Hiểu lẽ thật thì mới là người có hiểu biết thuộc linh (Phần 2)
Các ngươi có thể quan sát xem, liệu có nhiều người trong hội thánh có hiểu biết thuộc linh và có thể hiểu lẽ thật không? (Thưa, trước đây con cho rằng người không có hiểu biết thuộc linh chính là những người có sự lĩnh hội ngớ ngẩn hoặc là người tê liệt và ngu ngốc, còn đa số những người thực hiện bổn phận thì đều có hiểu biết thuộc linh. Bây giờ, sau khi nghe Đức Chúa Trời thông công, con mới biết được rằng người nào có thể hiểu lẽ thật thì mới thật sự có hiểu biết thuộc linh. Người như vậy chỉ chiếm số ít, còn người không có hiểu biết thuộc linh thì chiếm đa số.) Hiện nay, người có hiểu biết thuộc linh và hiểu lẽ thật là thiểu số, còn người không có hiểu biết thuộc linh và không hiểu lẽ thật là đa số. Chẳng hạn như, con người nên lĩnh hội và nhận biết phương diện của lẽ thật về sự thuận phục như thế nào? Đa số mọi người vẫn cho rằng thuận phục chính là nghe lời, không phản kháng hay bộc lộ sự phản nghịch khi gặp chuyện; đây chính là thuận phục. Tại sao Đức Chúa Trời lại khiến con người thuận phục Ngài, ý nghĩa và nguyên tắc của sự thuận phục là gì, con người nên thuận phục như thế nào và khi thực hành thuận phục thì bên trong họ có những sự bại hoại nào cần phải giải quyết. Con người không hiểu tất cả những chuyện chi tiết này, họ vẫn chỉ tuân thủ quy định và cho rằng: “Thuận phục chính là bảo đi nấu cơm thì đừng đi quét dọn, bảo đi quét dọn thì đừng đi lau kính, bảo làm gì thì làm cái đó, chỉ đơn giản như vậy thôi. Không cần quan tâm trong lòng mình nghĩ gì, vì Đức Chúa Trời không nhìn vào những điều này”. Thực ra, Đức Chúa Trời khiến con người giải quyết sự phản nghịch và bại hoại của họ trong lúc thuận phục Ngài, là để họ có thể đạt đến thuận phục thực sự. Đây là lẽ thật về sự thuận phục. Cuối cùng thì con người hiểu và nhận biết đến mức độ nào? Chính là bất kể Đức Chúa Trời yêu cầu con người làm gì, thì đều là chuyện họ nên làm. Trong đó đều có tâm ý của Đức Chúa Trời, và con người nên thuận phục vô điều kiện. Nếu con người có thể nhận biết đến mức độ này, thì họ đã hiểu được lẽ thật về sự thuận phục, có thể thực hành thuận phục Đức Chúa Trời và làm Ngài hài lòng. Thế nhưng, đa số mọi người không biết thuận phục Đức Chúa Trời là gì, mà chỉ biết tuân thủ quy định. Cứ như vậy thì họ không có cách nào đạt đến thuận phục Đức Chúa Trời, bởi vì họ không hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời, và không hiểu lẽ thật về sự thuận phục là gì. Đây chính là người không có hiểu biết thuộc linh. Người không có hiểu biết thuộc linh thì không có cách nào hiểu được lẽ thật về sự thuận phục, cho nên khi thực hành thì cũng vất vả, tìm không ra con đường và nguyên tắc thực hành. Không có hiểu biết thuộc linh chính là không thông suốt về thuộc linh. Bất kể được thông công về lẽ thật như thế nào thì họ cũng nghe không hiểu. Họ không biết rằng thực hành lẽ thật về sự thuận phục là quá trình của lối vào sự sống. Lối vào sự sống chính là khi con người mổ xẻ và nhận biết được những ý định, quan niệm, sở thích và lựa chọn mà họ bộc lộ ra trong quá trình tiếp nhận và thực hành lẽ thật, để họ có thể nhận biết trạng thái phản nghịch của bản thân, nhận biết bản thân là kẻ phản nghịch và chống đối Đức Chúa Trời, và căn bản không đạt đến tương hợp với Ngài. Khi con người nhận biết đến mức độ này thì họ sẽ dễ dàng thực hành lẽ thật. Đây chỉ là bước khởi