Mục 6. Họ làm việc theo cách quỷ dị, độc đoán chuyên quyền, không bao giờ thông công với người khác, và ép người khác phải thuận phục mình

Phần bổ sung Câu chuyện của Đại Minh và Tiểu Minh

Trước khi chúng ta đi vào chủ đề thông công chính, hãy cùng bắt đầu bằng việc kể chuyện. Lợi ích của việc kể chuyện là gì? (Thưa, dễ nhớ.) Cho đến nay, Ta đã kể bao nhiêu câu chuyện dễ nhớ rồi? (Thưa, câu chuyện của Đại Bảo và Tiểu Bảo.) “Câu chuyện của Đại Bảo và Tiểu Bảo” là câu chuyện Ta kể lần trước. (Ngoài ra còn có “Săn chuột” và câu chuyện về các lãnh đạo nữ.) Ta đã kể khá nhiều câu chuyện rồi. Tại sao Ta lại kể chuyện? Thực ra mục đích là để chuyển đổi sang một hình thức nhẹ nhàng hơn, dễ hiểu hơn để thông công về một số lẽ thật mà con người nên hiểu được. Nếu các ngươi từ trong những câu chuyện Ta kể mà hiểu được lẽ thật, và những lẽ thật này giúp ích cho nhiều khía cạnh lối vào của các ngươi trong đời sống hàng ngày, thì Ta kể chuyện không tốn công vô ích. Nó cho thấy các ngươi thực sự hiểu được những lẽ thật liên quan trong các câu chuyện, hiểu được khía cạnh thực tế của những lẽ thật này, chứ không chỉ nghe như những câu chuyện đơn thuần. Lần trước, Ta đã kể câu chuyện của Đại Bảo và Tiểu Bảo. Hôm nay, Ta sẽ kể câu chuyện của Đại Minh và Tiểu Minh. Khi nghe, các ngươi hãy suy ngẫm xem rốt cuộc câu chuyện này là để khiến các ngươi hiểu được điều gì và nó liên quan đến khía cạnh lẽ thật nào.

Đại Minh và Tiểu Minh là hai cha con. Cách đây một thời gian, Đại Minh và cậu con trai Tiểu Minh của mình đã tiếp nhận công tác mới của Đức Chúa Trời. Đây có phải là chuyện tốt không? (Thưa, phải.) Đó là chuyện tốt. Tiểu Minh còn nhỏ và chỉ biết đọc một chút, nên hàng ngày Đại Minh đọc lời Đức Chúa Trời cho cậu bé nghe và kiên nhẫn giải thích những từ mà Tiểu Minh không hiểu. Sau một thời gian, Tiểu Minh đã hiểu được khá nhiều đạo lý làm người, cũng hiểu được một số từ vựng mà cậu chưa bao giờ tiếp xúc trước khi tin Đức Chúa Trời, chẳng hạn như thuận phục, đức tin, trung thực, giả dối, v.v.. Thấy con trai tiến bộ, Đại Minh rất vui. Tuy nhiên, gần đây Đại Minh nhận thấy rằng dù anh ấy có đọc bao nhiêu lời Đức Chúa Trời cho Tiểu Minh đi nữa, thì hành vi hay lời nói của cậu bé cũng không có nhiều tiến bộ. Trong lòng Đại Minh thấy lo lắng, nảy sinh gánh trọng trách, ngẫm nghĩ rằng: “Làm sao để khiến con mình thông qua đọc lời Đức Chúa Trời mà hiểu được chút lẽ thật, có được chút thay đổi, để người ta nhìn vào thì tán thành, tán thưởng và khen ngợi là đứa trẻ ngoan, rồi từ đó mà tán dương rằng tin Đức Chúa Trời thật tốt. Đồng thời thông qua sự thay đổi của con trai mình mà truyền phúc âm cho người khác – như vậy thật tốt biết mấy!”. Sau khi hình thành gánh trọng trách này, Đại Minh cứ ngẫm nghĩ: “Làm sao để mình có thể giáo dục Tiểu Minh cho tốt, hầu cho con hiểu nhiều hơn về đạo lý làm người, từ đó có những biểu hiện tốt hơn và hợp tâm ý của Đức Chúa Trời đây? Cuối cùng, khi Tiểu Minh trở thành một đứa trẻ ngoan và được mọi người khen ngợi, mọi vinh hiển này có thể dâng về Đức Chúa Trời – như vậy thật tuyệt vời biết mấy! Khi đó mới có thể đặt xuống hòn đá nặng trĩu trong lòng mình”. Đại Minh nảy sinh gánh trọng trách này, các ngươi thấy có hợp lý hay không? Có thể xem đó là làm việc chính đáng của mình hay không? (Thưa, có.) Nhìn từ điểm này, xuất phát điểm của Đại Minh là đúng – cũng được xem là hợp lý và là làm việc chính đáng của mình. Con đường mà Đại Minh chọn cho Tiểu Minh là đúng đắn hay sai lầm? Rốt cuộc nó tốt hay xấu? Chuyện này để sau sẽ rõ. Đại Minh thường cầu nguyện và cầu khẩn với Đức Chúa Trời về điều này. Cuối cùng một ngày nọ, anh ấy có một “linh cảm”. “Linh cảm” gì? Cái gọi là “linh cảm” này nằm trong ngoặc kép. Vì “linh cảm” này nằm trong ngoặc kép, vậy con đường Đại Minh nói đến là dạng nào? Các ngươi có thể tưởng tượng chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo trong câu chuyện không? Chưa rõ ràng lắm, phải không? Nó phần nào còn là ẩn số.

