Chỉ có tìm kiếm nguyên tắc lẽ thật thì mới có thể làm tròn bổn phận của mình (Phần 2)
Con người phải tiếp cận bổn phận của mình và tiếp cận Đức Chúa Trời bằng tấm lòng trung thực. Nếu làm được vậy, họ sẽ là người kính sợ Đức Chúa Trời. Những người có lòng trung thực thì có loại thái độ nào đối với Đức Chúa Trời? Chí ít, họ có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, lòng vâng phục Đức Chúa Trời trong mọi sự, họ không hỏi về phúc hay họa, không bàn đến điều kiện, và phó mặc bản thân cho sự sắp đặt của Ngài – đây là những người có lòng trung thực. Những người luôn hoài nghi về Đức Chúa Trời, luôn nghiên cứu Ngài, luôn cố giao dịch với Ngài – họ có phải là những người có lòng trung thực không? (Thưa, không.) Điều gì ẩn chứa trong lòng của những người như vậy? Sự giả dối và tà ác; họ luôn nghiên cứu. Và họ nghiên cứu điều gì? (Thưa, nghiên cứu thái độ của Đức Chúa Trời đối với con người.) Họ luôn nghiên cứu thái độ của Đức Chúa Trời đối với con người. Đây là vấn đề gì vậy? Và tại sao họ lại nghiên cứu điều này? Vì nó liên quan đến những lợi ích sống còn của họ. Trong thâm tâm, họ thầm nghĩ: “Đức Chúa Trời đã tạo ra những hoàn cảnh này cho mình, Ngài đã khiến điều này xảy ra với mình. Tại sao Ngài làm như vậy? Điều này đã không xảy ra với những người khác – tại sao nó phải xảy ra với mình? Và hậu quả về sau sẽ như thế nào?”. Đây là những điều họ nghiên cứu, họ nghiên cứu những điều được và mất, phúc và họa của mình. Và trong khi nghiên cứu những điều này, họ có thể thực hành lẽ thật không? Họ có thể vâng phục Đức Chúa Trời không? Họ không thể. Và những suy tư trong lòng họ mang tính chất ra sao? Về tính chất, tất cả những thứ này đều là sự cân nhắc lợi ích của riêng họ, đều vì bản thân họ. Dù thực hiện bổn phận gì, trước tiên họ cũng nghiên cứu: “Liệu mình có phải chịu khổ sở khi thực hiện bổn phận này không? Liệu mình có phải làm việc và đi xa thường xuyên không? Liệu mình có thể ăn uống và nghỉ ngơi đúng giờ không? Liệu mình có phải liên tục dậy sớm không? Mình sẽ gặp những loại người như thế nào? Mình có thường xuyên gặp những người ngoại đạo không? Thế giới bên ngoài hiện tại khá thù địch, nếu mình cứ phải làm việc và đi xa, mình sẽ làm gì nếu bị con rồng lớn sắc đỏ bắt giữ?”. Mặc dù họ có vẻ tiếp nhận bổn phận nhưng trong lòng họ lại có sự giả dối, họ luôn nghiên cứu những điều này. Thực ra, khi nghiên cứu những điều này, họ chỉ nghĩ đến tiền đồ và vận mệnh của bản thân, không hề nghĩ đến lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Và kết cục sẽ ra sao khi người ta chỉ cân nhắc tiền đồ, vận mệnh và lợi ích của riêng mình? Sẽ không dễ để họ vâng lời Đức Chúa Trời, và ngay cả khi họ muốn thế, họ cũng không thể. Những người đặc biệt trân quý tiền đồ, vận mệnh và lợi ích của mình thì luôn nghiên cứu liệu công tác của Đức Chúa Trời có lợi cho tiền đồ, vận mệnh của họ, có cho họ đạt được phước lành không. Cuối cùng, sự nghiên cứu của họ đem lại kết quả gì? Tất cả những gì họ làm là bất tuân và chống đối Đức Chúa Trời. Ngay cả khi họ có kiên trì thực hiện bổn phận của mình, họ cũng làm một cách rất bất cẩn và chiếu lệ, với tâm trạng tiêu cực; trong thâm tâm, họ không ngừng suy nghĩ về cách giành lợi thế, để không ở về phía thua thiệt. Đó là những động cơ của họ khi thực hiện bổn phận, và ở điểm này, họ đang cố gắng thực hiện đổi chác với Đức Chúa Trời. Đây là tâm tính gì vậy? Đây là sự giả dối, đây là một tâm tính tà ác. Đây không còn là một tâm tính bại hoại thông thường nữa, nó đã leo thang đến mức tà ác. Và khi có loại tâm tính tà ác này trong lòng người, thì đây là một sự đấu tranh chống lại Đức Chúa Trời. Ngươi nên rõ ràng về vấn đề này. Nếu mọi người luôn nghiên cứu Đức Chúa Trời và cố gắng đổi chác khi họ thực hiện bổn phận của mình, thì liệu họ có thể thực hiện một cách đúng đắn không? Tuyệt đối không. Họ không thờ phượng Đức Chúa Trời bằng tâm hồn mình, và với lòng trung thực, họ không có tấm lòng trung thực, họ theo dõi và chờ đợi khi thực hiện bổn phận của mình, luôn dè chừng – và kết cục là gì? Đức Chúa Trời không hoạt động trong họ, và họ trở nên ngu độn, họ không hiểu các nguyên tắc lẽ thật, và họ hành động theo những khuynh hướng của riêng mình, và luôn thất bại. Và tại sao họ luôn thất bại? Bởi vì lòng họ quá thiếu minh mẫn, và khi có chuyện xảy ra với họ, họ không phản tỉnh về bản thân mình, hay tìm kiếm lẽ thật để tìm cách giải quyết, và nhất quyết làm việc theo ý mình, theo sự ưa thích của riêng mình – kết quả là họ luôn hỏng việc khi thực hiện bổn phận. Họ không bao giờ nghĩ đến công tác của hội thánh, cũng như lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, họ luôn mưu tính cho lợi ích của riêng mình, họ luôn lên phương án cho lợi ích, thể diện và địa vị của riêng mình, và không chỉ thực hiện bổn phận một cách tồi tệ mà còn làm trì hoãn và ảnh hưởng đến công tác của hội thánh. Chẳng