đầu của việc thực hành phương diện lẽ thật về sự thuận phục này. Bắt đầu từ khi ngươi phản tỉnh và nhận biết tâm tính bại hoại của bản thân, cho đến khi ngươi giải quyết được tâm tính bại hoại, sự phản nghịch và dục vọng ngông cuồng của ngươi đối với Đức Chúa Trời, hay những sở thích, tính toán và dã tâm của mình, trong suốt quá trình này, ngươi sẽ không ngừng phát hiện sự bại hoại của bản thân, nhận biết những thứ mà bản thân không tương hợp với Đức Chúa Trời và thực chất bản tính của mình. Ngươi cũng có thể nhận biết rằng không dễ để con người có thể thuận phục Đức Chúa Trời, biết rằng rất dễ để hiểu đạo lý về thuận phục Đức Chúa Trời hay để nói rằng ngươi sẽ thuận phục Ngài, nhưng để thực hành ra được thì không dễ như vậy. Mục đích của Đức Chúa Trời khi yêu cầu con người thuận phục là gì? Chỉ là để tỏ lộ con người sao? Lẽ thật trong việc Đức Chúa Trời yêu cầu con người thuận phục là gì? Quá trình con người thuận phục Đức Chúa Trời chính là quá trình Đức Chúa Trời làm tinh sạch con người. Nghĩa là, Đức Chúa Trời dùng lẽ thật về sự thuận phục để làm tinh sạch và ràng buộc con người, dẫn đường cho họ đến trước Ngài và nhận biết bản thân, nhận biết sự phản nghịch, tâm tính bại hoại và bản tính chống đối Đức Chúa Trời của chính họ. Đây chính là nhận biết được thực chất của chính họ. Kết quả cuối cùng đạt được là gì? Con người có thể nhận biết được sự bại hoại sâu sắc của mình thật xấu xí, biết mình là thứ gì, biết mình nên làm gì và nên đứng ở vị trí nào với tư cách là loài thọ tạo. Họ thực sự thuận phục Đức Chúa Trời và không còn yêu cầu vô lý nữa. Đây chính là đã đạt được kết quả và đã bước vào thực tế của lẽ thật. Đây không phải là chi tiết của việc nhận biết bản thân sao? Đây không phải là những vấn đề chi tiết trong việc thuận phục Đức Chúa Trời sao? Con người có nghĩ đến những chi tiết này khi nghe phương diện lẽ thật về sự thuận phục không? Con người không nghĩ đến những chi tiết này. Họ có thể đạt đến thực sự thuận phục Đức Chúa Trời hay không, nếu không biết đầy đủ những chi tiết này? Nếu không thể đạt đến thuận phục Đức Chúa Trời thì liệu họ có thể làm tốt bổn phận của loài thọ tạo không? Chuyện này là không thể. Nhận biết những chi tiết này về chính mình là vô cùng quan trọng; đây là bài học cơ bản nhất để đạt đến được cứu rỗi. Khi con người thuận phục đến cùng thì sẽ không nghiên cứu những gì Đức Chúa Trời phán, không có quan điểm cá nhân và không nói “Tôi cho rằng”, “Tôi nghĩ là”, “Tôi tính toán như thế này” hoặc “Tôi nên như thế kia”. Ngươi không có những tính toán, dục vọng và dã tâm bắt đầu bằng chữ “Tôi” này. Ngươi có thể tiếp nhận lời Đức Chúa Trời phán không sót chữ nào rồi thực hành theo lời Ngài. Đây gọi là tuân theo sự dặn dò của Đức Chúa Trời và tuân theo con đường của Đức Chúa Trời. Như vậy, quá trình Đức Chúa Trời làm tinh sạch ngươi đã kết thúc. Sự bại hoại của ngươi đã được làm tinh sạch, và thân phận loài thọ tạo chân chính của ngươi đã được khôi phục. Đây chính là tìm được vị trí của mình và đứng vững ở đó. Nếu không có những tính toán, quyết định và dục vọng bắt đầu bằng chữ “Tôi” này quấy nhiễu, thì ngươi sẽ dễ dàng thực hành thuận phục. Một số người nói rằng: “Đức Chúa Trời luôn yêu cầu con người thuận phục, nhưng như thế thì không hợp lý! Tôi không được nói phải trái hay sao? Lời oán trách của tôi chẳng phải cũng có đạo lý, cũng hợp lý hay sao?”