Một hôm, sau khi đọc lời Đức Chúa Trời cho con trai, Đại Minh hỏi Tiểu Minh một cách rất nghiêm túc rằng tin Đức Chúa Trời có phải là chuyện tốt hay không. Tiểu Minh trịnh trọng thưa: “Tin Đức Chúa Trời là chuyện tốt. Người tin Đức Chúa Trời không ức hiếp người khác, không gặp thảm họa, còn có thể lên thiên đàng, và sau khi chết không bị đày xuống địa ngục”. Tiểu Minh nói có đúng không? Với tâm linh của một cậu bé nhỏ tuổi mà Tiểu Minh đã có thể nói thế là tốt lắm rồi. Nhận biết của cậu bé về việc tin Đức Chúa Trời rất đơn giản, còn sơ khai và hết sức nông cạn, nhưng đối với cậu bé, như vậy đã là sâu sắc rồi. Nghe xong, Đại Minh rất vui và cảm thấy được an ủi, nói rằng: “Tốt lắm, Tiểu Minh, con đã có sự tiến bộ. Xem ra đức tin của con nơi Đức Chúa Trời đã có chút căn cơ. Ba rất vui và cảm thấy được an ủi. Nhưng mà việc tin Đức Chúa Trời đơn giản như vậy sao?”. Tiểu Minh suy ngẫm một lúc và nói: “Chẳng phải lời Đức Chúa Trời phán vậy sao? Còn gì nữa ạ?”. Đại Minh lập tức trả lời: “Yêu cầu của Đức Chúa Trời không chỉ có vậy. Con đã tin Đức Chúa Trời một thời gian dài như vậy, mà khi các anh chị em ghé thăm, con thậm chí còn không biết chào họ. Từ nay trở đi, khi gặp người cao tuổi, con hãy thưa họ là ông, bà; khi gặp người ít tuổi hơn vậy thì thưa họ là chú bác, cô dì, hoặc anh, chị. Như vậy, con sẽ trở thành đứa trẻ được mọi người yêu mến – và Đức Chúa Trời chỉ yêu thương những đứa trẻ được mọi người yêu mến. Từ nay trở đi, hãy nghe lời ba và làm như ba nói; khi ba bảo con gọi ai thế nào thì cứ gọi họ như vậy”. Tiểu Minh khắc cốt ghi tâm lời ba, cảm thấy những gì ba nói là đúng. Trong trái tim non nớt của mình, cậu tin rằng ba lớn tuổi hơn, đọc nhiều lời Đức Chúa Trời hơn và hiểu biết nhiều hơn cậu. Hơn nữa, ba luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho cậu và chắc chắn sẽ không khiến cậu lạc lối, nên dù ba có nói gì cũng chắc chắn là đúng. Tiểu Minh không hiểu lẽ thật là gì và đạo lý là gì, nhưng ít nhất cậu cũng biết tốt, xấu, đúng, sai là gì. Sau khi nghe ba nói, Tiểu Minh cũng hình thành một chút gánh trọng trách về việc này. Từ đó trở đi, mỗi khi Tiểu Minh ra ngoài với ba và gặp ai đó, nếu ba bảo cậu gọi họ là “cô”, cậu sẽ nói “Con chào cô”; nếu ba bảo gọi họ là “chú”, cậu sẽ nói “Con chào chú”. Mọi người đều khen ngợi Tiểu Minh là đứa trẻ ngoan ngoãn, lễ phép, đồng thời ca ngợi Đại Minh dạy con tốt. Tiểu Minh rất vui, tự nhủ: “Lời ba dạy thật tốt đẹp; ai gặp cũng thích mình”. Trong lòng Tiểu Minh cảm thấy thích thú và đặc biệt tự hào, nghĩ rằng cách mà ba chỉ dạy cho cậu là thực sự tốt, thực sự đúng.

Một hôm, vừa đi học về, Tiểu Minh liền chạy ùa tới chỗ ba và nói: “Ba ơi, biết sao không? Ông già Trương hàng xóm bắt được một con –”. Cậu chưa nói hết câu thì Đại Minh ngắt lời: “‘Ông già Trương’ sao? Tại sao con lại có thể nói thế được, Tiểu Minh? Con có còn là người tin Đức Chúa Trời nữa không? Làm sao con có thể gọi ông ấy là ‘Ông già Trương’ được? Con quên ba dạy thế nào rồi, con không có đức tin nơi Đức Chúa Trời, không phải là người tin thực sự. Xem này, chuyện này ba sẽ ghi nhớ; ba có thể giúp đỡ và nhắc nhở con. Con nên gọi ông ấy là ông Trương, nhớ chưa?”. Tiểu Minh ngẫm nghĩ: “Gọi ông ấy là ông Trương cũng được”. Cậu tiếp tục: “Ông Trương hàng xóm bắt được một con cá to như thế này này! Bà già Trương khoái chí lắm luôn!” “Con lại quên rồi sao?” Đại Minh nói. “Thằng bé này, con vẫn chưa hiểu rồi. Ba vừa nói xong, con nên gọi ông ấy là ông Trương; có nghĩa là vợ ông, cùng thế hệ với ông, thì nên gọi là gì? Nên gọi là bà Trương. Nhớ đấy, đừng bao giờ nói ông già Trương hay bà già Trương nữa, kẻo người ta cười chúng ta. Chúng ta là người tin Đức Chúa Trời mà như vậy thì chẳng phải là mất mặt sao? Họ sẽ nói rằng chúng ta không lễ phép và không quy củ, không giống tin Đức Chúa Trời. Như vậy không mang lại vinh hiển cho Đức Chúa Trời”. Ban đầu Tiểu Minh hào hứng kể cho ba nghe về con cá to mà ông già Trương bắt được, nhưng sau khi bị ba chỉnh đốn, cậu cụt hứng và không còn muốn nói nữa. Cậu khoác ba-lô quay đầu bước đi, vừa đi vừa lẩm bẩm: “Ba nghĩ chuyện gì ba cũng biết, lại còn ông Trương, bà Trương. Chuyện đó thì liên quan gì đến chúng ta chứ? Như thể chỉ có ba mới thuộc linh vậy!”. Đại Minh đáp lại: “Ồ, ba đúng là thuộc linh mà! Người bình thường dù bao nhiêu tuổi, ba nhìn tuổi họ là biết phân thứ bậc, biết nên xưng hô với họ thế nào rồi. Ba gọi người lớn tuổi hơn là cô, chú – vậy tại sao thậm chí con còn không thể gọi cho đúng được? Là tín hữu, chúng ta không được quên chuyện này; không được nói sai về thứ bậc”. Tiểu Minh bị dạy dỗ một trận, trong lòng cảm thấy không vui lắm, nhưng trong lòng vẫn cho rằng ba đúng; ba làm gì cũng đúng, và dù có không muốn, cậu cũng thừa nhận mình sai. Từ đó trở đi, mỗi khi gặp ông già Trương và bà già Trương, cậu đều gọi họ là ông Trương, bà Trương. Mọi điều ba dạy dỗ và truyền thụ cho mình, Tiểu Minh đều khắc cốt ghi tâm. Đây là chuyện tốt hay xấu? Cho đến nay thì nó có vẻ là chuyện tốt, phải không?

