đại hơn nữa trong ngươi. Đó là điều Ngài đang mong đợi. Trước khi thực hiện công tác này, Đức Chúa Trời dẫn dắt, hỗ trợ, và ban ân điển, phước lành cho con người không mệt mỏi. Tất cả những điều này đều không phải là ý định ban đầu của Đức Chúa Trời, cũng không phải là những điều Ngài đặc biệt muốn làm. Tuy nhiên, Ngài không có lựa chọn nào khác ngoài việc buộc chính Ngài phải trả bất cứ giá nào vì con người, và thực hiện công tác này bằng mọi giá. Điều tối hậu mà Đức Chúa Trời muốn sau khi thực hiện hết thảy công tác này là thấy con người có thể hồi tâm chuyển ý. Nếu con người hiểu được những ý định và tâm tư của Ngài, hiểu được tại sao Ngài thực sự muốn làm như vậy, thì con người sẽ nhận ra sự đáng mến của Ngài, có một chút vóc giạc và đã trưởng thành. Khi con người bắt đầu chuyên tâm và dốc sức tìm hiểu từng lẽ thật Đức Chúa Trời cung cấp cho họ, và bắt đầu bước vào thực tế của từng lẽ thật, thì Đức Chúa Trời sẽ vui lòng. Sau đó, Ngài không còn phải làm công việc đơn giản là ở bên con người, an ủi, nhắc nhở và khuyên nhủ họ nữa. Thay vào đó, Ngài có thể cung dưỡng nhiều hơn cho họ về mặt lẽ thật, sự sống và con đường họ đang đi. Ngài có thể làm công tác vĩ đại hơn và cụ thể hơn trên con người. Tại sao Đức Chúa Trời lại thích làm dạng công tác này hơn? Đó là bởi vì trong khi làm công tác như vậy, Ngài nhìn thấy hy vọng nơi con người, nhìn thấy tương lai của họ và nhìn thấy con người đồng tâm hợp ý với Ngài. Đây là một điều vô cùng tuyệt vời đối với cả con người và Đức Chúa Trời, và là điều Ngài mong đợi từ lâu. Khi người ta đi trên con đường mưu cầu lẽ thật, họ sẽ dần dần có thêm sức mạnh và vóc giạc thực sự để chiến đấu với Sa-tan, và đứng vững trong chứng ngôn cho Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời sẽ có thêm hy vọng được nhìn thấy thêm một loài người thọ tạo đứng lên và chiến đấu chống lại Sa-tan vì Ngài. Đây là sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Khi con người phát triển về vóc giạc, trở nên ngày càng mạnh hơn, ngày càng làm chứng nhiều hơn và ngày càng trở nên kính sợ cũng như vâng phục Đức Chúa Trời, thì điều đó đồng nghĩa với việc có hy vọng rằng Đức Chúa Trời sẽ thu phục được một nhóm người đắc thắng và được vinh hiển thông qua con người và giữa con người. Đây có phải là một điều tốt lành không? (Thưa, phải.) Đây là điều Đức Chúa Trời đang mong đợi, là hy vọng và kỳ vọng của Ngài dành cho các ngươi. Ngài đã chờ đợi điều này từ rất lâu rồi. Nếu con người hiểu và có thể quan tâm đến tấm lòng của Đức Chúa Trời, thì họ sẽ dốc sức đáp ứng những gì Ngài yêu cầu ở họ, và trả giá cho những gì Ngài yêu cầu ở họ. Họ sẽ nỗ lực hết sức để phối hợp với những điều Đức Chúa Trời muốn làm, hoàn thành mong muốn của Ngài và an ủi lòng Ngài. Tuy nhiên, nếu ngươi không muốn làm thì Đức Chúa Trời cũng không ép. Ngươi nói: “Sao con chẳng muốn làm cái này? Sao con chẳng muốn làm những điều Đức Chúa Trời yêu cầu? Tại sao khi nghĩ đến việc đáp ứng các yêu cầu của Đức Chúa Trời, con lại cảm thấy khó chịu, không thoải mái và không muốn vâng lời?”. Ngươi không cần phải đáp ứng các yêu cầu của Đức Chúa Trời; cái đó là tự nguyện. Ngươi có quyền lựa chọn, và ngươi được tự do. Đức Chúa Trời không ép buộc con người. Ta chỉ nói với các ngươi điều này để các ngươi có thể hiểu đầy đủ thực tế những điều Đức Chúa Trời muốn hoàn thành, trách nhiệm các ngươi phải gánh vác và những gì Đức Chúa Trời mong đợi ở các ngươi. Điểm này đã rõ chưa? (Thưa, rồi.) Rõ rồi thì tốt. Nếu nó rõ ràng, thì lòng người sẽ nhận thức được. Trong lòng họ sẽ biết phải nỗ lực vào việc gì tiếp theo, phải làm gì và phải trả cái giá nào; họ sẽ có hướng đi.
Hôm nay, Ta đã thông công về câu nói về đức hạnh: “Quân tử nhất ngôn, tứ mã nan truy”. Trước đây đã thông công về một vài câu nói khác về đức hạnh mà Sa-tan đề xướng, nên câu nói này dễ phân định hơn một chút. Bất kể là câu nói về đức hạnh nào, thì về cơ bản là Sa-tan muốn sử dụng một loại quan điểm để ràng buộc và hạn chế hành vi của con người, để rồi hình thành một xu hướng trong xã hội. Bằng cách tạo ra xu hướng này, nó muốn mê hoặc, kiểm soát và giam hãm tư tưởng của toàn nhân loại, từ đó khiến cả nhân loại đối nghịch Đức Chúa Trời. Sau khi con người chống lại Đức Chúa Trời, Sa-tan muốn thấy Đức Chúa Trời không cách nào tác động lên con người hay thực hiện công tác được. Đây là mục đích Sa-tan muốn đạt được, và là thực chất của tất cả những việc Sa-tan làm này. Bất kể chúng đại diện cho khía cạnh hành vi nào, hay tư tưởng và quan điểm nào, thì trong mọi trường hợp, những câu nói về đức hạnh mà Sa-tan cổ xúy này đều không liên quan đến lẽ thật, cũng như trái ngược với lẽ thật. Con người nên đối phó như thế nào với những câu nói về đức hạnh mà Sa-tan cổ xúy này? Một nguyên tắc rất đơn giản và cơ bản là bất kỳ câu nói nào đến từ Sa-tan đều là thứ mà chúng ta nên vạch trần, mổ xẻ, nhìn thấu và bác bỏ. Vì chúng đến từ Sa-tan, nên nếu lòng chúng ta nhìn thấu chúng, thì chúng ta có thể lên án và bác bỏ chúng. Chúng ta không thể cho phép những thứ của Sa-tan tồn tại trong hội thánh và mê hoặc, làm bại hoại, làm nhiễu loạn dân sự được Đức Chúa Trời chọn. Dân sự được Đức Chúa Trời chọn phải đoạn tuyệt với Sa-tan, và thậm chí không thể nhìn thấy một chút tà thuyết và ngụy biện nào của Sa-tan trong họ; mục tiêu này phải đạt được. Thay vì những tà thuyết và ngụy biện này, lời Đức Chúa Trời và lẽ thật sẽ ngự trị trong lòng của dân sự được Đức Chúa Trời chọn, và trở thành sự sống của họ. Loại nhân loại này là loại mà Đức Chúa Trời muốn thu phục. Chúng ta kết thúc buổi thông công hôm nay tại đây.
Ngày 9 tháng 7 năm 2022