. Đây có phải là thuận phục không? Người như vậy có hiểu lẽ thật về sự thuận phục không? Họ không hiểu lẽ thật về sự thuận phục, không biết ý nghĩa của thuận phục là gì, không biết nghĩa vụ và trách nhiệm của mình là gì, cũng không biết bổn phận của mình là gì hay mình nên đứng ở vị trí nào. Có lúc, những lời của Đức Chúa Trời vạch trần con người khá nghiêm khắc, họ nghe thấy sẽ đau lòng và khó chịu. Họ thấy đau khổ trong lòng, thậm chí cả tôn nghiêm và nhân cách đều bị thương tổn. Họ cảm thấy rằng: “Đức Chúa Trời không có tình yêu, sự cảm thông, sự nhân nhượng hay lòng thương xót, cũng không tha thứ hay khoan dung đối với con người. Ngài quá hà khắc rồi!”. Con người đều coi trọng tôn nghiêm và nhân cách của bản thân, và họ sẽ rất khó tiếp nhận nếu tôn nghiêm và nhân cách này bị thương tổn. Kết quả là, dù có muốn thì họ cũng không thể nào thuận phục được. Họ nghĩ trong lòng: “Đức Chúa Trời yêu cầu quá cao ở con người rồi, đây chẳng phải là đang bỡn cợt và giày vò tôi hay sao?”. Nói như vậy là không đúng. Yêu cầu con người thuận phục của Đức Chúa Trời không hề cố ép bất kỳ ai phải thuận phục Ngài, lại càng không ép buộc bất kỳ ai phải thuận phục Ngài. Yêu cầu của Đức Chúa Trời là có điều kiện, chỉ gửi đến những người có lương tâm và lý trí, có thể tiếp nhận và hiểu lẽ thật. Nếu không hiểu lẽ thật và không có đủ lương tâm và lý trí thì ngươi sẽ không thể đáp ứng được những yêu cầu của Đức Chúa Trời. Thực ra, tất cả lẽ thật mà Đức Chúa Trời bày tỏ đều là dành cho những ai yêu thích lẽ thật và có thể tiếp nhận lẽ thật. Đức Chúa Trời cũng không có bất cứ yêu cầu gì đối với những người không yêu thích và không tiếp nhận lẽ thật. Ngươi có thấy người nào không thực hành lẽ thật mà bị sửa dạy hoặc trừng phạt ngay lập tức không? Một người cũng không có. Tâm ý của Đức Chúa Trời là chỉ mong rằng tất cả mọi người đều có thể tiếp nhận, hiểu và vươn tới lẽ thật. Đây là tâm ý của Đức Chúa Trời. Nếu một người nhìn thấy lời Đức Chúa Trời mà cảm thấy rằng Ngài đang yêu cầu họ phải làm được việc đó, thì họ đã lĩnh hội sai lầm. Cho nên, đọc lời của Đức Chúa Trời thì phải hiểu tâm ý của Ngài, phải hiểu đối tượng trong lời của Ngài và phải hiểu ý của Ngài. Đừng tùy ý bình luận về lời của Đức Chúa Trời. Nếu ngươi cứ luôn nói lý lẽ của bản thân và không thuận phục, thì Đức Chúa Trời sẽ nhìn nhận ngươi thế nào? Đức Chúa Trời sẽ phán rằng ngươi chưa được làm tinh sạch, ngươi không phải là người thuận phục Đức Chúa Trời, và chưa sống thể hiện ra thực tế của sự thuận phục Đức Chúa Trời. Khi đó, sự thuận phục mà ngươi nói đến cũng chỉ là đạo lý và mãi mãi là một loại lý luận. Con người thường có quan niệm trong lòng khi gặp những con người, sự việc, sự vật và hoàn cảnh khác nhau mà Đức Chúa Trời đã sắp xếp. Họ có thể sẽ nói phải trái với Đức Chúa Trời và phản kháng Ngài. Người như vậy sẽ không có thực tế lẽ thật về sự thuận phục, và ở những người này, sự thuận phục chỉ là đạo lý và là lời nói suông. Vậy trong bối cảnh nào thì những người như thế này mới có thể có chút thuận phục? Họ cần phải có một hoàn cảnh thích hợp, lại còn phải phù hợp với quan niệm của họ; họ cũng phải có tâm trạng tốt, chỉ khi đó, họ mới có thể thực hành lẽ thật về sự thuận phục. Như vậy có tính là họ có thực tế của sự thuận phục Đức Chúa Trời hay không? Như vậy thì không được tính, vì sự thuận phục của họ còn quá hữu hạn. Phải phù hợp với quan niệm của họ và thỏa mãn điều kiện của họ thì