Một hôm Tiểu Minh và ba đi dạo, thấy một con lợn nái dẫn theo đàn lợn con. Mối quan hệ giữa con lợn nái và đàn lợn con của nó rất mật thiết. Tiểu Minh nghĩ rằng vạn vật do Đức Chúa Trời tạo dựng đều tốt lành; dù là lợn hay chó, tất cả đều có bản năng mẫu tử và nên được tôn trọng. Lần này Tiểu Minh không ăn nói lỗ mãng, hay vội gọi nó là “bà lợn già”. Sợ mắc lỗi khiến ba giận, cậu hỏi nhỏ: “Ba ơi, con lợn mẹ này bao nhiêu tuổi? Nó sinh được nhiều con như vậy thì con nên gọi nó là gì?”. Đại Minh ngẫm nghĩ một lúc: “Chúng ta nên gọi nó là gì nhỉ? Khó nói đây”. Thấy ba ngẫm nghĩ mãi mà chưa có câu trả lời, Tiểu Minh phàn nàn: “Chẳng phải ba đã đọc rất nhiều lời Đức Chúa Trời sao? Ba còn lớn tuổi hơn con nữa, làm sao mà ngay cả chuyện này ba còn không biết?”. Bị Tiểu Minh kích, Đại Minh có chút lo lắng và nói: “Hay là chúng ta gọi nó là ‘bà ngoại’?”. Tiểu Minh chưa kịp cất tiếng gọi con lợn thì Đại Minh nghĩ lại và nói: “Chúng ta không thể gọi nó là bà được; như vậy sẽ đặt nó ngang hàng với bà ngoại của con, chẳng phải sao? Gọi nó là bà nội còn tệ hơn, như vậy sẽ đặt nó ngang hàng với mẹ của ba. Vì nó đẻ ra nhiều lợn con như thế, nên chúng ta không được thờ ơ với thân phận hoặc địa vị của nó, không được phân chia sai thứ bậc của nó. Chúng ta nên gọi nó là ‘cô lợn’”. Nghe vậy, Tiểu Minh kính cẩn cúi mình trước con lợn và nói to: “Chào cô lợn”. Con lợn mẹ giật mình, và nó cùng cả đàn lợn con kinh hãi chạy tán loạn. Thấy thế, Tiểu Minh băn khoăn không biết cậu gọi nó như vậy có đúng hay không. Đại Minh nói: “Hẳn con lợn phải vui mừng và phấn khởi thì mới phản ứng như thế. Sau này, khi chúng ta gặp phải tình huống như vậy, dù người khác có nói hay làm gì, chúng ta cứ nên hành xử như thế. Làm người thì phải có lễ phép và biết quy củ; ngay cả con lợn thấy thế cũng vui”. Từ chuyện này, Tiểu Minh học được một điều mới. Cậu học được điều gì? Cậu nói: “Đức Chúa Trời đã tạo dựng vạn vật, chỉ cần muôn loài tôn trọng nhau, lễ phép, hiểu thứ bậc và kính già yêu trẻ, thì vạn vật đều có thể chung sống hài hòa”. Bây giờ Tiểu Minh đã hiểu được đạo lý này. Nghe xong, ba khen ngợi Tiểu Minh là cậu bé rất dễ dạy. Từ đó trở đi, Tiểu Minh ngày càng trở nên văn minh và lễ phép hơn. Đi đâu cậu cũng có quy củ và khiến người khác thấy cậu thật xuất sắc. Chẳng phải cậu là một “cậu bé ngoan” sao? Cậu là một “cậu bé ngoan” trong ngoặc kép. Câu chuyện này, chúng ta kể đến đây thôi.

Các ngươi nghĩ sao về câu chuyện này? Khá hài hước, phải không? Câu chuyện này nảy sinh từ đâu? Nó bắt nguồn từ lời nói, hành động, cử chỉ, tư tưởng và quan điểm của con người trong đời thực – được cô đọng lại trong câu chuyện nhỏ này. Câu chuyện này đang nói về vấn đề gì? Trong câu chuyện này, các ngươi có thể thấy Đại Minh có vấn đề gì? Tiểu Minh có vấn đề gì? Thực chất vấn đề của Đại Minh là gì? Trước hết, các ngươi hãy suy ngẫm: Trong những gì mà Đại Minh đúc kết và thực hành, có chút gì phù hợp với lẽ thật không? (Thưa, không.) Vậy thì Đại Minh đang thực hành điều gì? (Thưa, những quan niệm và tưởng tượng.) Những quan niệm và tưởng tượng này do đâu mà có? (Thưa, do văn hóa truyền thống.) Căn nguyên là văn hóa truyền thống; những quan niệm, tưởng tượng của Đại Minh là sản phẩm của sự tiêm nhiễm, hun đúc và giáo dục của văn hóa truyền thống. Đại Minh đem những gì mình cho là thứ tốt nhất, tích cực nhất và tinh túy nhất của văn hóa truyền thống mà bao bọc lại và biến chúng thành cái mà anh cho là lẽ thật để con trai thực hành. Có thể xem câu chuyện này là rõ ràng và dễ hiểu không? (Thưa, có.) Hãy chia sẻ những gì các ngươi hiểu và có thể lĩnh hội được sau khi nghe câu chuyện này. (Thưa, nghe xong, con cảm thấy rằng vấn đề của Đại Minh là mặc dù anh ấy tin Đức Chúa Trời, nhưng lại không bỏ công sức vào lời Đức Chúa Trời. Thay vào đó, anh tin Đức Chúa Trời dựa trên quan niệm truyền thống của con người, cho rằng nếu mình tuân theo những thứ bề ngoài đó, thì Đức Chúa Trời sẽ hài lòng. Anh không tìm kiếm hay suy ngẫm từ trong lời Đức Chúa Trời để xem Đức Chúa Trời yêu cầu con người điều gì và con người nên sống thể hiện ra nhân tính bình thường như thế nào.) Đại Minh đang sống dựa trên điều gì? (Thưa, quan niệm và tưởng tượng.) Sống dựa trên quan