Chỉ bằng cách giải quyết những quan niệm của mình thì mới có thể tiến vào đúng hướng của đức tin nơi Đức Chúa Trời (2) Phần 3
Câu chuyện “Ai là chỗ dựa của tôi” mà chúng ta vừa kể, phần cuối của nó, chúng ta vẫn chưa mổ xẻ xong. Sau khi một người tin Đức Chúa Trời, đến trước mặt Ngài để cầu nguyện, tìm kiếm tâm ý của Đức Chúa Trời, tiếp nhận sự khai sáng, soi sáng và dẫn dắt của Ngài, tới lắng nghe từng câu nói từ chính miệng Đức Chúa Trời nói ra thì trong thời gian đó, Đức Chúa Trời dùng lời nói rõ ràng để nói cho con người biết tâm ý của Ngài và mọi điều mà con người cần hiểu. Đức Chúa Trời không phải bảo ngươi hiểu đạo lý và câu chữ, cũng không phải bảo ngươi học thần học. Ngài không dùng những lời này để giáo dục ngươi làm một người có quy củ, một người tốt, một người có khao khát và chí hướng, Ngài không phải bảo ngươi làm người như vậy. Đức Chúa Trời muốn dùng lời của Ngài để ngươi hiểu con người từ đâu tới, con người nên sống như thế nào, nên tuân theo con đường gì. Thế nhưng, con người sau khi nghe những lời này lại không cho là đúng, vẫn kiên trì với quan điểm của mình, kiên trì với nguyện vọng của mình, thậm chí còn kiên trì với nguyên tắc làm người của mình như cũ. Ví dụ, có người nói: “Tôi bẩm sinh đã muốn làm một người tốt, tôi cho rằng mình chẳng còn cách người tốt quá xa nữa. Con người tôi không làm chuyện gì xấu, không lừa người gạt người, cũng không lợi dụng của người khác. Sau khi tin Đức Chúa Trời, tôi càng trở nên tốt hơn, nói thật với mọi người, giao thiệp tốt với mọi người, làm bổn phận cũng nghe lời Đức Chúa Trời, nghe theo sự sắp xếp của hội thánh, đây không phải là được rồi sao?”. Người có loại tư tưởng đó có nhiều không? Người dựa vào loại ý nghĩ tin Đức Chúa Trời này rốt cuộc có thể đạt đến yêu cầu của Đức Chúa Trời hay không? Lẽ thật mà Đức Chúa Trời yêu cầu con người hiểu thì rất nhiều, bài học nên học cũng rất nhiều, đặc biệt là lẽ thật về phương diện khải tượng, đây là lẽ thật mà người tin Đức Chúa Trời cần phải có, là thứ thiết lập nền tảng. Những lẽ thật này họ đều không hiểu, vậy họ có thể đạt đến được cứu rỗi không? Họ chỉ dựa vào tưởng tượng, tự cảm thấy bản thân tốt lành, cũng không mưu cầu lẽ thật, vậy họ còn có tư cách tiếp nhận hình phạt, sự phán xét, thử luyện, tinh luyện của Đức Chúa Trời không? Có thể đạt đến được Đức Chúa Trời làm tinh sạch và hoàn thiện không? (Thưa, không thể.) Điều này chắc chắn là không thể. Trong hội thánh, những người không mưu cầu lẽ thật có lẽ phải chiếm đến hơn một nửa, thậm chí nhiều hơn thế. Khi nhìn thấy tình trạng này, các ngươi có nghĩ rằng: “Đức Chúa Trời phán nhiều lời như vậy mà người ta vẫn không hiểu, tại sao Đức Chúa Trời không khai sáng cho những kẻ ngoan cố, ngu muội này? Tại sao Đức Chúa Trời không phán nhiều lời hơn một chút, không làm nhiều công tác hơn một chút, không bỏ nhiều công sức trên họ hơn một chút? Tại sao Đức Thánh Linh không làm họ cảm động và sửa dạy họ để những kẻ ngu muội và ngoan cố này không còn ngu muội và ngoan cố nữa? Tại sao Đức Chúa Trời không làm như vậy?”. Lời này nói sai rồi, lời Đức Chúa Trời phán còn ít sao? Có nhiều người nói rằng lời Đức Chúa Trời phán quá nhiều, quá chi tiết, thậm chí quá vụn vặt. Có ai biết tại sao Đức Chúa Trời phải nói như vậy không? Chính là bởi vì con người quá cương ngạnh, quá phản nghịch, từ đầu đến cuối đều không tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, không dốc công sức vào lẽ thật, đối với người như vậy Đức Chúa Trời sẽ không cố ép họ. Con người không tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, vậy Ngài đối đãi với họ như thế nào? Đức Chúa Trời không bao giờ ép buộc, đây là cách thức làm việc của Ngài. Lời Đức Chúa Trời phán đã quá nhiều, đến nỗi con người không thể đọc hết, vậy Đức Chúa Trời còn cố ép con người làm gì? Tại sao con người không hiểu được sự lao tâm khổ tứ của Ngài? Nhân vật chính đã trải qua một đời đau khổ trong câu chuyện, cô cũng đọc lời Đức Chúa Trời, cũng đã nghe con đường của Ngài, thậm chí cũng đã tiêu tốn toàn bộ thời gian để làm bổn phận trong hội thánh, nhưng đến cuối cùng cô cũng không biết chỗ dựa của cô rốt cuộc là ai, nguyện vọng của cô nảy sinh như thế nào, có thể thành hiện thực hay không, trong chuyện này có vấn đề. Thực ra, trong mắt Đức Chúa Trời, đây là một vấn đề rất đơn giản, ngươi chỉ cần thay đổi phương hướng, hướng về phương hướng mà Đức Chúa Trời chỉ dẫn cho ngươi và con đường mà Ngài đã nói cho ngươi biết, tin tưởng, tiếp nhận, thuận phục và thực hành một cách vững vàng, không có bất kỳ sự hoài nghi hay ngờ vực vô căn cứ nào là được. Nhưng con người không làm được, họ cứ khư khư giữ lấy quan niệm, tưởng tượng và mong mỏi của mình và cả những ảo tưởng ẩn giấu trong lòng không buông. Họ vẫn coi những thứ này là cọng rơm cứu mạng của mình, thậm chí coi chúng như nền tảng cho sự sinh tồn của mình, mà đem lời Đức Chúa Trời, phương hướng mà Đức Chúa Trời chỉ dẫn gạt sang một bên, không thèm đếm xỉa. Vậy Đức Chúa Trời đối đãi với chuyện này như thế nào? Những điều tốt đẹp ban cho ngươi mà ngươi không nhận biết, không tiếp nhận, thì Đức Chúa Trời sẽ lấy đi. Sau khi bị lấy đi rồi, thì thứ con người có được là gì? Chẳng có gì cả. Cho nên, đối với chuyện “Đức Chúa Trời rốt cuộc có phải là chỗ dựa của tôi hay không, chỗ dựa của tôi rốt cuộc là ai, tôi phải dựa vào ai để sinh tồn, dựa vào ai để được phúc, dựa vào ai để có được đích đến sau này” thì sâu thẳm nội tâm của nhân vật chính này đã không còn biết nữa, đã ngày càng mơ hồ. Cuối cùng, tiếc nuối lưu lại nơi sâu thẳm nội tâm cô là gì? Chính là không có một ai để cô có thể dựa vào, không có một ai để cô có thể tin cậy. Cả đời này của cô bi thương, đau đớn biết bao! Cô mơ hồ, không biết ý nghĩa về sự an bài của Đấng Tạo Hoá dành cho con người trong đời này rốt cuộc