họ mới có thể thuận phục, những bối cảnh giống vậy thì cực kì ít. Vậy biểu hiện của sự thuận phục thật sự là gì? Chỉ cần họ thừa nhận rằng đó là lẽ thật, thì họ sẽ không viện lý do hay ra điều kiện gì nữa, và đều có thể thuận phục theo, bất kể nó có phù hợp với thị hiếu hay quan niệm của con người hay không. Ngay cả khi bảo họ chết thì họ cũng không viện lý do, vẫn có thể thuận phục theo. Đây gọi là thuận phục cho đến chết. Đây là sự thuận phục của Phi-e-rơ. Có bao nhiêu người có thể thuận phục như vậy? Gần như không có ai. Người tin Đức Chúa Trời phải hiểu được lẽ thật là gì. Lẽ thật, bất kể ở đâu hay ở thời đại nào, đều là con đường mà con người nên tuân thủ, bất kể là ai cũng nên tuân thủ. Cho dù con người có khả năng hoặc sẵn lòng tuân theo hay không, thì lẽ thật vẫn phải là con đường mà toàn nhân loại nên tuân theo – bất kể là nhân loại bại hoại hay là nhân loại chưa bị Sa-tan làm bại hoại, bất kể là nhân loại hiện tại hay là nhân loại sau này. Tại sao lại nói như vậy? Bởi vì lẽ thật là chính đạo, là thực tế của mọi điều tích cực mà mọi loài thọ tạo đều nên tuân theo. Khi lẽ thật mâu thuẫn với tư tưởng, quan điểm hoặc tâm tính của ngươi, thì ngươi nên làm gì? Ngươi nên lựa chọn thuận phục. Đây chính là lẽ thật về sự thuận phục. Lẽ thật về sự thuận phục là gì? Và mặt thực tế lẽ thật về sự thuận phục Đức Chúa Trời này là gì? Bất kể ngươi có sẵn lòng thực hành hay không, bất kể ngươi cho rằng nó đúng hay sai, bất kể quan điểm của ngươi là gì, và bất kể ngươi thấy như thế nào về những lời và yêu cầu của Đức Chúa Trời, thì ngươi đều phải tiếp nhận, thuận phục và thực hành chúng. Đây chính là sự thuận phục, cũng là lẽ thật về sự thuận phục. Con người không thực hành được lẽ thật, là bởi vì họ có tâm tính bại hoại. Không thể nói rằng nếu ai đó không thực hành được lẽ thật thì lẽ thật không phải là lẽ thật, hoặc lẽ thật đã biến thành một lời nói suông. Quan điểm này là sai lầm và ngớ ngẩn. Một số người nói rằng: “Nếu một người không thực hành được thì đó vẫn có thể là lẽ thật, nhưng nếu tất cả mọi người đều không thực hành được thì chẳng phải đó không phải là lẽ thật sao?”. Lời nói này có đúng hay không? (Thưa, không đúng.) Đây là suy luận lô-gíc. Trên thực tế, thực chất của lẽ thật là bất biến. Cho dù ngươi có không thực hành được, thì lẽ thật vẫn là con đường mà con người nên tuân theo và là con đường đúng đắn. Cho dù một người đã cố gắng đến đâu cũng không thể thực hành được lẽ thật, thì không thể nói rằng lẽ thật không đúng đắn. Cho dù có một vạn người không thực hành được thì lẽ thật vẫn là đúng đắn. Cho dù không một ai thực hành được thì lẽ thật vẫn là đúng đắn. Lẽ thật vĩnh viễn bất biến. Chỉ có lẽ thật mới có thể giúp nhân loại sinh sống bình thường, giúp họ sống trước Đức Chúa Trời, được Ngài khen ngợi và chúc phúc. Đây chính là lẽ thật, cũng là kết quả có thể đạt đến khi tiếp nhận lẽ thật. Lẽ thật đến từ đâu? Lẽ thật đến từ Đức Chúa Trời và được Ngài bày tỏ. Lời của Đức Chúa Trời đều là lẽ thật. Lẽ thật chính là lời Đức Chúa Trời và lời Đức Chúa Trời chính là lẽ thật. Nếu con người thừa nhận lẽ thật và sẵn lòng tiếp nhận lẽ thật, mà muốn đạt đến thuận phục thì phải giải quyết được vấn đề nào? Họ phải giải quyết tất cả những tâm tính bại hoại của mình, cũng như những lựa chọn, tính toán và kế hoạch cá nhân, v.v.. Sau khi nhận biết được những thứ này thì lập tức có thể buông bỏ chúng không? (Thưa, không