niệm và tưởng tượng, đây là câu sáo rỗng; thực ra Đại Minh đang sống dựa trên văn hóa truyền thống, xem văn hóa truyền thống là lẽ thật. Đại Minh đang sống dựa trên văn hóa truyền thống – những chi tiết nào liên quan đến điều này? Tại sao Đại Minh lại muốn Tiểu Minh gọi mọi người theo những danh xưng nhất định? (Thưa, bề ngoài Đại Minh nói rằng làm thế là để mang vinh hiển cho Đức Chúa Trời thông qua những hành vi tốt này, nhưng thực ra Đại Minh muốn thỏa mãn lòng hư vinh của chính mình, muốn được khen ngợi vì biết dạy con tốt.) Đúng vậy, đó chính là dụng ý của Đại Minh. Đại Minh dạy con, không phải là để khiến cho con mình hiểu được lời Đức Chúa Trời và lẽ thật, mà là để khiến cho con mình làm những việc khiến mình được nở mày nở mặt, để thỏa mãn lòng hư vinh của mình. Đây cũng là một vấn đề. Luôn chú trọng tô điểm và tạo vỏ bọc cho chính mình thông qua hành vi, đây có phải là vấn đề không? (Thưa, phải.) Đây là vấn đề về con đường đi, và đây là vấn đề nghiêm trọng nhất. Mục đích của việc luôn chú trọng tạo vỏ bọc cho hành vi của mình là gì? Đó là để khiến người khác đánh giá cao, tâng bốc và khen ngợi. Tính chất của việc này là gì? Đó là giả hình, đó là cách làm của người Pha-ri-si. Những người chú trọng vào hành vi tốt bề ngoài, chú trọng vào việc tạo vỏ bọc cho hành vi của mình, dốc nhiều công sức cho hành vi của mình – họ có hiểu được lẽ thật không? (Thưa, không.) Họ đã đọc rất nhiều lời Đức Chúa Trời, cũng bỏ không ít công sức, nhưng tại sao họ lại không hiểu được lẽ thật? Họ không hiểu được rằng sự quản lý và cứu rỗi nhân loại của Đức Chúa Trời là nhằm đạt đến khiến con người hiểu được lẽ thật, nhằm hoàn thiện con người và khiến con người thay đổi tâm tính – họ không hiểu điều này. Họ cho rằng: “Dù có đọc bao nhiêu lời Đức Chúa Trời, tôi cũng sẽ đúc kết một số câu nói, cách làm và hành vi mà mọi người dễ tán thành, đánh giá cao và tán thưởng hơn, sau đó tôi sẽ sống thể hiện ra và giữ vững những điều này trong đời thực. Làm như vậy thì sẽ là tín đồ chân chính”.

Các ngươi có những vấn đề tương tự như của Đại Minh không? Ngoài những khía cạnh rõ ràng vừa mới nói, chẳng hạn như biết quy củ, để ý thứ bậc, kính già yêu trẻ và biết lớn biết nhỏ, thì còn có những hành vi, tư tưởng, quan điểm hoặc nhận thức tương tự nào khác không? Bản thân các ngươi có biết đào xới và mổ xẻ những vấn đề này không? Chẳng hạn như trong hội thánh, nếu ai đó lớn tuổi hơn hoặc đã tin Đức Chúa Trời được nhiều năm, thì ngươi luôn muốn cho họ chút thể diện. Ngươi để cho họ nói cho hết, chứ không ngắt lời, cho dù họ đang nói nhảm, và ngay cả khi họ làm gì sai và cần được tỉa sửa, ngươi vẫn cố gắng giữ thể diện cho họ và tránh phê bình họ trước mặt người khác, bất kể họ hành động có vô lý hoặc tồi tệ thế nào thì mọi người vẫn cần phải bỏ qua và bao dung cho họ. Ngươi cũng thường dạy người khác rằng: “Chúng ta nên cho người lớn tuổi chút thể diện và đừng làm họ mất thể diện. Chúng ta là vãn bối của họ”. Từ “vãn bối” này bắt nguồn từ đâu? (Thưa, từ văn hóa truyền thống.) Nó bắt nguồn từ tư tưởng văn hóa truyền thống. Hơn nữa, trong hội thánh đã hình thành một loại tập tục, khi gặp anh chị em lớn tuổi hơn, mọi người sẽ gọi họ là “Anh lớn”, “Chị lớn”, “Cô”, hoặc “người anh em già”, nghe đặc biệt thân thiết, như thể mọi người đều là người nhà; những người lớn tuổi hơn này được mọi người tỏ vẻ kính trọng hơn hẳn, vô hình trung để lại ấn tượng tốt về những người trẻ trong tâm trí người khác. Những yếu tố của văn hóa truyền thống này đã thâm căn cố đế trong tư tưởng và cốt tủy của người Trung Quốc, đến mức ngay cả trong đời sống hội thánh, nó cũng không ngừng lan truyền và hình thành một tập tục. Bởi vì mọi người thường bị những thứ này hạn chế và khống chế, không những bản thân họ công nhận, nỗ lực hành động và thực hành theo hướng này, mà còn tán thành và dạy người khác làm như vậy. Văn hóa truyền thống không phải là lẽ thật; đó là điều chắc chắn. Nhưng nếu người ta chỉ đơn giản biết rằng nó không phải là lẽ thật thì đã đủ chưa? Việc nó không phải là lẽ thật chỉ là một khía cạnh, tại sao chúng ta cần mổ xẻ nó? Căn nguyên của nó là gì? Thực chất vấn đề nằm ở đâu? Làm sao để buông bỏ được những thứ này? Mổ xẻ văn hóa