phải đây là đi chệch hướng và lơ là bổn phận của họ sao? Nếu ai đó luôn mưu toan cho những lợi ích và triển vọng của riêng mình khi thực hiện bổn phận, mà không màng đến công tác của hội thánh hay những lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, thì đây không phải là thực hiện bổn phận. Đây là luôn mưu đồ cho bản thân, làm mọi việc vì lợi ích của riêng mình và để được phước lành cho bản thân. Theo cách này, bản chất đằng sau việc thực hiện bổn phận của họ thay đổi. Đó chỉ là đổi chác với Đức Chúa Trời, và muốn sử dụng việc thực hiện bổn phận của mình để đạt được mục đích riêng. Cách làm việc này rất dễ gây gián đoạn công tác của nhà Đức Chúa Trời. Nếu nó chỉ gây ra những tổn thất nhỏ cho công tác của hội thánh thì vẫn có cơ hội chuộc lỗi và họ vẫn có thể được cho cơ hội thực hiện bổn phận của mình, thay vì bị thanh trừ; nhưng nếu nó gây tổn thất lớn cho công tác của hội thánh và hứng chịu cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời cũng như mọi người thì họ sẽ bị vạch trần và bị đào thải, không còn cơ hội thực hiện bổn phận của mình nữa. Một số người bị cách chức và bị đào thải theo cách này. Tại sao họ bị đào thải? Các ngươi đã tìm ra nguyên nhân gốc rễ chưa? Nguyên nhân gốc rễ là họ luôn cân nhắc được mất của bản thân, bị kích động bởi tư lợi, không thể từ bỏ xác thịt, và không hề có thái độ quy phục Đức Chúa Trời, vì vậy họ có xu hướng làm xằng làm bậy. Họ tin Đức Chúa Trời chỉ để đạt được lợi ích, ân điển và phước lành, hoàn toàn không phải là để đạt được chút lẽ thật nào, vì vậy đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời là thất bại. Đây là gốc rễ của vấn đề. Các ngươi có nghĩ rằng thật bất công khi họ bị vạch trần và bị đào thải không? Không hề bất công chút nào, đó hoàn toàn là do bản tính của họ quyết định. Bất cứ ai không yêu lẽ thật hoặc không mưu cầu lẽ thật cuối cùng đều sẽ bị vạch trần và đào thải. Nhưng những ai yêu lẽ thật thì khác. Khi gặp chuyện, trước hết họ nghĩ rằng: “Mình có thể hành động thế nào để tương hợp với lẽ thật? Mình nên hành động thế nào để không làm tổn hại lợi ích nhà Đức Chúa Trời? Điều gì sẽ làm thỏa lòng Đức Chúa Trời?”. Người nghĩ như thế là người đang tìm kiếm lẽ thật. Những suy nghĩ đó chứng tỏ họ yêu lẽ thật. Họ không nghĩ về lợi ích bản thân trước hết, mà họ quan tâm đến lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Họ không quan tâm đến sự thỏa mãn của bản thân mà quan tâm đến việc Đức Chúa Trời có thỏa lòng hay không. Đây là suy nghĩ và tâm thái của những người yêu lẽ thật, và họ là những người được Đức Chúa Trời yêu mến. Nếu gặp chuyện mà họ có thể thực hành theo các nguyên tắc lẽ thật, tiếp nhận sự dò xét của Đức Chúa Trời, có Đức Chúa Trời là người bảo lãnh đứng sau họ, vậy thì họ không dễ phạm sai lầm khi thực hiện bổn phận, và họ sẽ dễ thực hiện bổn phận hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Nếu người ta luôn hành động theo đề xướng riêng của mình, âm mưu, lên kế hoạch, tính toán cho lợi ích bản thân, nếu người ta không quan tâm lợi ích nhà Đức Chúa Trời hay ý định của Đức Chúa Trời, không hề có chút ý muốn vâng phục sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời – nếu như họ thậm chí không có ý muốn làm thế – thì kết cục cuối cùng sẽ thế nào đây? Họ sẽ thường xuyên gây nhiễu loạn và gián đoạn công tác của hội thánh. Họ sẽ kích động sự căm phẫn trong dân được Đức Chúa Trời chọn, bị dân được Đức Chúa Trời chọn khinh miệt và ghét bỏ, trong những trường hợp nghiêm trọng, họ sẽ bị phơi bày và đào thải. Những người luôn có tham vọng và dục vọng chắc chắn sẽ thất bại và vấp ngã. Như có câu nói: “Leo càng cao, ngã càng đau”. Đây được gọi là gì? Gọi là bị phơi bày. Bị như thế không đáng đời sao? Dạng người này có đáng được cảm thông không? Không. Đây là kết cục cuối cùng cho những ai tính toán cho lợi ích bản thân. Có người nói rằng: “Nhưng tôi luôn tính toán cho lợi ích bản thân. Sao tôi chẳng gặp phải dạng kết cục này?” Đó là vì ngươi chưa gây ảnh hưởng đến công tác của hội thánh, nên Đức Chúa Trời chưa nặng tay với ngươi. Đức Chúa Trời không nặng tay với ngươi, như thế là chuyện tốt hay chuyện xấu? (Thưa, là chuyện xấu.) Tại sao ngươi lại nói thế? (Thưa, nếu con cứ tiếp tục như vậy, thì con sẽ không thể đạt được công tác của Đức Thánh Linh.) Đúng thế. Nếu người ta không mưu cầu lẽ thật, không trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời, thì sẽ không có công tác của Đức Thánh Linh. Điều này đặc biệt đúng với những ai mà Đức Chúa Trời không sửa dạy bất kể họ làm chuyện xấu xa gì, mọi chuyện coi như đã hoàn toàn chấm hết với họ rồi. Đức Chúa Trời chắc chắn không muốn những người này, Ngài gạt họ sang một bên. Nếu không mưu cầu lẽ thật thì ngươi không có sự sống. Cũng như những người luôn mưu cầu danh lợi và địa vị, không mưu cầu lẽ thật, không bao giờ ngươi thấy họ thực hành lẽ thật, những người