thể.) Trong quá trình tìm kiếm hoặc thực hành lẽ thật về sự thuận phục, thông qua việc cầu nguyện để Đức Chúa Trời sắp xếp hoàn cảnh và cho xuất hiện những con người, sự việc, sự vật, để Ngài sửa phạt, sửa dạy, hành phạt, phán xét, thử luyện và tinh luyện, mà con người từng bước giải quyết được chúng và đạt đến được làm tinh sạch – chỉ khi được làm tinh sạch thì họ mới có thể đạt đến thuận phục tuyệt đối. Nếu ngươi có sự thuận phục trong quá trình giải quyết những vấn đề này, thì chúng có thể được giải quyết. Nếu ngươi không thuận phục thì những vấn đề này sẽ không bao giờ được giải quyết. Cuối cùng, chỉ khi tất cả những vấn đề này được giải quyết và ngươi đã được làm tinh sạch, thì ngươi mới là người thuận phục Đức Chúa Trời. Tại sao lại nói như vậy? Các ngươi có hiểu mối quan hệ ở đây không? Khi ngươi đã thuận phục, phương diện lẽ thật này mới có thể được nhào nặn vào bên trong ngươi và biến thành thực tế của ngươi. Khi ngươi sống thể hiện ra phương diện thực tế này thì những vấn đề trong phương diện này của ngươi sẽ được giải quyết. Chuyện chính là như vậy.
Rốt cuộc thì làm thế nào để đánh giá một cách chính xác liệu một người có hiểu biết thuộc linh hay không? Nếu chỉ nhìn vào việc họ có thể hiểu được nghĩa đen của lời Đức Chúa Trời hay không, thì có đủ hay chưa? (Thưa, chưa đủ.) Rốt cuộc thì có hiểu biết thuộc linh là gì? Đó chính là khi con người có thể hiểu lời Đức Chúa Trời. Khi nghe giảng đạo hoặc thông công thì họ đều có thể nghe hiểu và ngầm hiểu; bất kể chúng có được giảng rõ ràng hay không thì chỉ cần nghe một chút là họ đã hiểu. Ngay cả khi có những bài giảng và thông công không được giải thích cho thấu đáo, có chỗ chưa thông, thì họ vẫn có thể hiểu ra, ý thức và biết được ý nghĩa của chúng. Người như vậy chính là người có hiểu biết thuộc linh. Hễ là đọc không hiểu lời Đức Chúa Trời, hoặc nghe không hiểu các bài giảng và thông công, luôn luôn hiểu lầm và cảm thấy có sự mâu thuẫn trong những lời này, thì chính là không có hiểu biết thuộc linh. Người không có hiểu biết thuộc linh thì cho dù ngươi thông công lẽ thật rõ ràng cho họ, họ cũng không thể hiểu hoàn toàn. Họ chỉ có thể hiểu đạo lý và tuân thủ các quy định, như vậy đã là tốt lắm rồi. Cho nên, người không có hiểu biết thuộc linh thì không dễ hiểu được lẽ thật. Nhưng nếu một người có hiểu biết thuộc linh mà không mưu cầu hoặc không hiểu lẽ thật, thì họ chẳng khác gì một người không có hiểu biết thuộc linh. Cho nên, điều quan trọng nhất là phải hiểu lẽ thật. Dù con người có hiểu biết thuộc linh hay không thì đều nên vươn tới lẽ thật. Càng hiểu rõ lẽ thật thì càng có ích cho họ. Chẳng những có thể nhìn thấu mọi chuyện mà họ còn có thể lựa chọn được con đường đúng đắn. Do đó, nếu muốn mưu cầu lẽ thật, một mặt thì con người phải khao khát lời Đức Chúa Trời, dốc công sức và học cách nghiền ngẫm lời của Ngài, cầu nguyện-đọc và thông công lời Ngài, tìm kiếm trong lời Ngài. Điều quan trọng nhất là gì? Chính là họ phải thực hành và trải nghiệm lời Đức Chúa Trời. Chỉ khi đã thực hành và trải nghiệm thì lời Đức Chúa Trời mới biến thành thực tế của ngươi, thì ngươi mới có thể thực sự hiểu những gì mà lời của Ngài đang nói đến, và hiểu lẽ thật bên trong đó rốt cuộc là gì. Khi đã hiểu lẽ thật thì tự nhiên ngươi sẽ có hiểu biết thuộc linh. Nhưng đạt đến có hiểu biết thuộc linh không phải là mục đích, mục đích là gì? Mục đích là thực hành lẽ thật