truyền thống là để cho ngươi một nhận thức hoàn toàn mới trong sâu thẳm nội tâm về những lý luận, tư tưởng và quan điểm trong khía cạnh này. Làm sao mới có thể đạt được nhận thức hoàn toàn mới này? Đầu tiên, ngươi phải biết rằng văn hóa truyền thống bắt nguồn từ Sa-tan. Và Sa-tan tiêm nhiễm những yếu tố văn hóa truyền thống này vào con người như thế nào? Trong mọi thời đại, Sa-tan đều dùng một số danh nhân và vĩ nhân để truyền bá những tư tưởng này, những cái gọi là câu nói và lý luận này. Sau đó, những tư tưởng này dần dần được hệ thống hóa và cụ thể hóa, ngày càng gần với đời sống của con người, sau đó trở nên phổ biến trong nhân loại; từng chút một, tâm trí con người bị tiêm nhiễm những tư tưởng, câu nói và lý luận của Sa-tan này. Sau khi bị tiêm nhiễm, con người xem những tư tưởng và lý luận của Sa-tan này là những điều tích cực nhất mà họ nên thực hành và tuân theo. Sau đó, Sa-tan sử dụng những thứ này để giam cầm và khống chế tư tưởng của con người. Từ thế hệ này qua thế hệ khác, nhân loại đều bị giáo dục, hun đúc và khống chế trong những hoàn cảnh như thế mãi đến tận ngày nay. Hết thảy những thế hệ này đều cho rằng văn hóa truyền thống là đúng đắn và tốt đẹp. Không có một ai mổ xẻ xuất xứ hay căn nguyên của những thứ được gọi là tốt đẹp và đúng đắn này – đây chính là tính chất nghiêm trọng của vấn đề. Thậm chí có những người tin Đức Chúa Trời và đọc lời Đức Chúa Trời nhiều năm rồi mà vẫn cho rằng đây là những điều đúng đắn và tích cực, đến mức độ tin rằng những điều này có thể thay thế lẽ thật, có thể thay thế lời Đức Chúa Trời. Tệ hơn nữa, một số người còn nghĩ: “Dù chúng ta có đọc bao nhiêu lời Đức Chúa Trời đi nữa, thì khi sống giữa mọi người, những cái gọi là tư tưởng truyền thống và văn hóa truyền thống – như tam tòng tứ đức, và nhân, nghĩa, lễ, trí, tín – không thể bỏ được. Bởi vì những điều này do tổ tiên chúng ta truyền lại, mà tổ tiên chúng ta là những bậc thánh hiền. Chúng ta không thể chỉ vì tin Đức Chúa Trời mà đi ngược lại lời dạy của tổ tiên, không thể thay đổi hoặc từ bỏ những lời dạy của các bậc cổ thánh tiên nhân”. Trong lòng mọi người đều có những tư tưởng và ý thức như thế. Họ đều vô thức bị những thứ văn hóa truyền thống này khống chế và trói buộc. Chẳng hạn như khi một đứa trẻ thấy ngươi tầm hai mươi tuổi và gọi ngươi là “chú”, ngươi cảm thấy vui mừng và hài lòng. Nếu chúng gọi thẳng ngươi bằng tên, thì trong lòng ngươi không thoải mái, nghĩ rằng đứa trẻ này không biết lễ phép, nên được dạy dỗ, và thái độ của ngươi cũng thay đổi. Thực ra, dù chúng gọi ngươi là chú hay bằng tên, thì cũng không hề ảnh hưởng gì đến nhân cách của ngươi. Vậy tại sao ngươi lại không vui khi chúng không gọi ngươi là chú? Đó là bởi vì ngươi bị văn hóa truyền thống chi phối và ảnh hưởng; những thứ này vào tâm trí ngươi trước nên giành vai làm chủ, trở thành tiêu chuẩn cơ bản nhất của ngươi để đối đãi với con người, sự việc và sự vật, cũng như để đánh giá và phán đoán mọi sự. Khi tiêu chuẩn của ngươi sai, thì tính chất hành động của ngươi có thể đúng được không? Chắc chắn là không đúng. Nếu dùng lẽ thật để đánh giá, thì ngươi nên tiếp cận chuyện này như thế nào? Ngươi có quan tâm người khác gọi mình là gì không? (Thưa, không.) Trừ khi họ xúc phạm hoặc sỉ nhục ngươi – trong trường hợp đó, ngươi chắc chắn sẽ cảm thấy không thoải mái; đây là biểu hiện bình thường của nhân tính. Nhưng nếu tiêu chuẩn đánh giá của ngươi là lời Đức Chúa Trời, lẽ thật hoặc văn hóa đến từ Đức Chúa Trời, thì dù mọi người có gọi ngươi bằng tên hay là “chú” hoặc “anh”, chắc chắn ngươi sẽ không có phản ứng gì. Trong chuyện này, ngươi có thể nhập gia tùy tục. Chẳng hạn như ở Trung Quốc, khi ai đó gọi ngươi là “chú”, ngươi cảm thấy họ đang tôn trọng mình. Nhưng nếu ngươi đến một quốc gia phương Tây và ai đó gọi ngươi là “chú”, ngươi liền cảm thấy khó chịu; ngươi thích được gọi bằng tên hơn, xem đó là một hình thức tôn trọng. Ở Trung Quốc, nếu ai đó nhỏ tuổi hơn ngươi nhiều mà gọi ngươi bằng tên, thì ngươi rất không vui, cảm thấy họ xem thường thứ bậc; cảm thấy đây là mối nhục lớn, thế là ngươi sẽ nổi giận, thậm chí kết tội người này. Đây chẳng phải là có vấn đề trong tư tưởng sao? Đây chính là vấn đề mà Ta muốn nói đến.