này có sự trưởng thành sự sống nào không? Vì không thực hành lẽ thật, họ sẽ không có sự trưởng thành sự sống, bất kể họ đã tin Đức Chúa Trời bao nhiêu năm đi nữa. Có những người ngày hôm nay vẫn nói những chuyện như cách đây ba năm, vẫn nói những câu chữ giáo lý như cũ. Những người này coi như xong rồi. Không thấy được chút trưởng thành nào trong vóc giạc hay sự biết mình của họ. Đức tin của họ vào Đức Chúa Trời vẫn như cũ và tâm tính sự sống của họ chẳng hề có chút thay đổi nào. Những hiểu lầm của họ đối với Đức Chúa Trời ngày càng tăng, những tâm tính bại hoại chống đối Đức Chúa Trời của họ ngày càng nghiêm trọng. Như thế chẳng phải càng nguy hiểm hơn sao? Quả thật là nguy hiểm hơn, và chắc chắn họ sẽ bị đào thải.
Thường khi trải nghiệm những chuyện có liên quan đến bổn phận hoặc những tâm tính bại hoại của mình, các ngươi có thể phát hiện ra những vấn đề tồn tại trong mình thông qua việc kiểm điểm bản thân hay không? (Thưa, hiện giờ, con có thể phát hiện được đôi chút. Trong quá trình thực hiện bổn phận, con luôn muốn làm người nắm quyền và có tiếng nói quyết định, con muốn phô trương để mọi người coi trọng con. Nhưng sau khi được các anh chị em chỉ ra chuyện này, con đã phản tỉnh bản thân và biết được đôi chút về bản tính kiêu ngạo của mình.) Ngươi có thể nhận ra sự kiêu ngạo của mình – vậy sự quy phục Đức Chúa Trời của ngươi có gia tăng không? Ý định và mong muốn vâng phục của ngươi có gia tăng không? Đức tin của ngươi vào Đức Chúa Trời có gia tăng không? (Thưa, có gia tăng chút ít.) Thực hiện bổn phận mà không tìm kiếm lẽ thật thì không ổn, gặp vấn đề mà không dùng lẽ thật để giải quyết thì cũng không ổn. Nếu ngươi luôn thực hiện bổn phận theo ý riêng mình và theo các triết lý của Sa-tan, thì ngươi không chỉ không giải quyết được vấn đề bộc lộ sự bại hoại của mình, mà đức tin của ngươi vào Đức Chúa Trời, sự vâng phục và tình yêu dành cho Ngài cũng sẽ không gia tăng. Nếu ngươi không tiếp nhận lẽ thật và không dùng lẽ thật để giải quyết các vấn đề của mình, thì ngươi sẽ không bao giờ trưởng thành trong sự sống, không bao giờ có thể giải quyết vấn đề về sự bại hoại của mình. Hiện tại, những tâm tính bại hoại mà các ngươi bộc lộ khi thực hiện bổn phận là gì? Vẫn còn những uế tạp nào của con người? Ngươi phải thường xuyên phản tỉnh bản thân để phát hiện những vấn đề này. Không kiểm điểm bản thân thì không thể biết những điều này. Đôi lúc, chỉ khi nghe người khác nói về sự biết mình của họ, ngươi mới cảm thấy bản thân mình cũng như thế. Nếu không nghe người khác phơi bày tình trạng của họ, ngươi sẽ không thể phát hiện vấn đề của mình. Có nhiều người rất sẵn lòng nghe lời chứng trải nghiệm của người khác, chính xác là bởi họ có được lợi ích và thu hoạch từ đó. Càng kiểm điểm kỹ càng, càng biết thấu đáo những tâm tính bại hoại, những ý định và ý đồ của mình, thì ngươi càng có thể buông bỏ chúng, và đức tin của ngươi để thực hành lẽ thật sẽ càng mạnh hơn. Đức tin để thực hành lẽ thật của ngươi càng mạnh, thì ngươi càng dễ đưa lẽ thật vào thực hành. Khi thường xuyên thực hành lẽ thật, ngươi sẽ có thể thực hiện bổn phận một cách thuần khiết hơn và đạt tiêu chuẩn hơn. Đây là quá trình trưởng thành sự sống, đây là hoa trái của sự phản tỉnh và biết mình. Có những người nghĩ rằng vì họ đã nghe giảng nhiều năm, đã hiểu nhiều câu chữ giáo lý, nên họ không còn tâm tính bại hoại, như thể họ không cần phản tỉnh và đạt được sự biết mình. Họ luôn tin rằng chỉ có những tân tín hữu mới cần phải chú trọng phản tỉnh và biết mình, còn đã tin Đức Chúa Trời nhiều năm, có nhiều hành vi tốt thì nghĩa là họ đã thay đổi và không có tâm tính bại hoại. Suy nghĩ như thế là hiểu lầm nghiêm trọng. Nếu ngươi nghĩ mình đã thay đổi rồi, vậy ngươi có thể đưa bao nhiêu lẽ thật vào thực hành? Ngươi có được bao nhiêu lời chứng trải nghiệm đích thực? Ngươi có thể nói về chúng không? Ngươi có thể làm chứng về Đức Chúa Trời trước mặt người khác không? Nếu ngươi không thể nói về điều đó, thì chứng tỏ ngươi không có lời chứng trải nghiệm và không có thực tế lẽ thật. Vậy thì người như ngươi có thể thật sự thay đổi sao? Ngươi là người đã thật sự ăn năn sao? Đây là chuyện không thể không hoài nghi. Một người không bao giờ phản tỉnh, không bao giờ nỗ lực biết mình, thì làm sao có lối vào sự sống được chứ? Một người không bao giờ nói về sự biết mình thì làm sao có thể chia sẻ lời chứng trải nghiệm chân thực được chứ? Đây là những chuyện bất khả thi. Nếu như có người tin rằng mình đã thật sự thay đổi và không cần phải biết mình, thì có thể nói rằng đó là một người giả hình. Có người chỉ làm cho có trong khi thực hiện bổn phận, tin rằng làm vừa đủ là chấp nhận được rồi, rằng nhìn bên ngoài có vẻ tàm tạm thì nghĩa là bổn phận của họ đã được thực hiện đạt tiêu chuẩn. Cách làm việc này không phải là bất cẩn và chiếu lệ sao? Người như thế này mà thật sự quy phục Đức Chúa Trời