và hiểu lẽ thật. Khi thực hành, nếu một người có con đường, biết cách đi như thế nào, và sau khi thực hành mà họ có thể hiểu được lẽ thật bên trong đó, cũng như biết được các mối quan hệ và nguyên tắc thực hành trong đó, thì đây chính là người có hiểu biết thuộc linh và đạt được hiệu quả của việc hiểu lẽ thật. Việc một người có hiểu biết thuộc linh hay không, có liên quan đến việc họ có thể hiểu và đạt được lẽ thật hay không. Cho nên, đối với người tin Đức Chúa Trời, việc không có hiểu biết thuộc linh là một vấn đề lớn, nó liên quan đến việc họ có thể hiểu được lẽ thật hay không. Chẳng hạn như, Đức Chúa Trời yêu cầu con người phải thuận phục, nhưng rốt cuộc thì phải thuận phục điều gì? Đối tượng để thuận phục là gì? (Thưa, thuận phục lẽ thật và lời Đức Chúa Trời.) Thuận phục lẽ thật và lời Đức Chúa Trời. Nói một cách cụ thể hơn, chính là thuận phục những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người, thuận phục những hoàn cảnh, con người, sự việc và sự vật trong hiện thực mà Đức Chúa Trời sắp đặt cho con người, và thuận phục những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người trong các hạng mục bổn phận của họ. Chúng ta hãy phân tích thêm nữa: Thực tế của sự thuận phục còn có những gì nữa? (Thưa, thuận phục sự sắp xếp công tác của Bề trên.) Đây là một phần trong đó. Còn gì nữa? (Thưa, thuận phục trong mỗi một hạng mục bổn phận mà nhà Đức Chúa Trời sắp xếp cho chúng con thực hiện.) Bổn phận là chuyện rất quan trọng đối với người tin Đức Chúa Trời; việc một người có thể làm tốt bổn phận hay không có liên quan đến việc họ có thực tế lẽ thật hay không. Còn có một phương diện nữa, đó là tiêu chuẩn làm người mà Đức Chúa Trời yêu cầu ở con người. Phương diện này rất quan trọng. Cách làm người bao gồm những gì? Nó bao gồm cách một người đối xử với các anh chị em, cách họ đối xử với tiền tài, tiền đồ, hôn nhân, tình cảm, và sự hưởng thụ xác thịt. Tìm kiếm lẽ thật trong những sự việc đủ mọi phương diện khác nhau này, làm theo yêu cầu của Đức Chúa Trời, làm việc, thực hành và sống thể hiện ra theo các nguyên tắc của lẽ thật – đây đều là thuận phục, đều là thực tế của sự thuận phục. Chẳng hạn như, một số người cho rằng cách đối xử với các anh chị em thì không liên quan gì đến lẽ thật về sự thuận phục. Quan điểm này có đúng không? Nó liên quan đến cách làm người của họ. Thấy anh chị em nào không vừa mắt thì ngươi luôn khi dễ họ, luôn nói chuyện gay gắt với họ, đây có phải là nguyên tắc làm người hay không? (Thưa, không phải.) Đức Chúa Trời yêu cầu con người phải đối đãi với người khác như thế nào? (Thưa, đối đãi công bằng với mọi người.) Công bằng có nghĩa là gì? Chính là đối đãi với mọi người dựa theo các nguyên tắc lẽ thật, chứ không phải dựa theo diện mạo bên ngoài, thân phận, địa vị, mức độ trí thức của họ, cũng không dựa theo sở thích và tình cảm của chính mình mà đối đãi với họ. Vậy thì tại sao đối đãi với mọi người dựa theo nguyên tắc lẽ thật mới là công bằng? Có rất nhiều người sẽ không lý giải được, chuyện này cần con người hiểu lẽ thật. Sự công bằng theo cách lý giải của người ngoại đạo có phải là sự công bằng thực sự không? Tuyệt đối không phải. Chỉ ở Đức Chúa Trời mới có sự công chính và công bằng. Chỉ có bên trong những yêu cầu mà Đấng Tạo Hóa đặt ra cho loài thọ tạo mới có sự công bằng và mới tỏ lộ được sự công chính của Đức Chúa Trời. Cho nên, dựa theo nguyên tắc lẽ thật để đối