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có văn hóa truyền thống riêng. Có phải chúng ta phê phán tất cả mọi văn hóa truyền thống không? Có một văn hóa không nên phê phán. Các ngươi có thể nói đó là văn hóa nào không? Ta sẽ cho các ngươi một ví dụ. Đức Chúa Trời tạo dựng A-đam, ai đã đặt tên cho A-đam? (Thưa, Đức Chúa Trời.) Vậy Đức Chúa Trời tạo dựng nhân loại, và khi tiếp xúc với họ, Ngài xưng hô với con người như thế nào? (Thưa, Ngài gọi họ bằng tên của họ.) Đúng vậy, Ngài gọi họ bằng tên của họ. Đức Chúa Trời cho ngươi một cái tên, và cái tên này có ý nghĩa trong mắt Đức Chúa Trời; nó đóng vai trò như một tên gọi, một danh xưng. Khi Đức Chúa Trời cho ngươi một tên gọi, Ngài gọi ngươi bằng tên gọi này. Đây chẳng phải là một hình thức tôn trọng sao? (Thưa, phải.) Đây là hình thức tôn trọng nhất, sự tôn trọng phù hợp nhất với lẽ thật và tích cực nhất. Đây là tiêu chuẩn tôn trọng mọi người, và nó đến từ Đức Chúa Trời. Đây chẳng phải là một hình thức văn hóa sao? (Thưa, phải.) Chúng ta có nên khuyến khích văn hóa này không? (Thưa, có.) Điều này đến từ Đức Chúa Trời; Đức Chúa Trời gọi thẳng con người bằng tên của họ. Đức Chúa Trời cho ngươi một cái tên, cho ngươi một tên gọi, rồi sử dụng tên gọi này để đại diện cho ngươi và lấy đó mà gọi ngươi. Đây là cách Đức Chúa Trời đối đãi con người. Khi Đức Chúa Trời tạo dựng con người thứ hai, Ngài đối đãi với cô ấy như thế nào? Đức Chúa Trời để cho A-đam đặt tên cho cô ấy. A-đam đã đặt tên cho cô ấy là Ê-va. Đức Chúa Trời có gọi cô ấy bằng cái tên này không? Ngài gọi bằng tên này. Cho nên, đây là một văn hóa đến từ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời cho mỗi loài thọ tạo một tên gọi, và khi Ngài gọi tên gọi đó, cả con người và Đức Chúa Trời đều biết ai đang được nói đến. Đây gọi là tôn trọng, đây gọi là bình đẳng, đây là tiêu chuẩn để đánh giá liệu người ta có lễ phép hay không, liệu có một tiêu chuẩn về quy củ trong nhân tính của họ hay không. Nó có chuẩn xác không? (Thưa, có.) Như vậy là chuẩn xác. Trong Kinh Thánh, dù là ghi lại một sự kiện nào đó hay gia phả của một gia tộc, tất cả mọi nhân vật đều có tên, họ có tên gọi. Tuy nhiên, có một điều mà không biết các ngươi có để ý hay không: Kinh Thánh không sử dụng những cách xưng hô như ông, bà, cô, chú, bác, v.v., mà chỉ đơn giản sử dụng tên của người ta. Từ chuyện này, các ngươi thấy ra điều gì? Những gì Đức Chúa Trời đã đặt ra cho con người, dù là quy luật hay phép tắc, thì nói theo ngôn ngữ của con người, đó là một dạng truyền thống được truyền lại cho con người. Và truyền thống được truyền lại từ Đức Chúa Trời này là gì? Đó là điều con người nên tuân theo: không cần phải có những danh xưng theo thứ bậc. Trong mắt Đức Chúa Trời, không có những danh xưng rối tinh rối mù như ông, bà, bác, chú, bác, cô, dì, v.v.. Con người luôn muốn ngâm cứu những danh xưng và thứ bậc này như vậy là có ý gì? Đức Chúa Trời ghê tởm những thứ này nhất. Chủng loại của Sa-tan luôn nhặng xị lên về chuyện này. Nhìn từ văn hóa truyền thống này, trong mắt Đức Chúa Trời có một chuyện rất thực tế: đó là Đức Chúa Trời tạo dựng toàn thể nhân loại, và Ngài biết rõ một người có thể có bao nhiêu gia tộc và hậu duệ; Ngài không cần bất kỳ hệ thống thứ bậc nào. Đức Chúa Trời chỉ phán rằng hãy sinh sôi, nảy nở, hãy làm cho gia tộc ngươi thịnh vượng – ngươi chỉ cần ghi nhớ như vậy là được rồi. Mỗi thế hệ có bao nhiêu con cháu, và những con cháu đó có bao nhiêu con cháu – chỉ có vậy thôi, không cần hệ thống thứ bậc. Các thế hệ sau không cần biết tổ tiên của họ là ai, cũng không cần xây từ đường hay đền thờ tổ tiên, càng không cần cung phụng hay thờ cúng tổ tiên. Kinh Thánh ghi chép rằng tất cả những ai tin Đức Chúa Trời và đi theo Ngài, tất cả những ai tin Đức Giê-hô-va, đều dâng của lễ trước bàn thờ. Mọi thành viên trong gia đình đều đến trước Đức Chúa Trời và dâng của lễ. Chứ không giống như người Trung Quốc, mỗi gia tộc đều có một từ đường, bên trong bày đầy bài vị cho cụ tổ, ông tổ, bà tổ. Ở nơi Đức Chúa Trời mới bắt đầu công tác của Ngài, những thứ này không tồn tại. Tuy nhiên, những nơi khác cách xa công tác của Đức Chúa Trời lại chịu sự khống chế của Sa-tan và tà linh. Ở các quốc gia Phật Giáo này, những thông lệ Sa-tan đặc biệt thịnh hành. Ở đó mọi người luôn phải thờ cúng tổ tiên, chuyện gì cũng phải báo cáo gia tộc, chuyện gì cũng phải báo cáo tổ tiên của gia tộc; cho dù tro cốt tổ tiên không còn, các thế hệ sau vẫn phải dâng hương, cúi lạy. Trong thời cận đại, một số người tiếp xúc với những trào lưu Tây phương mới mẻ và bứt phá khỏi sự trói buộc của gia tộc truyền thống, họ không muốn ở lại trong những gia tộc như thế. Họ cảm thấy bị những gia tộc như thế kiểm sát chặt chẽ và cứng nhắc, bị những trưởng bối trong gia tộc can thiệp trong gần như mọi việc, nhất là trong chuyện hôn nhân. Ở Trung Quốc, những chuyện như thế không phải là hiếm. Sa-tan đã khiến con người chú trọng vào thứ bậc, và khái niệm này có vẻ được mọi người sẵn sàng tiếp nhận, cho rằng: “Mỗi thế hệ đều có thứ bậc riêng; những ai ở trên cùng là tổ tiên của chúng ta. Một khi nhắc đến từ ‘tổ tiên’, mọi người nên quỳ lạy họ như thần linh”. Từ bé người ta đã chịu sự ảnh hưởng, hun đúc và giáo dục như thế bởi gia tộc; tâm