sao? Dạng người này thực hiện bổn phận mà không hề có bất kỳ nguyên tắc lẽ thật nào, họ hài lòng với chuyện đơn thuần làm nhiệm vụ và bỏ công sức, rồi họ nghĩ rằng bổn phận của mình đã được thực hiện đạt tiêu chuẩn rồi. Thật ra, họ chỉ vừa đủ để làm những kẻ phục vụ, chứ không phải thực hiện bổn phận đạt tiêu chuẩn. Những người chỉ đơn thuần dâng sự phục vụ đạt tiêu chuẩn mà đã hài lòng, thì sẽ không bao giờ đạt được lẽ thật hay sự thay đổi tâm tính. Bất kỳ ai không thực hiện bổn phận theo các yêu cầu của Đức Chúa Trời, không tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật, cứ hành động theo ý riêng của mình, thì chỉ đang đơn thuần dâng sự phục vụ và bỏ công sức. Hiện tại, các ngươi đang ở giai đoạn nào? (Thưa, con vẫn trong giai đoạn dâng sự phục vụ.) Hầu hết thời gian, các ngươi đang dâng sự phục vụ; đôi khi các ngươi có thể nỗ lực vì lẽ thật trong lúc thực hiện bổn phận và có chút vâng phục, nhưng các ngươi có thường làm được như vậy không? (Thưa, không thường xuyên.) Mưu cầu lẽ thật là để giải quyết vấn đề này. Ngươi phải dốc sức để việc thực hiện bổn phận ngày càng tăng và việc dâng sự phục vụ ngày càng giảm, phải nỗ lực biến mọi việc dâng sự phục vụ của ngươi trở thành việc thực hiện bổn phận. Đâu là sự khác biệt giữa dâng sự phục vụ và thực hiện bổn phận? Kẻ dâng sự phục vụ thì muốn gì làm nấy, nghĩ rằng chỉ cần không chống đối Đức Chúa Trời, không xúc phạm tâm tính Ngài là được, nghĩ rằng chỉ cần làm cho có và không bị ai truy cứu là chấp nhận được rồi. Họ không để tâm đến việc đạt được sự biết mình, làm người trung thực, làm việc theo các nguyên tắc lẽ thật, vâng phục sự an bài của Đức Chúa Trời, lại càng không để tâm đến việc bước vào thực tế lẽ thật. Mọi chuyện này, họ đều không để tâm đến. Đây chính là dâng sự phục vụ. Dâng sự phục vụ là bỏ công sức không ngừng, là lao động như nô lệ, làm từ sáng đến tối, bỏ công sức kiểu như vậy đấy. Nếu ngươi hỏi một kẻ phục vụ tại sao họ làm việc như trâu ngựa suốt bao năm qua, họ sẽ trả lời: “Để nhận lãnh phước lành!”. Nếu ngươi họ hỏi sau khi đã tin Đức Chúa Trời nhiều năm, những tâm tính bại hoại của họ đã có thay đổi chút nào chưa, họ đã có được xác quyết về sự hiện hữu của Đức Chúa Trời chưa, đã có được nhận thức và trải nghiệm thực sự nào về sự sắp đặt và an bài của Đấng Tạo Hóa chưa, thì những chuyện này, họ chưa đạt được gì cả và cũng không thể nói gì về chúng. Họ chưa bước vào, cũng chưa cải thiện về bất kỳ chỉ tiêu nào liên quan đến sự trưởng thành sự sống và sự biến đổi tâm tính. Họ chỉ chăm chăm dâng sự phục vụ mà không hiểu sự thay đổi tâm tính là gì. Có người dâng sự phục vụ nhiều năm mà chẳng hề thay đổi chút nào. Khi gặp phải khó khăn, họ vẫn thường xuyên tiêu cực, oán trách và bộc lộ những tâm tính bại hoại. Khi bị tỉa sửa và xử lý, họ tranh cãi và ngụy biện, không thể tiếp nhận dù chỉ một chút lẽ thật và không hề quy phục Đức Chúa Trời chút nào. Cuối cùng, họ bị tước tư cách thực hiện bổn phận của mình. Có người khi thực hiện bổn phận thì làm rối ren cả lên, lại còn không tiếp nhận sự phê bình, mà cứ vô liêm sỉ nói rằng mình chẳng làm gì sai, tuyệt nhiên không có chút ăn năn nào. Cuối cùng, khi nhà Đức Chúa Trời tước bổn phận của họ và đuổi họ đi, thì họ rời địa điểm thực hiện bổn phận của mình trong nước mắt và oán trách. Họ bị đào thải như vậy đấy. Đây chính là cách bổn phận phơi bày triệt để người ta. Người ta thường nói cho hay và hô hào khẩu hiệu cho to, nhưng tại sao khi đảm nhận bổn phận, họ không hành động như con người mà lại trở thành ma quỷ? Đây là bởi những con người không có nhân tính thì đi đâu cũng là ma quỷ, và khi không tiếp nhận lẽ thật thì họ không thể đứng vững ở bất kỳ đâu. Có những người thường xuyên thực hiện bổn phận một cách bất cẩn và chiếu lệ, khi bị xử lý và tỉa sửa thì họ tranh cãi và lý sự. Sau khi bị tỉa sửa nhiều lần, họ cảm thấy có mong muốn ăn năn, nên họ bắt đầu áp dụng những phương pháp kiềm chế bản thân. Nhưng mà, cuối cùng họ không kiềm chế được bản thân, dù họ có thề hứa hay rủa sả chính mình, cũng chẳng ích gì, và họ vẫn không giải quyết được vấn đề bất cẩn và chiếu lệ hay vấn đề tranh cãi ngụy biện của mình. Chỉ sau khi cuối cùng tất cả mọi người bắt đầu khinh ghét và phê bình họ thì họ mới cảm thấy mình buộc phải thừa nhận rằng: “Đúng là mình có những tâm tính bại hoại. Mình muốn ăn năn nhưng không thể. Khi thực hiện bổn phận, mình luôn quan tâm lợi ích, thể diện và danh tiếng của bản thân, chúng khiến mình thường xuyên phản nghịch với Đức Chúa Trời. Mình muốn thực hành lẽ thật, nhưng lại không thể buông bỏ ý định và ham muốn của mình, không thể nào rũ bỏ chúng. Mình luôn muốn làm mọi chuyện theo ý riêng, bày mưu lập kế để tránh việc, tham muốn an nhàn và hưởng thụ. Khi bị xử lý và tỉa sửa, mình không thể tiếp nhận và luôn cố tranh cãi để thoát tội. Mình nghĩ rằng mình bỏ công sức và chịu gian khổ là đủ tốt rồi, nên khi bị ai xử lý, mình dùng cách tranh cãi và ngụy biện, cảm thấy không phục. Mình thật sự là một ca quá khó! Mình phải tìm kiếm tìm lẽ thật để giải quyết những vấn đề này như thế nào đây?”