nằm ở đâu. Sau khi đã trải nghiệm cuộc đời như vậy, đến khi về già vẫn không thể nhìn rõ tất cả những điều này, hoặc là không thể đưa ra một kết luận chính xác, không thể nảy sinh một phương hướng, mục tiêu cuộc đời chính xác, khi con người không thể có được tất cả những điều này thì Đức Chúa Trời sẽ làm gì? Cuộc đời người này đã được đặt dấu chấm hết. Việc Đức Chúa Trời có thể làm cũng đã làm rồi, Ngài sắp đặt hoàn cảnh, khai sáng, dẫn dắt, thậm chí trong lúc cô đau khổ nhất hoặc lúc cô đối mặt với bước đường cùng, Ngài đã cho cô động lực để sống tiếp, dùng tình yêu thương ở mức độ lớn nhất và dùng hết sức chống đỡ để cô sống đến bây giờ, mục đích là vì điều gì? Là để cô quay đầu. Mục đích của việc quay đầu là vì cái gì? Hiểu rằng không ai là chỗ dựa của ngươi, ngươi không được dựa vào bất kỳ ai, ngươi không được dựa vào chính mình để tạo ra một cuộc sống hạnh phúc, không được nảy sinh bất kỳ nguyện vọng nào. Ngoại trừ Đấng Tạo Hóa ra, không ai có thể sắp đặt, kiểm soát số phận của ngươi, ngay cả chính ngươi cũng không thể. Lựa chọn ngươi nên đưa ra là gì? Là đến trước mặt Đấng Tạo Hóa mà không oán trách, không có bất kỳ điều kiện gì, lắng nghe những gì Ngài phán, tuân theo con đường của Ngài, cho dù là đau khổ hay bệnh tật, đây đều là một phần cần phải trải nghiệm trong cuộc sống con người. Khi cuộc đời của một người phải được đặt dấu chấm hết mà họ vẫn không hiểu tất cả những điều này, vậy Đức Chúa Trời còn có thể làm gì đây? Ngài không làm gì nữa, điều đó cũng có nghĩa là Ngài đã vứt bỏ họ. Tại sao Ngài không làm gì nữa? Bởi vì họ cứ sống trong quan niệm của mình, cứ sống trong dục vọng và sự bám giữ của mình, dùng thái độ cương ngạnh, cố chấp, dùng thái độ bản thân họ cho là đúng, cạnh tranh và háo thắng để đối đãi với tất cả những gì Đức Chúa Trời sắp đặt. Cho nên, đến khi một người sắp kết thúc cuộc đời, họ đều đã từng bước từng bước trải qua những hoàn cảnh hoặc quá trình mà Đức Chúa Trời sắp đặt, nhưng nhận thức của họ đối với Đấng Tạo Hóa không có bất kỳ thay đổi nào, họ cũng không có bất kỳ nhận thức nào về số phận của con người, vậy cuộc đời này của họ là như thế nào thì không cần nói cũng biết, Đấng Tạo Hóa sẽ không nhúng tay vào làm chuyện gì nữa. Cách thức làm việc của Ngài là như vậy.
Dưới cách thức làm việc này của Đức Chúa Trời, con người sẽ lại nảy sinh những quan niệm và tưởng tượng nào? Khi nhìn thấy Đức Chúa Trời đào thải con người, có một vài người sẽ nảy sinh quan niệm mà nói rằng: “Người này cả đời đã trải qua nhiều đau khổ, lẽ nào Đấng Tạo Hoá không thương xót họ sao?”. Thương xót có thể đại diện cho điều gì? (Thưa, là bố thí ân điển.) Bố thí ân điển có thể quyết định số phận của họ hay không? Có thể thay đổi số phận của họ hay không? Có thể thay đổi quan điểm của họ hay không? (Thưa, không thể.) Cho nên, dù Đấng Tạo Hóa ban cho người ta bao nhiêu phúc lành, bao nhiêu ân điển, bao nhiêu sự hưởng thụ vật chất, nếu như tất cả chúng đều không thể thúc đẩy hoặc giúp đỡ họ hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời, không thể giúp họ đi trên con đường đúng đắn trong đời và cuối cùng đi trên con đường mà Đức Chúa Trời chỉ cho con người, hiểu tất cả những gì mà con người trải nghiệm trong cuộc đời này là như thế nào, thì mọi công tác mà Đức Chúa Trời làm trên họ đều uổng phí, có thể thấy rằng, một đời tin Đức Chúa Trời của người này cũng sẽ bị đặt dấu chấm hết. Vậy quan niệm mà con người dễ nảy sinh là gì? Là “Đức Chúa Trời có sự bao dung, sự nhẫn nại, có tình yêu lớn mạnh, có tình yêu bao la, tại sao Ngài không thể yêu thương một người như vậy?”. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời biểu hiện như thế nào? Ngài rốt cuộc có yêu thương họ không? Tình yêu của Ngài có kết quả gì nơi họ không? Khi không có kết quả thì tình yêu thương của Đức Chúa Trời được thể hiện như thế nào? Tâm tính của Ngài sẽ biểu hiện như thế nào? Ngài sẽ làm gì? Trên thực tế, trước khi làm bất cứ điều gì, Ngài đã chọn người đó, làm công tác trên họ, tiêu tốn tâm tư để tiền định cuộc đời họ, sắp đặt cuộc đời họ theo cách thức của Đức Chúa Trời và trong đó đều có tâm ý của Ngài, đây có phải là tình yêu thương của Đức Chúa Trời hay không? (Thưa, phải.) Đó đã là tình yêu thương của Ngài rồi. Khi họ trải qua mỗi một quá trình trong cuộc đời, Đức Chúa Trời có sự thương xót, chăm sóc, bảo vệ đối với họ, cho họ một loại động lực, sắp đặt một vài hoàn cảnh, liên tục bảo vệ cho họ hoàn thành sứ mạng đời này của họ. Trong quá trình này, dù họ kiên trì, cố chấp, kiêu ngạo, cương ngạnh như thế nào, Đức Chúa Trời vẫn dùng cách thức của mình, dùng tình yêu thương, tấm lòng bao la của Đấng Tạo Hóa, và cả trách nhiệm của Đức Chúa Trời khiến họ thuận lợi đi hết cuộc đời. Cho dù đời này họ gặp bao nhiêu hiểm cảnh, bao nhiêu cám dỗ, thậm chí bao nhiêu lần cảm thấy tuyệt vọng muốn quyên sinh, Đức Chúa Trời đều dùng cách thức của Ngài mà dẫn dắt họ đi hết cuộc đời này. Nếu không có sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời, cuộc đời này của họ chắc chắn sẽ không thuận lợi, bởi vì nó chứa đầy các loại dẫn dụ, cám dỗ hoặc nguy hiểm. Cho nên, đây đều là tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Trong quan niệm của con người cho rằng tình yêu thương của Đức Chúa Trời không nên có những đau khổ, hoạn nạn này, cũng không nên có những thứ không hợp với ý của con người. Thực ra, Đức Chúa Trời luôn dùng cách thức yêu thương và khoan dung mà ban cho con người sự thương xót, ân điển, phúc lành, cuối cùng lại dùng sự nhẫn nại và lòng yêu thương cực độ để bày tỏ lẽ thật, khiến con người hiểu được lẽ thật và có được sự sống. Ngài áp dụng đủ loại phương thức khác nhau để đạt được hiệu quả, từng bước dẫn dắt con người, khiến con người nhận thức cuộc đời và biết nên sống như thế nào mới có ý nghĩa. Mục đích