linh non nớt của họ bị tiêm nhiễm một điều rằng: người ta không thể sống trên đời này nếu thiếu gia tộc, và việc rời bỏ gia tộc hay thoát khỏi sự trói buộc của gia tộc chính là đại nghịch bất đạo. Đại nghịch bất đạo ngụ ý là gì? Ngụ ý rằng nếu ngươi không nghe theo gia tộc mình, thì ngươi là đứa con bất hiếu, và bất hiếu có nghĩa là ngươi không phải là người. Vì thế, hầu hết mọi người không dám thoát khỏi những xiềng xích gia tộc này. Người Trung Quốc bị hệ thống thứ bậc, bị những thứ như tam tòng tứ đức, tam cương ngũ thường hun đúc, tiêm nhiễm và khống chế nặng nề. Người trẻ mà không gọi người lớn tuổi hơn là cô, chú, bác, ông, bà cho đúng thường bị xem là không biết lễ phép, không có giáo dưỡng. Điều này nghĩa là gì? Có nghĩa là ngươi bị xem là hạ đẳng trong nhóm dân tộc này, trong xã hội này, bởi vì ngươi không biết quy củ, không có giáo dưỡng, và chẳng nên trò trống gì. Người khác ăn mặc chỉnh tề, giỏi giả vờ, và nói chuyện vừa có quy củ, vừa có duyên, miệng lưỡi ngọt xớt, trong khi thậm chí ngươi còn không biết gọi ai đó là chú hay cô. Mọi người sẽ nói ngươi không có giáo dưỡng, và đi đâu ngươi cũng bị xem thường. Đây là dạng tư tưởng mà người Trung Quốc bị tiêm nhiễm. Có những đứa trẻ không biết cách gọi mọi người liền bị cha mẹ la mắng thậm tệ hoặc thậm chí đánh đập. Trong khi đánh con, có những cha mẹ nói: “Mày không biết lễ phép, chẳng nên trò trống gì, chẳng có giáo dưỡng; tao đánh chết mày! Mày chỉ làm xấu mặt tao, làm tao mất mặt trước người ta!”. Chỉ vì đứa con không biết cách gọi người khác, mà cha mẹ làm to chuyện vì thể diện của chính họ, đánh đập con cái thậm tệ. Đây là chuyện gì vậy? Chính là nói nhảm! Nếu Ta không thông công như vậy, liệu các ngươi có nhận ra được những điều này không? Các ngươi có thể nào thông qua hiện tượng mình quan sát thấy trong đời sống thực tế, thông qua việc đọc lời Đức Chúa Trời, hoặc thông qua trải nghiệm của chính mình, mà dần dần và từng bước nhìn thấu được những việc này, sau đó thay đổi phương hướng cuộc đời mình, thay đổi phương hướng của con đường mình đi không? Nếu không thể thì ngộ tính của các ngươi quá kém. Trong mọi việc, sử dụng lời Đức Chúa Trời, công tác của Đức Chúa Trời và yêu cầu của Đức Chúa Trời làm tiêu chuẩn là cách tiếp cận đúng đắn nhất, không sai lầm chút nào – đây là điều chắc chắn. Bất cứ thứ gì từ Sa-tan, dù có hợp với quan niệm hoặc thị hiếu của con người như thế nào, dù có vẻ đúng đắn thế nào, cũng không phải là lẽ thật, mà là thứ giả mạo.

Mục đích Ta kể câu chuyện này là để các ngươi mở mang đầu óc, để các ngươi hiểu lẽ thật là gì, con người tin Đức Chúa Trời thì rốt cuộc phải đạt được gì, việc Đức Chúa Trời khiến con người thay đổi tâm tính và đạt được lẽ thật rốt cuộc nghĩa là gì, và liệu lẽ thật mà Đức Chúa Trời phán cũng như các yêu cầu của Ngài có liên quan gì đến những gì con người có thể hình dung, hoặc những tư tưởng, quan điểm và nhận thức khác nhau nảy sinh từ sự giáo dục và hun đúc từ hoàn cảnh quốc gia và xã hội của họ hay không. Các ngươi cũng nên tự mình mổ xẻ những chuyện này. Hôm nay, ví dụ của chúng ta chỉ đề cập đến một khía cạnh. Thực ra trong lòng mỗi người đều không thiếu những thứ văn hóa truyền thống này. Có những người nói: “Vì chúng ta nên loại bỏ thứ bậc, vậy nghĩa là tôi có thể gọi ba mẹ mình bằng tên được không?”. Như thế có được không? Nếu ngươi gọi ba mẹ mình là ba và mẹ, liệu điều đó có nghĩa là ngươi vẫn đang tuân theo thứ bậc và rơi vào văn hóa truyền thống không? Không. Vẫn nên gọi ba mẹ như họ nên được gọi; gọi họ là ba và mẹ là cách Đức Chúa Trời yêu cầu con người xưng hô với họ. Đây là cách họ nên được gọi; cũng giống như cách ba mẹ ngươi gọi ngươi là “con”, “con trai” hay “con gái” vậy. Việc Ta kể câu chuyện này là để cho các ngươi chủ yếu hiểu được điều gì? Chủ yếu là để giải quyết vấn đề gì? (Thưa, tiêu chuẩn đánh giá mọi sự của con người phải thay đổi; chuyện gì cũng phải lấy lời và yêu cầu của Đức Chúa Trời làm tiêu chuẩn.) Đúng vậy. Chớ mù quáng bịa ra lung tung. Con người luôn muốn tạo ra “lẽ thật” của chính mình. Hễ muốn làm gì đó, họ liền nghĩ ra một bộ câu nói và lý luận, rồi nghĩ ra một bộ cách thức, và cứ thế mà làm, bất kể đúng sai. Kết quả là họ thực hành như vậy trong nhiều năm, nhất quyết bám vào đó bất kể nó có hiệu quả hay không, còn cảm thấy mình rất nhân nghĩa và lương thiện, bản thân sống thể hiện ra rất tốt, lại khiến người khác đặc biệt tán thưởng và xem trọng, cuối cùng họ ngày càng tưởng rằng mình vĩ đại. Con người chẳng bao giờ ngẫm nghĩ, suy ngẫm, cũng không tìm kiếm xem trong mỗi chuyện, yêu cầu của Đức Chúa Trời là gì, nguyên tắc hành động là gì, và trong quá trình làm bổn phận, liệu họ đã hết lòng trung thành với sự ủy thác của Đức Chúa Trời hay chưa. Họ không suy ngẫm về những điều này, mà toàn ngẫm nghĩ những chuyện oai môn tà đạo – đây chẳng phải là phạm tà sao? (Thưa, phải.) Ai mà bề ngoài hòa nhã, hành vi đúng mực, có giáo dưỡng và biết quy củ, miệng đầy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; ai mà nói chuyện khéo léo tinh tế, nói những lời êm tai – hãy quan sát xem liệu một người như thế có thực hành lẽ thật hay không. Nếu họ không bao giờ thực hành lẽ thật, thì họ chỉ là ngụy quân tử giả hình, là loại người