đãi với người khác thì mới là công bằng. Nên yêu cầu gì và đối đãi như thế nào với những người trong hội thánh? Nếu họ có thể thực hiện được bổn phận nào thì sắp xếp cho họ bổn phận đó. Nếu họ đã không thể thực hiện bổn phận mà còn gây nhiễu loạn, nên thanh trừ thì cứ thanh trừ, ngay cả khi họ có mối quan hệ tốt với ngươi. Đây chính là công bằng, là những gì nằm trong nguyên tắc đối đãi công bằng với người khác. Điều này liên quan đến các nguyên tắc làm người. Một mặt, lẽ thật về sự thuận phục liên quan đến việc thực hiện bổn phận của một người, việc họ thuận phục và cư xử như thế nào khi gặp phải tai họa hay ốm đau, và việc họ có đứng vững làm chứng hay không. Mặt khác chính là phương diện làm người của họ. Quan trọng nhất là họ phải mưu cầu làm người trung thực và phải có lương tâm, lý trí. Họ cũng phải sống, ăn, mặc, ở và đi lại như một người bình thường. Về mặt chất lượng cuộc sống của con người, Đức Chúa Trời có yêu cầu gì? (Thưa, hài lòng với việc có ăn có mặc.) Đây là yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người trong Thời đại Ân điển. Đức Chúa Trời có yêu cầu gì đối với con người ở thời đại hiện nay? Đức Chúa Trời có yêu cầu trong các phương diện về thức ăn, quần áo, chỗ ở, phương tiện đi lại, lời nói, cử chỉ và cách ăn mặc của con người. Ngài không yêu cầu ngươi phải làm người thanh tâm quả dục, nhưng cũng không để ngươi tham hưởng sự an nhàn xác thịt. Sự lười biếng, tham hưởng an nhàn xác thịt và ham hưởng thụ này không phải là yêu cầu của Đức Chúa Trời. Tiêu chuẩn yêu cầu của Đức Chúa Trời là gì? Ngài yêu cầu phải tận tâm vì bổn phận, làm hết phận sự và trách nhiệm, chịu khổ, trả giá, chăm chỉ công tác và không lười biếng. Đức Chúa Trời cũng có tiêu chuẩn cho những yêu cầu của Ngài về thái độ của ngươi đối với tiền tài, với thế giới, với những xu hướng tà ác và thái độ mà ngươi đối đãi với những người không tin. Bên trong tất cả những yêu cầu này đều có lẽ thật. Mỗi một hạng mục lớn này đều chứa đựng những lẽ thật mà mọi người nên thực hành và thuận phục. Một số người tham hưởng sự an nhàn, yêu thích lối sống phóng túng, ưa thỏa mãn những ham muốn xác thịt của mình và chạy theo trào lưu. Thấy mọi người trong xã hội thích chơi cái gì thì họ cũng muốn chơi cái đó, và lòng họ luôn hướng về thế giới bên ngoài. Như vậy thì có thể làm tốt bổn phận không? (Thưa, không thể.) Có một số người, khi nhìn thấy những người ngoại đạo ăn mặc thật xinh đẹp, họ cảm thấy rằng bản thân tin Đức Chúa Trời nhưng lại ăn mặc quá bình thường, họ luôn lo lắng bị người khác xem thường và trong lòng bắt đầu quay cuồng. Khi nhìn thấy những cặp vợ chồng son khác sống trong thế giới hai người của họ, thì cũng có người cảm thấy bản thân chỉ có một mình cô đơn, lạnh lẽo. Họ luôn đau khổ vì chuyện này, và không tìm kiếm lẽ thật, cũng không đến trước Đức Chúa Trời. Như vậy thì có thể làm tốt bổn phận không? (Thưa, không thể.) Mặc dù những chuyện này không đáng để mắt tới, và nhìn có vẻ không liên quan lắm đến những lẽ thật hiển nhiên, nhưng chúng có liên quan đến những lẽ thật căn bản nhất về những yêu cầu của Đức Chúa Trời đối với con người. Nếu không thể vượt qua và giải quyết được những vấn đề này, và nếu chúng luôn gây nhiễu loạn bên trong ngươi, ảnh hưởng đến việc ngươi tin Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận, thì ngươi sẽ rất khó để đi trên con đường đúng đắn trong việc tin Đức Chúa Trời.