. Họ bắt đầu suy ngẫm những chuyện này. Như thế nghĩa là họ đã có đôi chút hiểu biết về cách hành động phải có của con người, cũng như có được đôi chút lý trí. Nếu đến lúc nào đó, kẻ phục vụ bắt đầu chuyên tâm đến công việc chính đáng của mình, chú trọng thay đổi tâm tính, nhận ra rằng họ có quá nhiều tâm tính bại hoại, quá kiêu ngạo và không thể vâng phục Đức Chúa Trời, nhận ra rằng nếu cứ tiếp tục như thế thì không ổn – khi họ bắt đầu nghĩ về những chuyện này và cố gắng để thấu hiểu, khi họ có thể tìm kiếm lẽ thật để đối diện với những vấn đề mà họ phát hiện ra, thì đây có phải là bắt đầu xoay chuyển rồi không? Nếu họ bắt đầu xoay chuyển, thì họ vẫn còn hy vọng thay đổi được. Nhưng nếu họ không bao giờ dự định mưu cầu lẽ thật, nếu họ không có mong muốn phấn đấu vì lẽ thật và chỉ biết bỏ công sức làm việc, tin rằng hoàn thành công việc đang đảm nhận là đã chu toàn nhiệm vụ và hoàn thành sự ủy thác của Đức Chúa Trời rồi – nếu họ tin rằng bỏ công sức nghĩa là họ đã làm bổn phận rồi mà chẳng hề quan tâm đến yêu cầu của Đức Chúa Trời là gì hay lẽ thật là gì, cũng không quan tâm họ có phải là người vâng phục Đức Chúa Trời không, nếu họ không bao giờ cố nghĩ cho thông mọi chuyện này – nếu đây là cách họ đối xử với bổn phận của mình, thì liệu họ có thể đạt được sự cứu rỗi không? Họ không thể. Căn bản là họ vẫn chưa dấn bước trên con đường của sự cứu rỗi, chưa bước đi con đường đúng đắn trong đức tin vào Đức Chúa Trời, chưa xây dựng mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Họ vẫn còn đang chỉ bỏ công sức và dâng sự phục vụ trong nhà Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời cũng dõi theo và bảo vệ những người như thế khi họ dâng sự phục vụ trong nhà Ngài, nhưng Ngài không dự tính cứu rỗi họ. Đức Chúa Trời không xử lý, tỉa sửa, phán xét, hành phạt, thử luyện hay tinh luyện họ, Ngài chỉ cho phép họ đạt được chút phúc lành trong đời này, và chỉ có thế thôi. Khi những người này biết phản tỉnh và đạt được sự biết mình, biết được tầm quan trọng của việc thực hành lẽ thật, thế nghĩa là họ đã hiểu được những bài giảng họ nghe và cuối cùng cũng có được chút kết quả. Rồi họ nghĩ: “Tin Đức Chúa Trời thật quá tuyệt vời. Lời Ngài thật sự có thể thay đổi con người! Với mình, điều cấp bách nhất lúc này là mưu cầu để đạt được lẽ thật. Nếu không chú trọng biết mình hay loại bỏ những tâm tính bại hoại của mình, mà cứ hài lòng với việc dâng sự phục vụ đơn thuần, thì mình sẽ không đạt được gì cả”. Vậy là người này bắt đầu ngẫm nghĩ: “Mình có những tâm tính bại hoại nào? Làm sao để mình biết chúng? Làm sao để mình giải quyết những tâm tính bại hoại này đây?”. Những suy ngẫm của họ về những chuyện này liên quan đến việc hiểu lẽ thật và sự thay đổi tâm tính, thế là họ có hy vọng được cứu rỗi. Nếu người ta có thể phản tỉnh và biết mình thông qua bổn phận, nếu họ có thể tìm kiếm lẽ thật, nỗ lực để đáp ứng những yêu cầu của Đức Chúa Trời và giải quyết những tâm tính bại hoại của mình, thì họ đã bước lên con đường đúng đắn trong đức tin vào Đức Chúa Trời. Khi không ngừng suy ngẫm những chuyện này và vươn tới lẽ thật, họ sẽ được Đức Chúa Trời khai sáng, soi sáng và hướng dẫn. Như thế, họ sẽ có thể tiếp nhận việc bị Đức Chúa Trời xử lý và tỉa sửa, và không lâu sau đó, họ có thể sẽ được phán xét và hành phạt, thử luyện và tinh luyện. Đức Chúa Trời sẽ bắt đầu công tác trên họ, làm tinh sạch và biến đổi họ.
Có người nói: “Tôi đã tin Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận nhiều năm rồi, nhưng tôi chưa hề bị tỉa sửa và xử lý, chưa được khai sáng hay soi sáng, lại càng không bị thử luyện và tinh luyện”. Người như thế có đang trải nghiệm công tác của Đức Chúa Trời không? Nếu họ thật sự có thể trải nghiệm và thực hành lời Đức Chúa Trời, sao họ chưa được khai sáng hay soi sáng vậy? Nếu họ thường xuyên bộc lộ sự bại hoại, chắc chắn họ sẽ bị tỉa sửa và xử lý. Nếu sau khi bị tỉa sửa và xử lý mà họ không ăn năn, chắc chắn là họ không có chút nhân tính nào, và họ là những đối tượng nên bị đào thải. Có người nói: “Tôi thường xuyên trải nghiệm bị tỉa sửa và xử lý, thường xuyên nhận được sự khai sáng và soi sáng của Đức Chúa Trời, đạt được sự sáng mới”. Đây là chuyện gì? (Thưa, là Đức Chúa Trời đang dẫn dắt họ.) Lại có người nói: “Những người khác, chuyện gì cũng êm đẹp, sao tôi không được như họ? Họ luôn có phước lành của Đức Chúa Trời, sống như em bé trong nôi, không phải dầm mưa dãi nắng gì cả. Tại sao tôi thì luôn bị thử luyện và tinh luyện vậy?” Luôn được thử luyện và tinh luyện là chuyện tốt hay chuyện xấu? (Thưa, là chuyện tốt.) Nó là chuyện tốt, không phải chuyện xấu. Khi thử luyện và tinh luyện người ta, mục đích của Đức Chúa Trời là