Đức Chúa Trời làm việc như vậy là gì? Nói một cách nông cạn thì mục đích là để con người có thể thoát khỏi mọi đau khổ mà họ gặp phải trong cuộc đời và mọi đau khổ nảy sinh từ chính bản thân họ; nói một cách sâu xa hơn thì mục đích của Đức Chúa Trời là để con người sống hạnh phúc, sống như một con người bình thường, như một con người đích thực, sống trong sự dẫn dắt của Đấng Tạo Hóa. Tuy nhiên, mỗi người đều có sự tự do của riêng mình, Đức Chúa Trời tạo ra cho con người ý chí tự do, tạo ra cho con người cơ quan để suy nghĩ, sau đó, con người tiếp nhận rất nhiều thứ của thế giới này, của xã hội này như tri thức, văn hóa truyền thống, trào lưu xã hội, sự giáo dục của gia đình, v.v.. Đối với những thứ đến từ Sa-tan, Đức Chúa Trời từ trước đến nay đều ghê tởm, hơn nữa còn dành cho chúng sự vạch trần để cho con người biết sự hoang đường, giả tạo và hoàn toàn không tương hợp với lẽ thật của những thứ này. Nhưng Đức Chúa Trời chưa bao giờ cách ly con người, khiến con người tránh xa những thứ thuộc về Sa-tan này, thay vào đó Ngài để cho con người đích thân nếm trải và phân định, từ đó có được trải nghiệm và nhận thức đúng đắn về cuộc đời. Khi toàn bộ quá trình kết thúc, sau khi Đức Chúa Trời đã làm xong mọi việc cần làm, con người có thể có được bao nhiêu thì chính là bấy nhiêu. Vậy ở giai đoạn cuối cùng này, quan niệm mà con người nảy sinh là gì? Sự vứt bỏ của Đức Chúa Trời đối với một con người làm cho họ cảm thấy Đức Chúa Trời không hợp với ý của con người, cảm thấy chút hy vọng ấm áp con người có thể gửi gắm nơi Đức Chúa Trời giờ đây cũng tan vỡ, họ cảm thấy có chút tàn khốc. Trong khi con người cảm thấy tàn khốc thì quan niệm của họ cũng bộc lộ ra ngoài. Ngươi muốn làm người tốt để giúp đỡ họ, để họ được cứu rỗi, làm vậy có ích gì không? Họ tin Đức Chúa Trời nhiều năm như vậy mà không mưu cầu lẽ thật chút nào, không đạt được gì cả, ngươi muốn thương xót họ, giúp đỡ họ, vậy ngươi có thể chu cấp lẽ thật cho họ sao? Ngươi có thể ban cho họ sự sống sao? Căn bản là ngươi không làm được, vậy tại sao ngươi còn có quan niệm đối với Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời công tác công bằng và hợp lý đối với bất kỳ ai, cá nhân họ không tiếp nhận lẽ thật, không thuận phục công tác của Ngài thì sao có thể oán trách Ngài không cứu rỗi con người? Trong chuyện này chắc chắn có nhiều quan niệm của con người. Bên trong con người có rất nhiều quan niệm đối với công tác của Đức Chúa Trời: “Nếu Đức Chúa Trời đã làm nhiều như vậy, tại sao bước cuối cùng này lại không làm cho trọn vẹn? Đây không giống với việc mà Đức Chúa Trời muốn làm, cũng không nên là việc Đức Chúa Trời làm. Nếu Ngài đã làm công tác lớn như vậy thì nên để cho tất cả những ai tin Đức Chúa Trời đều được cứu rỗi. Phải đạt được hiệu quả như vậy mới là kết quả hoàn mỹ cho công tác của Ngài. Tại sao Ngài lại đào thải người này? Đây là trái với tình yêu thương, lòng thương xót của Đức Chúa Trời đối với con người, điều này dễ khiến người ta hiểu lầm! Đức Chúa Trời sao có thể làm như vậy? Có phải có chút không hợp với ý của con người hay không?”. Tâm tính công chính của Đức Chúa Trời chính là như vậy. Đây là tâm tính công chính của Ngài. Các ngươi thể nghiệm đi, đến một ngày nào đó các ngươi sẽ hiểu.
Những điều vừa nói ở trên liên quan đến một số quan niệm, tưởng tượng của con người đối với công tác của Đức Chúa Trời, trong đó có một phần là tưởng tượng của con người, một phần là yêu cầu của con người đối với Đức Chúa Trời, nghĩa là con người cho rằng Đức Chúa Trời nên làm như thế này, nên làm như thế kia. Khi công tác của Đức Chúa Trời không hợp với quan niệm của ngươi, mâu thuẫn với yêu cầu hoặc tưởng tượng của ngươi, trong lòng ngươi sẽ thấy khó chịu, sẽ buồn bã, cảm thấy: “Ngài không phải là Đức Chúa Trời của tôi, Đức Chúa Trời của tôi sẽ không giống như Ngài”. Ngài không phải là Đức Chúa Trời của ngươi, vậy ai là Đức Chúa Trời của ngươi? Những thứ này nếu như không được giải quyết thì con người sẽ thường sống trong những tình trạng, quan niệm này, trong tâm tư họ thường dùng những quan niệm và yêu cầu này để đánh giá công tác của Đức Chúa Trời, để phán đoán xem việc mình làm là đúng hay sai, để phán đoán xem con đường mình có đúng đắn không, như thế thì sẽ phiền phức đấy. Ngươi đang đi trên một con đường hoàn toàn không liên quan gì đến những yêu cầu của Đức Chúa Trời, cho dù về hình thức ngươi đi theo Đức Chúa Trời hay là nghe bài giảng, lắng nghe lời Đức Chúa Trời, thì cuối cùng ngươi có thể đạt đến được cứu rỗi hay không? Không thể. Cho nên, tin Đức Chúa Trời mà muốn đạt đến được cứu rỗi thì không phải ngươi tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời và bước vào đời sống của hội thánh là có thể chắc chắn mình là một phần tử trong công tác quản lý của Đức Chúa Trời, một phần tử mà Đức Chúa Trời sẽ cứu rỗi, hoàn thiện, cũng không thể chứng minh ngươi đã được cứu rỗi hoặc chắc chắn được cứu rỗi, không phải như vậy. Đây chỉ là quan niệm và tưởng tượng của con người, là suy luận, xét đoán của con người.