Mọi phương diện của lẽ thật, căn bản nhất hay là sâu sắc hơn một chút, tất cả đều là lẽ thật. Lẽ thật không phân biệt nông sâu. Sự khác biệt nằm ở chỗ con người nên thực hành những lẽ thật nào trong hoàn cảnh nào. Một số lẽ thật liên quan đến bổn phận của con người; một số liên quan đến cuộc sống hàng ngày của họ, chẳng hạn như thói quen và quy luật sinh hoạt, sở thích cá nhân hàng ngày của họ; một số liên quan đến hoàn cảnh, con người, sự việc, sự vật mà Đức Chúa Trời sắp đặt cho con người. Bất kể là phương diện vấn đề nào, là liên quan đến cuộc sống hàng ngày hay liên quan đến bổn phận, và dù vấn đề đó lớn hay nhỏ, nếu ngươi đều có thể đối đãi chúng một cách nghiêm túc, đều có thể tìm kiếm lẽ thật, làm việc và thực hành theo các nguyên tắc lẽ thật, thì đây chính là mưu cầu lẽ thật. Một số người đã nghe giảng đạo vài năm, mà lại không chú trọng vào việc thực hành lẽ thật, chỉ chú trọng vào việc nghe những bài giảng mà họ chưa từng nghe qua. Họ luôn muốn nghe một chút ngôn ngữ và những điều huyền bí của tầng trời thứ ba, và luôn giảng những bài giảng cao siêu cho người khác. Khi thấy người khác nghe không hiểu thì họ còn rất đắc ý. Như thế là quá thiếu lý trí. Giảng về những thứ trống rỗng đó thì có ích lợi gì? Nếu những gì được giảng không liên quan đến bổn phận của con người, đến những trạng thái và tâm tính bại hoại bộc lộ trong cuộc sống hàng ngày của con người; nếu chúng tách rời khỏi cuộc sống của con người, tách rời khỏi lối vào sự sống của họ, tách rời khỏi bổn phận của họ; nếu chúng không liên quan đến những trạng thái được bộc lộ và biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày của họ; thì tất cả những gì ngươi giảng chỉ đều là đạo lý, là lời nói suông, và không phải là lẽ thật. Có rất nhiều người sau khi nghe rất nhiều bài giảng thì cho rằng họ đã hiểu lẽ thật. Họ còn tổng kết ra một ít đạo lý và quy định, thường hay giảng đạo và thông công cho mọi người; nhưng khi gặp phải vấn đề hay khó khăn thì họ lại không biết xử lý. Vậy tại sao đạo lý mà họ hiểu lại không thể giải quyết được bất kỳ vấn đề thực tế nào? Điều này chứng tỏ rằng họ vẫn chưa hiểu lẽ thật. Một số người đã giảng câu chữ và đạo lý trong nhiều năm, nhưng khi bảo họ thông công về lẽ thật và giải quyết vấn đề, thì họ không làm được; bảo họ viết lời chứng trải nghiệm, họ cũng không viết được. Khi người khác gặp chuyện và tìm kiếm sự trợ giúp từ họ, họ cũng không giúp được. Đây là loại người gì vậy? Người như vậy không hiểu lẽ thật, cũng không có hiểu biết thuộc linh. Thật đáng thương! Nói năng đao to búa lớn, hô hào khẩu hiệu, chú trọng tri thức, đạo lý và thần học, chú trọng trang bị cho mình những gì người khác không có, học những gì người khác chưa từng nghe qua, chú trọng dùng đầu óc để ghi nhớ mọi thứ và muốn giành được sự sùng bái và hâm mộ của người khác – liệu như vậy có thể đạt đến có hiểu biết thuộc linh không? (Thưa, không thể đạt đến.) Không thể đạt đến có hiểu biết thuộc linh thì có thể hiểu được lẽ thật không? (Thưa, không thể.) Cho nên, việc có hiểu biết thuộc linh có liên quan đến việc hiểu lẽ thật. Cho dù một người đã tin Đức Chúa Trời được bao nhiêu năm, việc họ có hiểu lẽ thật hay không sẽ tiết lộ rõ ràng nhất việc họ có hiểu biết thuộc linh hay không. Người có hiểu biết thuộc linh có thể dễ dàng hiểu lời Đức Chúa Trời, và có thể dễ dàng hiểu lẽ thật khi nghe giảng đạo. Người có thể hiểu lẽ thật chính là người có hiểu biết thuộc linh. Người có hiểu biết thuộc linh chỉ cần mưu cầu lẽ thật thì sẽ dễ dàng bước vào thực tế lẽ thật.
Ngày 5 tháng 10 năm 2020
Nội dung liên quan
Lời Đức Chúa Trời | Đấng Christ thực hiện công tác phán xét bằng lẽ thật
Đọc diễn cảm lời Đức Chúa Trời Toàn Năng...