gì? (Thưa, là để cho họ bắt đầu biết những tâm tính bại hoại của mình.) Đức Chúa Trời không làm thế để hành hạ hay giày vò người ta, Ngài làm thế để cho người ta bắt đầu biết những tâm tính bại hoại của mình và thấy rõ thực chất cũng như chân tướng sự bại hoại của mình, để từ đó họ có thể buông bỏ những ý định và ý đồ của mình, đạt được sự vâng phục Đức Chúa Trời. Khi đó, họ không phải dâng sự phục vụ mà là đang thực hiện bổn phận của mình. Khi ngươi thành tâm và chính thức thực hiện bổn phận của một loài thọ tạo, mối quan hệ của ngươi với Đức Chúa Trời trở nên bình thường, tạo nên sự đảo ngược mối quan hệ bất thường trước đây của ngươi với Ngài. Nếu mối quan hệ giữa ngươi và Đức Chúa Trời là mối quan hệ giữa người làm và ông chủ, thì ngươi không thể nhận được sự cứu rỗi. Nếu ngươi tiếp nhận sự ủy thác của Đức Chúa Trời, có thể vâng phục sự sắp xếp của nhà Đức Chúa Trời, có trách nhiệm và nghiêm túc với việc làm tròn bổn phận, thì mối quan hệ giữa ngươi với Đức Chúa Trời sẽ bình thường. Ngươi sẽ là một loài thọ tạo, sẽ có thể quy phục sự an bài của Đấng Tạo Hóa và trong lòng ngươi tiếp nhận Đức Chúa Trời là Đấng Cứu Thế, ngươi sẽ là đối tượng cứu rỗi của Ngài. Mối quan hệ giữa ngươi với Ngài sẽ đạt đến mức độ này. Nhưng nếu ngươi luôn làm việc phục vụ đơn thuần, dù Đức Chúa Trời giao phó sự ủy thác nào cho ngươi đi nữa, nếu ngươi luôn thực hiện với một thái độ bất cẩn và chiếu lệ, không tiếp nhận các nguyên tắc lẽ thật, không có sự vâng phục thực sự, chỉ biết bỏ công sức làm việc, làm gì cũng làm cho có, vậy thì ngươi đích thị là một kẻ phục vụ. Bởi vì những kẻ phục vụ không tiếp nhận lẽ thật, không bao giờ có chút thay đổi dù là nhỏ nhất nào, nên mối quan hệ giữa họ với Đức Chúa Trời luôn mãi là mối quan hệ giữa người làm và ông chủ. Họ sẽ không bao giờ thật sự quy phục Đức Chúa Trời, và Ngài sẽ không công nhận họ là người tin Ngài hay người thuộc về Ngài. Đây là hậu quả của việc họ tin Đức Chúa Trời mà không mưu cầu lẽ thật, và chuyện này được định đoạt bởi con đường mà họ đi. Nếu muốn cải thiện mối quan hệ với Đức Chúa Trời, thì ngươi phải làm gì? (Thưa, là đi con đường mưu cầu lẽ thật.) Đúng vậy. Ngươi phải đi con đường mưu cầu lẽ thật. Trước hết, ngươi phải làm gì? (Thưa, con phải hiểu được cách thực hiện bổn phận của mình.) Người tin Đức Chúa Trời thì phải đảm nhận bổn phận, đây là yêu cầu của Đức Chúa Trời. Đi theo Đức Chúa Trời hàm ý là thực hiện bổn phận của mình, những ai tin Đức Chúa Trời mà không thực hiện bổn phận thì không phải là đi theo Đức Chúa Trời. Nếu muốn đi theo Đức Chúa Trời, ngươi phải làm tròn bổn phận. Khi thực hiện bổn phận, ngươi phải thực hành phương diện lẽ thật nào trước hết? (Thưa, là lẽ thật về sự vâng phục.) Đúng thế. Có người nói: “Bổn phận hiện tại của tôi là thế này. Tôi phải chăm chỉ học tập và có bước đột phá trong việc học tiếng Anh, rồi thi TOEFL hoặc lấy bằng tiến sĩ trong vài năm tới. Rồi tôi sẽ có thể nên người xuất chúng trong thế gian, hoặc có thể làm tốt trong nhà Đức Chúa Trời và sau này trở thành lãnh đạo”. Chẳng phải những người này chỉ đang mưu đồ cho bản thân mình sao? (Thưa, phải.) Luôn tính toán và sắp xếp cho xác thịt của mình, sắp xếp không chỉ những chuyện trong cuộc đời mình mà còn cho cả chuyện sau khi chết nữa, đây là lối suy nghĩ của người ngoại đạo. Người ngoại đạo suy nghĩ như thế này trong cuộc sống thường nhật là chuyện bình thường, bởi vì họ không thừa nhận sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, nên họ chỉ có thể nghĩ về xác thịt và chỉ quan tâm đến sự sinh tồn của mình, giống như các loài động vật. Nhưng người tin Đức Chúa Trời thì đọc lời Ngài mỗi ngày và hiểu lẽ thật, nên họ phải biết được ý nghĩa của việc thực hiện bổn phận và lý do phải làm thế. Họ phải thấy rõ những chuyện này, chúng có liên quan trực tiếp đến con đường người ta đi trong đức tin vào Đức Chúa Trời. Người ta phải quy phục công tác của Đức Chúa Trời và trải nghiệm lời Ngài như thế nào để hiểu lẽ thật và đạt được sự thay đổi tâm tính, những phương diện nào của lẽ thật mà họ phải đạt được để làm tròn bổn phận và vâng phục Đức Chúa Trời, người ta phải tiếp nhận sự phán xét và hình phạt của Đức Chúa Trời như thế nào để những tâm tính bại hoại của họ có thể được làm tinh sạch – hiểu lẽ thật liên quan đến những chuyện này là điều còn cần thiết hơn nữa. Đây là con đường mà người ta phải đi trong đức tin vào Đức Chúa Trời. Chỉ khi mưu cầu lẽ thật như thế này thì người ta mới có thể làm tròn bổn phận và tiếp nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời muốn cứu rỗi và hoàn thiện những người mưu cầu lẽ thật như thế này. Khi hoàn thành công tác cứu rỗi của mình, Đức Chúa Trời muốn thu phục một vài cá nhân như thế. Nếu người ta chỉ nghĩ cách để trở nên xuất chúng, để trở thành lãnh đạo lỗi lạc, nghĩ đến chuyện sẽ quản lý bao nhiêu người, cuối cùng sẽ cai quản bao nhiêu thành