Các ngươi tổng kết lại xem, quan niệm của con người liên quan đến câu chuyện vừa kể là gì? Tổng kết xong thì đọc to ra đi. (Thưa Đức Chúa Trời, chúng con tổng kết ra bốn điều: thứ nhất, con người cảm thấy nếu mình có một nguyện vọng và mưu cầu hợp lý, không có gì quá đáng, Đức Chúa Trời nên thành toàn cho họ. Thứ hai, con người cảm thấy Đức Chúa Trời đã trả giá nhiều đến vậy để làm việc trên con người mà họ vẫn không hiểu, vậy Đức Chúa Trời nên làm một vài công tác siêu nhiên, khai sáng cho họ ngay lập tức, để cho họ biết con đường đúng đắn trong đời, đừng để cho cả đời họ chịu nhiều đau khổ như vậy, còn phải tự mình mò mẫm, tự mình trải nghiệm, nếm trải. Thứ ba, con người có quan niệm đối với tâm tính công chính của Đức Chúa Trời, cảm thấy Đức Chúa Trời đã trả giá nhiều đến vậy cho con người, thì cuối cùng phải nhìn thấy thành quả, con người phải được Ngài thu nhận. Thứ tư, những người tin Đức Chúa Trời đều có một vài tâm lý ăn may.) Còn gì nữa không? Còn ai muốn nói gì nữa? (Thưa, còn có một quan niệm rằng Đức Chúa Trời đã làm việc nhiều năm như vậy, đã thực hiện công tác lớn lao như vậy, thì Ngài nên thu nhận được nhiều người hơn, và nếu thu nhận được ít hơn thì đó không phải là công tác của Đức Chúa Trời.) Vậy là có năm điều. Còn nữa không? (Thưa, con nghĩ đến một điều, đó là con người có một số trải nghiệm đặc biệt, ví dụ như từng gặp phải sự truy bắt và bách hại, trong quá trình này họ có một vài sự giao tiếp chân thực với Đức Chúa Trời và có lời chứng chân thực thì họ xem nó như một loại vốn liếng, cho rằng có lời chứng trải nghiệm như vậy thì có thể được Đức Chúa Trời khen ngợi, xác suất sống sót sẽ cao.) (Thưa, còn nữa, con người cho rằng mình làm công tác càng lớn, trả giá càng nhiều thì càng được Đức Chúa Trời khen ngợi, càng có hy vọng được cứu rỗi.) Nói cách khác, con người cho rằng xác suất được Đức Chúa Trời khen ngợi là căn cứ vào cái giá mình trả ra là bao nhiêu, hai thứ này phải tỷ lệ thuận với nhau chứ không được tỷ lệ nghịch với nhau, không được không có quan hệ mà phải móc nối với nhau, đây là một loại quan niệm. Đây là điều thứ bảy. Còn gì nữa? (Thưa, còn có một phương diện nữa, con người cho rằng Đức Chúa Trời muốn làm cho con người hiểu lẽ thật thì phải khai sáng để con người hiểu, chứ không nên thử luyện, tước đoạt, làm cho con người đau khổ. Bởi vì Đức Chúa Trời yêu thương con người, mà khiến con người chịu đựng đau khổ thì không phải là tình yêu thương.) Đây là có quan niệm về tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Còn có quan niệm gì nữa? (Thưa, con người cho rằng Ðức Chúa Trời thu nhận được mọi người thì càng tốt, như vậy Sa-tan sẽ bị sỉ nhục, Ðức Chúa Trời cũng thu nhận được con người, thực ra đó là ý nghĩ ích kỷ và đê tiện của con người, là vì chính bản thân họ.) Họ có một tưởng tượng hoàn mỹ về kết quả công tác của Đức Chúa Trời, đây cũng là quan niệm. Ngoại trừ những mục đích ích kỷ và đê tiện của con người ra, họ cho rằng Đức Chúa Trời làm tất cả những thứ này thì phải có đầu có cuối, kết cục nhất định là hoàn mỹ, nhất định là như con người mong muốn, phù hợp với tưởng tượng của con người, phù hợp với một loại khao khát của con người về những gì tốt đẹp. Tuy nhiên, khi Đức Chúa Trời kết thúc công tác, sự thật thường không phù hợp với tưởng tượng của con người, và kết cục của tất cả những điều này không nhất thiết phải hoàn mỹ như con người tưởng tượng. Đương nhiên, con người cũng không muốn thấy khi công tác của Đức Chúa Trời kết thúc thì không còn bao nhiêu người được tồn tại, cũng giống như tín đồ trong Thời đại Luật pháp cũng không có bao nhiêu người kính sợ Đức Chúa Trời và lánh khỏi điều ác như Gióp. Con người cảm thấy rằng kết quả công tác của Đức Chúa Trời không nên như vậy, bởi vì Đức Chúa Trời toàn năng mà, họ định nghĩa sự toàn năng của Đức Chúa Trời như vậy đấy. Bản thân định nghĩa đối với sự toàn năng của Đức Chúa Trời này chính là một loại quan niệm, là một loại khái niệm của chủ nghĩa hoàn mỹ trong tưởng tượng của con người, hoàn toàn không liên quan đến điều Đức Chúa Trời muốn làm và nguyên tắc mà Đức Chúa Trời làm công tác. Còn có những quan niệm nào nữa? (Thưa, người ta tin Đức Chúa Trời mà không nghĩ lại con đường mình đi là gì và làm thế nào để có thể thoát khỏi sự bại hoại và được cứu rỗi. Thay vào đó, họ cảm thấy Đức Chúa Trời là toàn năng, Ngài nói sẽ khiến con người thay đổi thì con người sẽ thay đổi.) Đức Chúa Trời nói cho con người biết họ nên thay đổi như thế nào, thì họ lại không thực hành, bản thân không thay đổi, lại còn luôn muốn bớt việc, muốn Đức Chúa Trời thay đổi họ. Điều này mang theo một dạng tưởng tượng rỗng tuếch, một loại quan niệm. Còn nữa không? (Thưa, con người cảm thấy nếu một người cả đời đã phải chịu đựng rất nhiều đau khổ, vấp phải rất nhiều trắc trở thì cuối cùng họ nên có một kết cục tốt đẹp, và Đức Chúa Trời không nên vứt bỏ họ. Cuối cùng, khi người đó không được Đức Chúa Trời thu nhận, Ngài muốn vứt bỏ họ, thì con người sẽ đứng trên lập trường của một “người tốt” để nhìn nhận và đối đãi với tất cả những điều mà Ngài đã làm. Họ cảm thấy Ngài làm như vậy là không hợp với ý của con người, làm như vậy là quá tàn khốc.) Đây là vấn đề gì? Các ngươi chỉ kể lại một số chuyện và một vài nhận thức cảm tính của mình, chứ không nói được đây là vấn đề về quan niệm. Quan niệm của con người ở đây chủ yếu là gì? Con người cho rằng Đức Chúa Trời dựa trên mức độ đáng thương và mức độ chịu khổ của một con người mà cứu rỗi họ. Con người cho rằng Đức Chúa Trời ở thời điểm cuối cùng quyết định kết cục của con người thì nên thể hiện lòng thương xót của Ngài, thể hiện sự rộng lượng, khoan dung, yêu thương và trắc ẩn của Ngài. Bởi vì người này đã chịu khổ quá nhiều rồi, cả đời này quá đáng thương rồi, bất kể họ có hiểu lẽ thật hay không, bất kể họ thuận phục Đức Chúa Trời chừng nào, thì Ngài cũng không nên nhìn những điều đó, mà nên nể tình họ đáng thương, nể tình họ chịu khổ nhiều, nể tình họ cố chấp với giấc mơ của mình như vậy mà phá lệ cho họ được cứu rỗi, đây là quan niệm của con người. Con người có rất nhiều cái “nên”, dùng nhiều cái “nên” như vậy để quy định Đức Chúa Trời nên làm như thế nào, để định nghĩa hành động của Đức Chúa Trời. Khi sự thật thể hiện rõ Đức Chúa Trời không làm như vậy, thì giữa con người và Đức Chúa Trời sẽ nảy sinh sự chia rẽ, hiểu lầm của con người đối với Đức Chúa Trời cũng sẽ nảy sinh. Đó chỉ là hiểu lầm thôi sao? Sự phản nghịch của con người cũng theo đó mà nảy sinh. Thứ mà quan niệm mang đến cho con người chính là những tai hại này, những hậu quả này.
Trọng điểm mà chúng ta nói đến là quan niệm. Thông qua câu chuyện vừa kể, con người có thể thấy được rằng nhân vật chính dùng rất nhiều quan niệm để đánh giá mọi sự mà Đức Chúa Trời sắp đặt, nhưng thông qua mọi chuyện xảy đến với nhân vật chính và cách thức Đức Chúa Trời đối xử với cô, con người lại nảy sinh ra rất nhiều ý nghĩ và yêu cầu đối với Đức Chúa Trời, đây đều là quan niệm. Các ngươi lại nói xem, con người còn có những quan niệm nào? (Thưa, con người cho rằng nếu Đức Chúa Trời đã thực hiện công tác lớn như vậy thì Ngài nên thu nhận nhiều người hơn, nhưng Đức Chúa Trời phán rằng thu nhận được mấy người thì tính là mấy người, thế là con người cảm thấy Đức Chúa Trời không thích thu nhận nhiều người như vậy, nên họ không mưu cầu nữa.) Quan niệm ảnh hưởng đến sự mưu cầu của con người. Ở đây phải đính chính lại một chút, không phải Đức Chúa Trời không thích thu nhận được nhiều người, Ngài thích chứ. Trong chuyện này có một vấn đề, cuối cùng khi Đức Chúa Trời quyết định kết cục của con người, Ngài căn cứ vào điều gì để nói rằng Ngài không làm việc trên con người nữa mà thay vào đó lại vứt bỏ con người? Trong chuyện này, Đức Chúa Trời có một tiêu chuẩn, cũng là nguyên tắc và giới hạn cuối cùng. Nếu ngươi có quan niệm hoặc là nhìn không thấu đối với tiêu chuẩn, nguyên tắc và ranh giới cuối cùng này, thì ngươi sẽ nảy sinh những sự đối chọi hoặc là tưởng tượng đối với Đức Chúa Trời. Có người nói: “Đức Chúa Trời bỏ ra nhiều công sức trên người cô như vậy mà cô cũng không thay đổi, không buông bỏ nguyện vọng của mình, vẫn kiên trì với nguyện vọng của mình, không đến trước mặt Đức Chúa Trời, cho nên Đức Chúa Trời đã vứt bỏ cô”, đây có phải là nguyên nhân chính hay không? (Thưa, không phải.) Vậy nguyên nhân chính là gì? Vào cuối câu chuyện, khi nhân vật chính già đi, mặc dù dung mạo của cô đã thay đổi, tuổi tác dần dần tăng lên theo năm tháng, thời đại thay đổi, nhưng thứ không thay đổi là nguyện vọng của cô và những ảo tưởng gần như mơ hồ của cô. Vậy điều gì đã khiến cô tiếp tục kiên trì với nguyện vọng như vậy? (Thưa, là tâm tính cương ngạnh và phản nghịch.) Đúng vậy, chính việc cô không yêu thích lẽ thật, không mưu cầu lẽ thật, không tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, không thực hành lẽ thật đã gây ra kết quả như vậy. Những tâm tính bại hoại như kiêu ngạo, cương ngạnh, cố chấp của cô làm cho cô vẫn kiên trì với nguyện vọng của mình, với lý tưởng của mình, không thể buông bỏ lý tưởng của bản thân. Chuyện này do đâu mà ra? Là do tâm tính bại hoại của cô gây ra. Cho nên, khi Đức Chúa Trời nhìn thấy một người đi đến cuối con đường mà tâm tính của họ vẫn cương ngạnh, kiêu ngạo và cố chấp, thì điều này nghĩa là gì? Người này trong thời gian Đức Chúa Trời công tác, mặc dù nhìn bề ngoài thì họ đang đi theo Đức Chúa Trời, cũng đang làm bổn phận, nhưng trong mọi việc đang làm, họ lại không thực hành trải nghiệm lời Đức Chúa Trời, về thực chất họ cũng không có lối vào sự sống, người như vậy có sự tiếp nhận và thuận phục chân thực với công tác của Đức Chúa Trời hay không? (Thưa, không.) Đúng vậy, điều này tạo thành kết quả cuối cùng là bị Đức Chúa Trời vứt bỏ. Họ đi hết con đường cuộc đời, tuy rằng họ đã đến trước mặt Đức Chúa Trời, hiểu rằng Đấng Tạo Hóa sắp đặt mọi thứ, hiểu rằng Đấng Tạo Hóa an bài số phận con người, thế nhưng trong thời gian họ đi theo Đức Chúa Trời, lắng nghe lời Đức Chúa Trời, thì tâm tính cương ngạnh, kiêu ngạo, cố chấp của họ cuối cùng cũng không hề thay đổi chút nào. Kết quả này của chuyện này như thế nào thì không cần nói cũng biết. Đây là tiêu chuẩn cuối cùng để Đức Chúa Trời vứt bỏ một con người, và đây là nguyên tắc của Đức Chúa Trời. Bất kể con người có cái nhìn và đánh giá như thế nào về nguyên tắc và tiêu chuẩn này của Đức Chúa Trời, Ngài đều sẽ không chịu sự ảnh hưởng của con người, Ngài nên làm như thế nào thì vẫn làm như thế đó. Ngươi không tiếp xúc với người này, không hiểu thực chất trong sâu thẳm nội tâm của họ rốt cuộc là gì, tâm tính của họ rốt cuộc là gì, ngươi chỉ nhìn bề ngoài, mãi mãi không hiểu nguyên tắc và căn nguyên Đức Chúa Trời làm như vậy là gì. Ngươi sẽ xét đoán hành động của Ngài, xét đoán sự quy định của Ngài đối với người này. Ta hỏi các ngươi, đối với một người đáng thương như vậy, đối với một người đã trải qua đủ loại đau khổ trong cuộc đời, tức là một người đã trải qua cả đời đau khổ, tại sao Đức Chúa Trời lại có một cách xử lý như vậy đối với họ? Tại sao Ngài lại vứt bỏ họ? Kết quả này là điều mà mọi người đều không muốn nhìn thấy, nhưng nó thực sự là sự thật, là điều thực sự tồn tại, lý do Đức Chúa Trời đối xử với họ như vậy là gì? Là vì sự mưu cầu và tâm tính như vậy của họ, cùng con đường mà họ đi, nếu Đức Chúa Trời công tác thêm mười năm nữa, liệu họ có thay đổi không? (Thưa, không.) Vậy nếu Ngài lại công tác thêm năm mươi năm nữa và cho họ sống lâu hơn một chút, liệu họ có thay đổi không? (Thưa, không.) Tại sao không thay đổi? (Thưa, vì thực chất bản tính của họ đã được quyết định rồi, họ không phải là người mưu cầu lẽ thật, vì vậy dù tin bao nhiêu năm đi nữa họ cũng sẽ không có sự thay đổi.) Ai đó nói cụ thể hơn đi? (Thưa, con đường họ đi là không đúng, không đi con đường mưu cầu lẽ thật, điều này quyết định rằng dù họ tin bao nhiêu năm đi nữa cũng chỉ vô ích. Họ tin mười năm, hai mươi năm nữa thì con đường họ đi, phương hướng cuộc đời họ cũng sẽ không xoay chuyển.) Chuyện là như vậy. Bên trong họ tồn tại quan niệm và tưởng tượng, họ không mưu cầu lẽ thật, không mưu cầu hiểu lẽ thật, bước vào lẽ thật, thay vào đó họ mưu cầu việc liên tục đi theo về mặt hình thức, nhưng thực chất của họ lại không thay đổi chút nào. Họ tin Đức Chúa Trời mười năm, hai mươi năm mà không mưu cầu lẽ thật, tin ba mươi năm, năm mươi năm vẫn không mưu cầu lẽ thật, cuối cùng những thứ họ bộc lộ ra, sống thể hiện ra mãi mãi đều không thay đổi. Điều này là do thực chất bản tính của họ quyết định, đây là dạng tâm tính của họ. Từ đầu đến cuối không thay đổi, quan niệm và tưởng tượng của họ đối với Đức Chúa Trời từ đầu đến cuối không thay đổi, vậy cách Đức Chúa Trời xử lý họ như thế thì có nguyên tắc hay không? Rất có nguyên tắc. Con người luôn ra vẻ là người tốt, cảm thấy mình khoan dung biết bao, vĩ đại biết bao. Vậy sự khoan dung của ngươi lớn bằng sự khoan dung của Đức Chúa Trời không? Tình yêu của ngươi có lớn bằng tình yêu của Đức Chúa Trời không? (Thưa, không.) Sự khoan dung của Đức Chúa Trời là gì? Làm sao mà ngươi thấy