phố, thì đây chính là tham vọng và dục vọng. Người này cùng một loại với những kẻ địch lại Đấng Christ, mọi kẻ địch lại Đấng Christ đều mưu đồ để đạt được những thứ này. Mưu đồ để đạt những thứ này thì có chính đáng không? (Thưa, không.) Biết là không chính đáng, liệu họ có thể buông bỏ chúng không? (Thưa, sẽ không dễ dàng.) Trong những hoàn cảnh bình thường, người ta hành động theo những ý đồ riêng để đạt được những mục đích của mình. Trong mọi việc ngươi làm, ngươi có hành động để đạt được mục đích của mình không, hay là ngươi phản tỉnh bản thân, tìm kiếm lẽ thật, buông bỏ những mục đích và mưu đồ của mình, rồi chọn bước đi con đường mưu cầu lẽ thật? Con đường đúng đắn là gì? (Thưa, là không ngừng từ bỏ bản thân và hành động theo những yêu cầu của Đức Chúa Trời.) Sự mưu cầu của dạng người nào thì có khả năng đạt được điều này? Chỉ những ai có tâm địa thiện lương, tâm linh trung thực và chính trực thì mới có thể đạt được. Những người giả dối, cương ngạnh và tà ác, không yêu lẽ thật thì không thể đạt được. Họ biết con đường mình đi không phải là con đường đúng đắn, mà là con đường sai lầm của Phao-lô, và biết chắc chắn họ sẽ không nhận được sự cứu rỗi, vậy tại sao họ không bước đi con đường đúng đắn? Bởi vì họ không kiểm soát nổi bản thân. Chuyện này hoàn toàn do bản tính của họ quyết định. Giống như chuyện hai người có tố chất như nhau, đã tin Đức Chúa Trời lâu năm như nhau, nghe những bài giảng như nhau và thực hiện bổn phận như nhau, nhưng họ lại đi những con đường khác nhau. Chỉ qua vài năm là họ đi những con đường riêng, một người thì bị đào thải, một người thì được giữ lại. Một người thì có lòng trung thực và chính trực, yêu lẽ thật và bước đi con đường mưu cầu lẽ thật. Kể cả khi bị ai đó mê hoặc và lôi kéo đi vào tà đạo, thì họ có đi theo không? Họ sẽ không đi theo. Chắc chắn họ sẽ cự tuyệt. Họ có thể tìm kiếm lẽ thật, hành động theo các yêu cầu của Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận ngày một tốt hơn. Còn người kia thì tương đối tà ác và giả dối. Họ mưu cầu địa vị và tham vọng của họ quá lớn. Cho dù được thông công về lẽ thật như thế nào, họ cũng không từ bỏ việc mưu cầu địa vị. Đây là vấn đề về bản tính của họ. Với người không tiếp nhận lẽ thật và không thể nào từ bỏ địa vị này, kết cục của họ sẽ thế nào? Họ sẽ bị đào thải. Kết cục của hai người này rõ ràng là khác nhau. Người có lòng trung thực và mưu cầu lẽ thật thì ngày càng hiểu thêm về lẽ thật, hiểu rất rõ ràng, dần dần tương hợp với ý muốn của Đức Chúa Trời. Còn người không mưu cầu lẽ thật thì chỉ có thể hiểu giáo lý, không thể đưa lẽ thật vào thực hành. Tại sao họ không thể đưa lẽ thật vào thực hành? Vì tham vọng và dục vọng của họ quá lớn, họ không thể buông bỏ chúng. Họ làm việc gì cũng ưu tiên những lợi ích, tham vọng, dục vọng, danh lợi và địa vị của mình trên hết. Những thứ này lấp đầy trong họ và họ bị cuốn theo chúng. Khi gặp chuyện, họ thỏa mãn xác thịt và những dục vọng của mình trước hết. Họ làm gì cũng theo những dục vọng của mình, theo đuổi mục tiêu này và gạt lẽ thật sang một bên. Kết quả là họ không làm tròn bổn phận và biến công tác thành mớ rối ren, cuối cùng họ bị đào thải. Chẳng phải đây chính là những người mà nhà Đức Chúa Trời đào thải sao? Vậy họ không còn hy vọng gì nữa sao? Nếu có thể thật lòng ăn năn, thì họ có thể tránh khỏi chuyện bị đào thải và sẽ có hy vọng cứu rỗi cho họ. Nhưng nếu lòng họ vẫn cứ cương ngạnh, thiết tha bám chặt vào những dục vọng của mình, như con chó dữ cắn chặt khúc xương, vậy thì hoàn toàn không có hy vọng họ sẽ nhận được sự cứu rỗi. Nếu không bước đi con đường đúng đắn thì người ta không thể đạt được lẽ thật! Chỉ có con đường mưu cầu lẽ thật mới là con đường đúng đắn. Chỉ có bước đi con đường này thì người ta mới đạt được lẽ thật. Chỉ có mưu cầu lẽ thật thì người ta mới có hy vọng đạt được sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
Lòng dạ của những người giả dối và tà ác đầy những tham vọng, kế hoạch và mưu đồ cá nhân. Những thứ này có dễ dàng gạt sang một bên không? (Thưa, không.) Ngươi nên làm gì nếu vẫn muốn thực hiện bổn phận của mình một cách đúng đắn nhưng lại không thể gạt những điều này sang một bên? Ở đây có một con đường: ngươi phải hiểu rõ bản chất điều mình đang làm. Nếu điều gì đó liên quan đến lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, và có tầm quan trọng lớn lao, thì ngươi không được trì hoãn, phạm sai lầm, làm tổn hại đến những lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, hoặc làm nhiễu loạn công tác của nhà Đức Chúa Trời. Đây là nguyên tắc mà ngươi nên tuân theo khi thực hiện bổn phận. Nếu ngươi muốn tránh gây tổn hại cho lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, thì trước tiên hãy gạt những tham vọng và ham muốn của mình sang một bên; lợi ích của ngươi phải phần nào bị tổn hại, phải gạt chúng sang một bên, thà chịu chút