Đức Chúa Trời có sự khoan dung, thấy Đức Chúa Trời có tình yêu thương? Ngài dùng các cách thức khác nhau có lợi cho con người để đưa con người đến trước mặt Ngài, để con người nghe lời Ngài, nghe hiểu lời Ngài, để con người đi và thực hành theo cách thức Đức Chúa Trời yêu cầu, nhưng họ lại không tiếp nhận, họ vẫn kiên trì với quan điểm của mình đến cuối cùng. Vậy trong quá trình trải nghiệm của họ đời này, Đức Chúa Trời từng vứt bỏ họ chưa? (Thưa, chưa từng.) Đức Chúa Trời không vứt bỏ họ, trong mỗi giai đoạn của cuộc đời họ, Đức Chúa Trời đều nghiêm túc chịu trách nhiệm đến cùng về mọi chuyện Ngài làm cho họ, mọi chuyện Ngài yêu cầu họ trải nghiệm. Đức Chúa Trời chịu trách nhiệm đến cùng là vì mục đích gì? Là để có thể nhìn thấy một kết quả tốt, có thể nhìn thấy một kết quả làm cho con người hài lòng, như ý, để cho họ có thể hưởng thụ được hạnh phúc thực sự trong nguyện vọng của họ, đây chính là sự khoan dung của Đức Chúa Trời. Nhưng kết quả cuối cùng mà Đức Chúa Trời nhìn thấy là gì? Đức Chúa Trời có nhìn thấy kết quả cuối cùng mà Ngài muốn nhìn thấy không? (Thưa, không.) Ngài không nhìn thấy, đã không còn thấy hy vọng gì nữa. Ngài không còn thấy hy vọng có nghĩa là gì? Nghĩa là Đức Chúa Trời đã không còn ôm bất cứ hy vọng gì nơi người này nữa, dùng cách nói của con người thì chính là tuyệt vọng. Nếu có một tia hy vọng, Đức Chúa Trời cũng sẽ không vứt bỏ, đây là sự khoan dung của Đức Chúa Trời, là tình yêu thương của Ngài. Sự khoan dung và tình yêu thương của Đức Chúa Trời được thực hiện trên con người một cách thực tế, chứ không phải chỉ là nói một câu nói suông. Cuối cùng, điều Đức Chúa Trời nhìn thấy nơi người này chính là tâm tính bại hoại của con người vẫn không thay đổi, sự cố chấp vẫn được giữ vững, nguyện vọng của con người vẫn lưu lại nơi đáy lòng. Con người tuy rằng muốn được phúc, nhưng khi đến trước mặt Đức Chúa Trời thì họ không chịu vứt bỏ gì cả, chỉ một nguyện vọng nho nhỏ mà con người lại kiên trì với nó cả đời, cầm giữ cả đời, nắm thật chặt, nắm suốt một đời. Bề ngoài, con người giao bản thân cho Đức Chúa Trời, giao cả cuộc đời mình cho Đức Chúa Trời, giao người thân của mình cho Đức Chúa Trời, nhưng trên thực tế thì sao? Họ muốn tự mình làm chủ, làm chủ người bên cạnh mình, làm chủ người thân của mình, làm chủ bản thân mình, hơn nữa còn muốn dựa dẫm lẫn nhau, họ cũng không thật sự giao mọi thứ cho Đức Chúa Trời. Cho dù nhìn từ phương diện nào, con đường con người đi cũng không phải là tuân theo con đường của Đức Chúa Trời, cũng không phải là thỏa mãn yêu cầu của Đức Chúa Trời một cách có ý thức, căn bản là không đi trên con đường tuân theo con đường của Đức Chúa Trời. Cả đời họ chịu nhiều cực khổ như vậy, trải nghiệm nhiều chuyện không bình thường như vậy, nhưng như thế vẫn không khiến họ từ bỏ hình ảnh cuộc đời hạnh phúc tốt đẹp mà họ phác thảo ra, cũng không khiến họ có bất cứ sự nghĩ lại nào. Đây là người như thế nào? Người như vậy quá cương ngạnh. Con người không mưu cầu lẽ thật, không đi con đường đúng đắn trong đời, thì kết quả cuối cùng chính là như vậy. Đến cuối cùng, những gì Đức Chúa Trời làm đã là tận tình tận nghĩa, đã vượt quá tưởng tượng của con người, vượt quá phạm vi mà con người có thể đạt tới, Đức Chúa Trời đã cho con người quá nhiều. Căn cứ vào sự bại hoại và tâm tính con người, căn cứ vào thái độ của con người đối với Đức Chúa Trời, thì con người không nên có được những điều này, không xứng đáng có được những phúc lành này, nhưng Đức Chúa Trời có vứt bỏ không? Ngài đã làm rất nhiều công tác trước khi vứt bỏ, Ngài chưa bao giờ tiếc rẻ mà ban tình yêu, lòng thương xót, ân điển và phước lành của Ngài cho con người, nhưng sau khi con người nhận được những điều này từ Ngài, thái độ của con người đối với Đức Chúa Trời là gì? Vẫn là tránh né, rời xa, thường hoài nghi, đề phòng, chống đối, từ bỏ ở trong lòng. Tại sao họ luôn muốn dựa vào con người để tạo ra cuộc sống hạnh phúc? Họ không thể tin Đức Chúa Trời, không tin Đức Chúa Trời có thể đưa họ lên con đường đúng đắn hay là khiến họ có hạnh phúc, họ luôn cảm thấy con đường của mình là đúng. Nếu Đức Chúa Trời có thể căn cứ theo con đường họ đã chọn và yêu cầu của họ mà giúp đỡ và dẫn dắt họ thực hiện mục đích của mình, họ sẽ tiếp nhận và thuận phục. Nhưng Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật để khiến con người trở về với Đức Chúa Trời, để họ có thể tiếp nhận lẽ thật và sống thể hiện ra một cuộc đời có ý nghĩa, điều này lại không phù hợp với quan niệm của họ. Cho nên, họ muốn đi con đường của mình, trải qua cuộc sống của mình, họ cho rằng phải dựa vào chính mình, còn dựa vào người khác, dựa vào Đức Chúa Trời thì không đạt được mục đích của bản thân. Bởi vì con người không hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời, chỉ bám giữ quan niệm của mình, cho nên họ ngày càng rời xa Đức Chúa Trời. Chỉ có người nhìn thấy Đức Chúa Trời là lẽ thật, đường đi, và sự sống, nhìn thấy con người bại hoại quá sâu sắc, cần sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, nhìn thấy chỉ có mọi thứ mà Ngài làm mới là lẽ thật, đều là để cứu rỗi con người thoát khỏi quyền thế của Sa-tan, đưa nhân loại vào trong đích đến tốt đẹp, người như vậy mới có thể ngưỡng vọng Đức Chúa Trời, dựa vào Ngài, đi theo Ngài đến cuối cùng, vĩnh viễn không rời xa Đức Chúa Trời.
Những điều vừa mới thông công đó chính là thái độ của Đức Chúa Trời đối với một con người, cũng là những cách thức khác nhau mà Đức Chúa Trời công tác giữa con người và trên con người. Nếu con người nảy sinh quan niệm trong chuyện này thì nên thường xuyên kiểm điểm, nghĩ lại, nhận thức, rồi sau đó xoay chuyển. Mục đích của sự xoay chuyển là gì? Nếu như con người nhận thức được đây là quan niệm, tưởng tượng, nhận thức được Đức Chúa Trời rốt cuộc làm như thế nào, vậy con người còn dễ dàng nảy sinh một số quan niệm sai lầm, lệch lạc hơn đối với Đức Chúa Trời hay không? Vẫn có thể, bởi vì con người có sự phản nghịch, có tư tưởng sống động, dễ nảy sinh các loại quan niệm khác nhau đối với Đức Chúa Trời, từ quan niệm này nảy sinh quan niệm khác, rồi lại từ quan niệm khác nảy sinh quan niệm khác nữa, các loại quan niệm cứ không ngừng nảy sinh. Trong khi nảy sinh quan niệm đối với Đức Chúa Trời, thì con người không ngừng hiểu lầm Ngài, cũng không ngừng nghĩ lại, sau đó lại không ngừng hiểu lẽ thật, và trong quá trình này họ dần dần nhận thức Đức Chúa Trời. Lý do nào khiến con người không đạt tới nhận thức Đức Chúa Trời? Do họ không biết cái gì là quan niệm, không nhận thức được quan niệm bên trong mình, không nghĩ lại về quan niệm của mình, cũng chưa bao giờ buông bỏ quan niệm của mình. Họ chỉ chú trọng giữ vững quan niệm của mình, chưa bao giờ nghe ngóng cũng chưa bao giờ nhận thức Đức Chúa Trời làm như thế nào, thực chất công tác của Đức Chúa Trời là gì. Người như thế ngoại trừ tâm tính bại hoại ra còn có thêm một thứ ngăn cách giữa Đức Chúa Trời và họ, và nó cũng ảnh hưởng đến sự cứu rỗi của họ. Cho nên, trong khi giải quyết tâm tính bại hoại của mình, con người cần nhận thức chi tiết hơn, tỉ mỉ hơn về chuyện quan niệm của con người là những điều gì. Mục đích của việc nhận thức và giải quyết quan niệm của con người là gì? Là để buông bỏ quan niệm sao? Mục đích là để con người có thể nhanh chóng bước vào thực tế lẽ thật, hiểu điều Đức Chúa Trời muốn con người bước vào rốt cuộc là gì, hiểu Đức Chúa Trời làm như thế nào. Nếu Đức Chúa Trời làm theo những gì ngươi tưởng tượng, vậy công tác mà Đức Chúa Trời làm trên ngươi có thể đạt được kết quả không? Không thể. Ví dụ như, có một số chuyện Đức Chúa Trời không bao giờ khai sáng cho ngươi, thay vào đó Ngài quy định bằng văn bản rõ ràng để nói cho ngươi biết phải làm như thế nào, ngươi cứ làm như vậy là được, thế nhưng ngươi luôn chờ Đức Chúa Trời cảm thúc, luôn chờ Ngài khai sáng, kết quả việc chờ đợi này làm công tác bị chậm trễ, bổn phận làm không tốt và bị cách chức, điều này do cái gì gây ra? (Thưa, do quan niệm.) Bây giờ nhìn vào, ngươi thấy quan niệm của con người có phải sẽ ảnh hưởng đến việc bước vào của con người không? (Thưa, phải.) Nó ảnh hưởng đến mức độ nào? Nhẹ nhất thì nó sẽ ảnh hưởng đến việc con người hiểu lẽ thật, bước vào thực tế; nặng nhất thì nó sẽ ảnh hưởng đến sự lựa chọn đúng đắn của con người, dễ khiến con người đi lên con đường sai lầm. Người có quan niệm thì dễ hiểu lầm Đức Chúa Trời nhất. Ví dụ như, Đức Chúa Trời tỉa sửa con người, phán xét và hành phạt con người, đều là để đạt được hiệu quả tích cực, để khiến con người biết mình, có sự hối cải chân thực, nhưng con người lại cho rằng Đức Chúa Trời cố ý đối đầu với họ, là Đức Chúa Trời cố ý muốn tỏ lộ họ, đào thải họ. Cho dù Đức Chúa Trời nói gì, làm gì, họ đều nghĩ xấu về Đức Chúa Trời, cho rằng Ngài không có tình yêu thương đối với họ, thậm chí Ngài còn có thể đối xử với những người thực hành lẽ thật như những kẻ ngốc. Đức Chúa Trời chỉ cho con người con đường đúng đắn, khiến cho con người thực hành lẽ thật, sống trong ánh sáng, họ khăng khăng muốn sống trong bóng tối dựa vào triết lý và lô-gic của Sa-tan, như vậy con đường mà họ đi không phải là con đường được cứu rỗi. Nếu ngươi khăng khăng muốn chống lại Đức Chúa Trời thì chẳng phải ngươi ngày càng rời xa công tác của Ngài sao? Khi ngày càng rời xa con đường được cứu rỗi, ngươi sẽ bị đào thải triệt để. Kinh Thánh có một câu thế này: “Kẻ ngu dại chết, vì thiếu trí hiểu” (Châm ngôn 10:21). Cái chết có nghiêm trọng không? Ở thời kỳ sau rốt, cái chết không nghiêm trọng, diệt vong mới nghiêm trọng, chết không có nghĩa là diệt vong, nhưng diệt vong thì chắc chắn là không có kết cục, là mãi mãi chết đi. Trước đây Ta từng nói con người có thể chết vì ngu muội, nhưng bây giờ, ngu muội không phải là vấn đề, ai mà không làm chuyện ngu muội chứ? Cái chết cũng không phải là vấn đề, bởi vì chết không nhất định là diệt vong. Vậy vì sao con người bị diệt vong? Con người sẽ bị diệt vong vì sự cố chấp, ngang ngược, so với việc bởi vì ngu muội mà chết thì nghiêm trọng hơn nhiều, cái này sẽ không có kết cục. Vì sao nói cố chấp, ngang ngược có thể dẫn đến việc con người bị diệt vong? Điều này liên quan đến vấn đề con đường mà con người đi. Cố chấp là loại tâm tính gì? Là cương ngạnh. Có tâm tính cương ngạnh này thì rất phiền phức. Có lúc họ không hiểu và chỉ muốn làm như vậy, có lúc họ hiểu rồi mà vẫn muốn làm như vậy chứ không làm theo yêu cầu của Đức Chúa Trời. Còn nữa, ngang ngược cũng là một loại tâm tính, nghĩa là không nói lý lẽ được, trong đây có sự kiêu ngạo, cũng có sự hung ác, hai loại tâm tính này nếu như không thay đổi, cuối cùng có thể dẫn đến việc con người bị diệt vong. Chuyện này có đơn giản không? Các ngươi có đối chiếu được không? Các ngươi nên hiểu tâm tính kiêu ngạo và hung ác có thể dẫn đến việc con người làm ra những chuyện gì. Cho dù là loại người gì thì mỗi chuyện con người làm đều là làm trước mặt Đức Chúa Trời, làm trước mặt Đấng Tạo Hóa, và Đức Chúa Trời sẽ dựa theo tâm tính công chính của Ngài mà phán quyết con người. Vậy người có hai loại tâm tính kiêu ngạo và hung ác thì những chuyện họ làm có thể dẫn đến hậu quả gì? Vì sao nói đây là hậu quả không thể cứu vãn? Đây là điều mà các ngươi đều nên hiểu. Được rồi, đối với quan niệm liên quan đến câu chuyện này thì nói đến đây thôi.
Về quan niệm của con người đối với công tác của Đức Chúa Trời, các ngươi thử nghĩ xem còn có điều gì chưa nói xong hay không? Quan niệm đối với công tác của Đức Chúa Trời chỉ là những điều các ngươi được nghe hôm nay thôi sao? Nếu nói về sự phán xét, hành phạt, thử luyện, tinh luyện, tỉa sửa, tỏ lộ và hoàn thiện con người thì sẽ liên quan đến những nội dung nào? Loại người nào sẽ được Đức Chúa Trời tỉa sửa, hành phạt và phán xét? Loại người nào sẽ gặp phải sự thử luyện, tinh luyện? Đức Chúa Trời làm những công tác này, dùng những cách thức công tác này để làm việc trên con người thì đều có nguyên tắc, có phạm vi, đều căn cứ vào vóc giạc, sự mưu cầu và nhân tính của con người, cũng căn cứ vào mức độ hiểu lẽ thật của con người, hôm nay Ta sẽ không nói cặn kẽ về điều này. Tóm lại, Đức Chúa Trời tỉa sửa con người, sửa dạy con người, hành phạt phán xét, thử luyện, tinh luyện con người đều là dựa trên mấy bước này để công tác trên con người. Nguyên tắc Đức Chúa Trời công tác trên con người và làm đến bước nào thì đều căn cứ vào vóc giạc của con người, từ “vóc giạc” này đối với các ngươi cũng có thể hơi rỗng tuếch. Chủ yếu là đánh giá căn cứ vào mức độ hiểu lẽ thật của con người, quan hệ giữa con người và Đức Chúa Trời có bình thường hay không và mức độ thuận phục của con người đối với Đức Chúa Trời. Nếu căn cứ vào sự phân biệt này thì đa số mọi người bây giờ có gặp phải hình phạt, sự phán xét, thử luyện, tinh luyện hay không? Đối với một số người, có thể vẫn còn sớm, họ chỉ có thể nhìn mà không thể với tới, còn có người nhìn thấy đã khiếp sợ. Tóm lại, những cách thức này là mấy bước mà Đức Chúa Trời cứu rỗi và hoàn thiện con người, mấy bước này được Ngài xác định dựa trên những định nghĩa chính xác về các phương diện của một người. Những công tác mà Đức Chúa Trời làm trên con người đều không phải là tùy tiện, Đức Chúa Trời làm công tác có trình tự, có nguyên tắc, Ngài nhìn vào sự mưu cầu, nhân tính và nhận thức của ngươi, còn nhìn vào thái độ đối đãi với các loại con người, sự việc, sự vật của ngươi trong cuộc sống thường nhật, v.v.. Ngài căn cứ vào những điều này để xác định cách làm việc và dẫn dắt con người. Cần một khoảng thời gian để Đức Chúa Trời xem xét một con người, chứ không phải Ngài quy định qua quýt dựa vào một hai chuyện. Mỗi một chuyện Đức Chúa Trời làm trên bất kỳ người nào đều không phải qua loa như vậy. Có một vài người nói: “Tôi sợ cách thức mà Đức Chúa Trời thử luyện Gióp, lỡ như chuyện đó thực sự đến với tôi và tôi không thể làm chứng cho Đức Chúa Trời, lỡ như Đức Chúa Trời thực sự tước đoạt như vậy, thì tôi phải làm sao?”