gian khổ còn hơn là xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời, đó là ranh giới không được vượt qua. Nếu ngươi làm hỏng công việc hội thánh hòng để thỏa mãn những tham vọng và sự phù phiếm vụn vặt của mình, thì hậu quả cuối cùng đối với ngươi sẽ là gì? Ngươi sẽ bị cách chức, và có thể bị đào thải. Ngươi sẽ chọc giận tâm tính Đức Chúa Trời, và có thể không còn bất kỳ cơ hội được cứu rỗi nào nữa. Số cơ hội mà Đức Chúa Trời ban cho con người là có hạn. Con người có bao nhiêu cơ hội được Đức Chúa Trời kiểm nghiệm? Điều này được xác định tùy theo bản chất của họ. Nếu ngươi tận dụng tối đa các cơ hội được ban, nếu ngươi có thể buông bỏ thể diện và hư vinh của mình, ưu tiên làm tốt công tác của hội thánh, thì ngươi có tâm thái đúng đắn rồi. Lòng ngươi phải chính trực, không ngả nghiêng sang trái cũng không ngả nghiêng sang phải. Khi có những ý định sai trái, ngươi phải nhanh chóng cầu nguyện và xoay chuyển chúng. Ngươi phải bảo vệ lợi ích nhà Đức Chúa Trời trong những thời điểm then chốt và hoàn thành những nhiệm vụ của mình. Người làm được như thế là một người đúng đắn. Nếu đôi lúc, sau khi làm xong việc gì đó, ngươi vội nói lên: “Chính tôi làm việc này đấy”, chỉ để thỏa mãn thói hư vinh của mình, thì cũng không sao. Đức Chúa Trời sẽ cho phép chuyện đó. Bất kể ngươi nghĩ gì, vì ngươi đã hoàn thành nhiệm vụ, nên Đức Chúa Trời sẽ ghi nhớ chuyện đó. Như thế chẳng công bằng sao? Bởi vì đây thật sự là việc mà ngươi đã hoàn thành với tấm lòng và sự trung thực, ngươi đã từ bỏ xác thịt và tham vọng cá nhân, đã làm tròn bổn phận, chu toàn sự ủy thác của Đức Chúa Trời mà không để lợi ích nhà Ngài bị tổn hại. Lòng Đức Chúa Trời được an ủi, đồng thời ngươi cảm thấy bình an vui vẻ trong lòng mình. Đây là hạnh phúc mà tiền bạc không thể mua được, ngươi có được nó nhờ sự thành tâm của mình. Đây là thành quả của việc mưu cầu lẽ thật. Nếu sau đó, ngươi huênh hoang: “Này, mọi người có biết là tôi đã làm việc này không?”, thì Đức Chúa Trời cũng không xem là vấn đề. Nhưng trong những thời điểm then chốt, ngươi phải giữ giới hạn. Ngươi không được chọc giận cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời, không được xúc phạm tâm tính của Ngài. Nếu ngươi có thể tuân thủ chuyện này, bảo đảm rằng trong mọi thời khắc then chốt, ngươi giữ đúng giới hạn, nắm bắt cơ hội để làm tròn bổn phận, vậy thì ngươi sẽ có hy vọng được cứu rỗi. Nếu trong những hoàn cảnh bình thường thì ngươi cẩn trọng, nhưng đến khi có chuyện liên quan đến các nguyên tắc lẽ thật, những thời điểm then chốt mà ngươi cần hành động dứt khoát và sáng suốt, thì ngươi lại không kiềm chế được tham vọng và dục vọng của mình mà cứ thích gì làm nấy, khiến cho công tác của hội thánh trở thành mớ rối ren, và không giữ được giới hạn cuối cùng, như thế sẽ chọc giận tâm tính của Đức Chúa Trời. Như thế có đáng bị trừng phạt không? Ít nhất, ngươi không được xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời, đây là giới hạn. Ngươi phải biết giới hạn của Đức Chúa Trời là gì, và giới hạn mà ngươi phải giữ là gì. Nếu trong những thời điểm then chốt mà ngươi giữ được giới hạn này, và sau khi thực hiện bổn phận, ngươi không khiến Đức Chúa Trời ghét bỏ và lên án ngươi, mà lại ghi nhớ và chấp thuận ngươi, thì đấy chính là việc lành. Đức Chúa Trời không chú trọng vào điều ngươi nghĩ, vào việc ngươi cảm thấy tự mãn và tự đắc thế nào về những thành quả của mình, Ngài không bận tâm những chuyện đó và sẽ không nặng tay với ngươi. Chuyện còn lại là sự biến đổi bản thân của ngươi. Bởi vì ngươi có thể nắm lấy dây cứu sinh trong mọi tình huống, có thể hành động theo các yêu cầu của Đức Chúa Trời, có thể giữ lòng trung thành và làm thỏa lòng Đức Chúa Trời trong những thời điểm then chốt, có thể giữ vững giới hạn của mình, như thế chứng tỏ điều gì? Chứng tỏ rằng ngươi có thái độ vâng phục với Đức Chúa Trời. Ở chừng mực nào đó, có thể nói rằng ngươi đã phần nào làm thỏa lòng Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời nhìn nhận như vậy. Đức Chúa Trời công chính, không phải vậy sao? (Thưa, phải.) Do đó, chỉ những ai thực hành theo cách này mới là người thông minh. Đừng có nghĩ: “Lần này mình không thực hiện bổn phận đủ tốt để làm thỏa lòng Đức Chúa Trời. Vẫn còn một số thiếu sót. Ngài có chấp thuận không nhỉ?”. Đức Chúa Trời sẽ không xét nét về chuyện đó. Ngài chỉ quan sát xem ngươi có giữ giới hạn khi thực hiện nhiệm vụ này không. Chỉ cần ngươi không vượt quá giới hạn và đã hoàn thành nhiệm vụ, thì Ngài sẽ ghi nhớ. Nếu ngươi có thể luôn tìm kiếm các nguyên tắc lẽ thật cho dù đang thực hiện bổn phận gì hay đang làm việc gì, kể cả khi gặp những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ngươi vẫn không vượt quá giới hạn, vậy thì ngươi đã có nguyên tắc trong cách làm việc và cách thực hiện bổn phận rồi. Có thể nói rằng việc thực hiện bổn phận của ngươi về cơ bản đã đạt tiêu chuẩn.