. Ngươi yên tâm, Ngài tuyệt đối sẽ không tuỳ tiện làm như vậy trên người ngươi, ngươi không cần phải sợ. Tại sao không cần phải sợ? Trước khi sợ hãi, ngươi phải dùng một sự thật để thuyết phục chính mình, nhìn nhận vóc giạc của mình, xem mình có đức tin giống Gióp hay không, có thuận phục như Gióp hay không, có kính sợ Đức Chúa Trời như Gióp hay không, có mức độ trung thành và mức độ tuyệt đối như Gióp trong việc tuân theo con đường của Đức Chúa Trời hay không. Những điều này ngươi đánh giá thử xem, nếu không, thì ngươi có thể yên tâm, Đức Chúa Trời sẽ không cho ngươi thêm sự thử luyện và tinh luyện, bởi vì vóc giạc của ngươi không đủ, còn kém quá xa. Đối với sự thử luyện, tinh luyện của Đức Chúa Trời, con người cũng có một vài quan niệm và tưởng tượng, bao gồm sự ngờ vực, sợ hãi hoặc né tránh, đề phòng của con người. Con người nhận thức thấu đáo những điều này, nhận thức thấu đáo Đức Chúa Trời công tác như thế nào, thì những quan niệm của con người đối với công tác của Đức Chúa Trời dần dần sẽ không còn, con người sẽ chú trọng mưu cầu lẽ thật, dốc công sức vào lời Đức Chúa Trời. Ngài nói những lời này chính là muốn đạt được mục đích này. Ngươi đi theo Đức Chúa Trời thì phải hiểu rõ Đức Chúa Trời làm việc và cứu rỗi con người như thế nào, nếu ngươi thật sự là người mưu cầu lẽ thật thì hãy làm theo yêu cầu của Đức Chúa Trời, đừng nhìn nhận Đức Chúa Trời bằng cái nhìn thiên kiến, đừng dùng lòng dạ tiểu nhân của mình để đo lòng Đức Chúa Trời. Ngươi phải hiểu rõ nguyên tắc làm việc của Đức Chúa Trời rốt cuộc là gì, nguyên tắc Ngài đối đãi với con người là gì, Đức Chúa Trời làm đến mức độ nào trên một con người, tiêu chuẩn đánh giá của Đức Chúa Trời là gì. Sau khi hiểu rõ những điều này, bước tiếp theo ngươi nên làm như thế nào? Điều Đức Chúa Trời hy vọng thấy được không phải là ngươi vứt bỏ sự mưu cầu đối với lẽ thật, không phải là thái độ vò đã mẻ lại còn sứt, mà là sau khi hiểu tất cả chân tướng này, ngươi có thể vững vàng hơn, yên tâm mạnh dạn mà mưu cầu lẽ thật, và nhận thức rõ ràng Đức Chúa Trời là Đấng công chính. Chỉ cần khi đi đến cuối con đường này, ngươi đạt đến tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời cho ngươi, đi trên con đường được cứu rỗi, thì Đức Chúa Trời sẽ không vứt bỏ ngươi. Đối với quan niệm của con người về phương diện hình phạt, sự phán xét, thử luyện, tinh luyện và tỉa sửa, trước tiên hãy nói đại khái về những thứ này đã. Những phương diện chi tiết còn có rất nhiều, muốn nói cho rõ những chi tiết này thì không phải một vài lời là có thể nói rõ ràng, mà phải đưa ra một vài ví dụ thực tế về những gì con người biểu hiện và bộc lộ ra trong cuộc sống hàng ngày, còn phải kể một vài câu chuyện nhỏ và thêm một vài nhân vật, tình tiết nhỏ vào trong đó, để các ngươi nhận thức hoặc giải mã quan niệm của con người rốt cuộc là cái gì thông qua những ví dụ thực tế này, để cho con người nhận thức được những thứ này là quan niệm, không phù hợp với thực tế, hoàn toàn không phù hợp với nguyên tắc và tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời làm. Đức Chúa Trời không làm như vậy, thì ngươi còn suy nghĩ vớ vẩn, suy nghĩ lung tung cái gì? Ngươi luôn sống trong quan niệm và tưởng tượng của mình, ngươi mãi mãi sẽ không biết đi con đường mưu cầu lẽ thật theo yêu cầu của Đức Chúa Trời và luôn có khoảng cách với yêu cầu của Ngài. Cứ tiếp tục đi như vậy thì ngươi sẽ không có con đường thực hành, luôn bị kìm kẹp, bên trái không được, bên phải cũng không xong, vấp phải trắc trở ở mọi nơi, không biết làm thế nào, không có chút gì là thuận lợi cả. Kết quả là tới cuối cùng đến tư cách tiếp nhận hình phạt và sự phán xét của Đức Chúa Trời ngươi cũng không có, như thế thì thật đáng buồn biết bao!
Trong chuyện tin Đức Chúa Trời này, trước đây không có ai nghiêm túc với các ngươi, bây giờ đã đến lúc nghiêm túc rồi, bởi vì thời điểm này quan trọng! Thời gian không còn nhiều, các ngươi đừng coi việc tin Đức Chúa Trời là trò trẻ con. Đức Chúa Trời đã hạ quyết tâm muốn làm trọn vẹn con người và muốn cứu rỗi con người, Ngài muốn làm công tác này cho triệt để. Làm triệt để là làm như thế nào? Chính là muốn nói cho con người biết mọi phương diện của lẽ thật, để cho con người hiểu thấu đáo, không đi con đường lệch lạc. Khi ngươi đi con đường lệch lạc, Đức Chúa Trời sẽ sửa dạy ngươi, và nếu ngươi thường xuyên đi theo con đường của riêng mình, Ngài sẽ liên tục sửa dạy ngươi cho đến khi ngươi trở về con đường đúng đắn mới thôi. Cuối cùng, những gì Đức Chúa Trời làm đều đã làm xong, trong khi ngươi vẫn chưa đạt được yêu cầu của Đức Chúa Trời, vậy thì trách ai? Chỉ có thể oán trách chính mình, lúc đó con người sẽ phải đấm ngực đấm lưng, đau khổ khóc lóc. Điều quan trọng nhất về việc con người hiểu lẽ thật là gì? Đó là phải tiếp nhận lẽ thật, sau khi tiếp nhận thì có thể tìm kiếm lẽ thật, có thể liên hệ với cuộc sống hàng ngày, như vậy con người mới có thể từng bước đạt đến thực sự hiểu lẽ thật. Khi ngươi nghe giảng đạo và chỉ hiểu nghĩa đen mà đã cho rằng mình hiểu rồi, thì đó không phải thực sự hiểu lẽ thật, nghe hiểu thì chỉ là hiểu đạo lý. Sau khi nghe hiểu rồi còn phải liên hệ với tình trạng của mình, với lối vào của mình trong cuộc sống thực tế, đạt đến biết mình, có thể thực hành lẽ thật, đây mới là bước vào thực tế lẽ thật. Nếu ngươi không thực hành như vậy thì lẽ thật, lời Đức Chúa Trời không có quan hệ gì với ngươi, và Đức Chúa Trời cũng không có quan hệ gì với ngươi. Ngươi không thực hành lẽ thật thì ngươi sẽ không đạt được gì cả!
Ngày 11 tháng 10 năm 2018