như Đại Minh, không khác chút nào. Những người chỉ chú trọng vào việc có hành vi tốt và dùng hành vi tốt để lừa cho người ta tán thưởng và xem trọng là loại người gì? (Thưa, là người giả hình.) Những người này có hiểu biết thuộc linh không? (Thưa, không.) Người không có hiểu biết thuộc linh thì có thể thực hành lẽ thật được không? (Thưa, không thể.) Tại sao họ không thể? (Thưa, vì họ không hiểu lẽ thật là gì, nên họ chỉ lấy một số hành vi tốt bề ngoài và những điều mà mọi người xem là tốt, để xem là lẽ thật và thực hành theo.) Đó không phải là điểm chính. Dù họ có không hiểu được lẽ thật thế nào đi nữa, chẳng phải họ vẫn biết một số nguyên tắc hành động rõ ràng sao? Khi họ làm bổn phận, ngươi bảo họ phải làm như thế nào, chẳng phải họ có thể hiểu sao? Những người như thế có một đặc trưng: họ không dự tính thực hành lẽ thật. Dù ngươi có nói gì đi nữa, họ cũng sẽ không nghe; họ sẽ chỉ nói và làm theo ý mình. Gần đây chúng ta thường xuyên nói về những biểu hiện khác nhau của kẻ địch lại Đấng Christ. Hãy nhìn những người xung quanh ngươi: xem ai đã có chút chuyển biến, những hành vi và nguyên tắc hành động của ai chưa hề thay đổi, lòng ai vẫn không lay chuyển dù ngươi có thông công với họ thế nào đi nữa, ai vẫn không thay đổi, hoặc không có ý định thay đổi, và tiếp tục hành động theo ý mình, ngay cả khi họ có thể đối chiếu nội dung thông công của ngươi với chính mình. Các ngươi có phát hiện ra những người như thế chưa? Có rồi, phải không? Tại sao một số lãnh đạo và người làm công bị cách chức? Chính là vì họ không thực hành lẽ thật, họ không làm công tác thực tế. Họ hiểu đủ loại đạo lý, và họ cứ nhất quyết làm theo cách của mình. Dù ngươi có thông công về các nguyên tắc lẽ thật như thế nào đi nữa, họ vẫn có bộ quy tắc riêng của họ, bám vào chủ kiến riêng của họ và không chịu nghe ai. Họ cứ làm theo ý mình – ngươi nói một đằng, họ làm một nẻo. Những lãnh đạo và người làm công như thế này nên bị cách chức, phải không? (Thưa, phải.) Dạng người này nên bị cách chức. Dạng người này đang đi trên con đường nào? (Thưa, con đường của kẻ địch lại Đấng Christ.) Đi con đường của kẻ địch lại Đấng Christ, đến lúc chín muồi, chính họ sẽ có thể trở thành một kẻ địch lại Đấng Christ. Đó chỉ là vấn đề thời gian mà thôi. Nếu như, cho dù ngươi có thông công về lẽ thật với họ thế nào, họ vẫn không tiếp nhận và không hề thay đổi, vậy thì rất phiền phức, họ đã trở thành kẻ địch lại Đấng Christ rồi.

Câu chuyện Ta kể ngày hôm nay đã mở mang cho các ngươi thấy điều gì? Đó là con người dễ đi chệch đường. Tại sao con người lại dễ đi chệch đường? Thứ nhất, con người có những tâm tính bại hoại. Thứ hai, dù bao nhiêu tuổi, con người cũng không phải là tờ giấy trắng trong tư tưởng và sâu thẳm nội tâm họ. Vậy thì câu chuyện này cho các ngươi những lời khuyên nào? Con người dễ đi chệch đường – đây là điều thứ nhất. Thứ hai, con người có xu hướng xem những gì họ cho là tốt và đúng như thể là lẽ thật mà tuân thủ, xem những tri thức Kinh Thánh và đạo lý thuộc linh như lời Đức Chúa Trời mà thực hành. Sau khi hiểu được hai vấn đề này, các ngươi có những nhận thức, ý nghĩ hoặc dự tính mới nào cho con đường mình nên đi sau này, cũng như cho từng việc mình phải làm sau này? (Thưa, sau này khi hành động, chúng con không nên làm theo những gì mình cho là đúng. Đầu tiên, chúng con nên suy xét xem liệu điều mình nghĩ có phù hợp với những gì Đức Chúa Trời mong muốn hay không, và có phù hợp với yêu cầu của Đức Chúa Trời hay không. Chúng con nên tìm nguyên tắc thực hành trong lời Đức Chúa Trời, rồi mới làm. Chỉ như vậy, chúng con mới có thể đảm bảo rằng mình đang thực hành lẽ thật và con đường chúng con đang đi khi tin Đức Chúa Trời là đúng đắn.) Các ngươi phải dốc công sức vào lời Đức Chúa Trời. Chớ tự đoán mò. Ngươi không có hiểu biết thuộc linh; tố chất của ngươi kém; và dù những ý tưởng ngươi nghĩ ra có cao đến đâu cũng không phải là lẽ thật. Dù ngươi có tự tin rằng những gì mình đã làm là hoàn hảo và đúng đắn, thì ngươi cũng nên đem ra cho các anh chị em thông công và xác minh, hoặc đối chiếu với những lời Đức Chúa Trời liên quan. Như vậy, ngươi có thể đạt đến sự hoàn hảo một trăm phần trăm không? Chưa chắc; ngươi vẫn có thể có sai lệch khi thực hành, trừ khi ngươi đã hoàn toàn nắm vững các nguyên tắc lẽ thật và nắm bắt được căn nguyên của câu mà Đức Chúa Trời phán. Một mặt là vậy. Thứ hai là gì? Nếu con người xa rời lời Đức Chúa Trời, thì dù hành động của họ có hợp lý hoặc dễ được tán thành thế nào đi nữa, nó cũng không thể thay thế lẽ thật. Bất cứ điều gì không thể thay thế lẽ thật thì không phải là lẽ thật, càng không phải là điều tích cực. Nếu đó không phải là điều tích cực, thì là gì? Đó chắc chắn không phải là điều làm vui lòng Đức Chúa Trời, cũng không phù hợp với lẽ thật; mà là điều mà Đức Chúa Trời định tội. Nếu ngươi làm điều mà Đức Chúa Trời định tội, hậu quả sẽ là gì? Ngươi sẽ khiến Đức Chúa Trời ghê tởm. Hễ thứ gì không đến từ Đức Chúa Trời thì đều là thứ tiêu cực và đến từ Sa-tan. Một số người có thể không hiểu được điều này; cứ dần dần trải nghiệm rồi sẽ hiểu được.

Hôm nay, chúng ta đang nghiêm túc phê phán một điều; chúng ta đang phê phán điều gì? Có phải vấn đề gọi con lợn nái già là cô lợn không? Gọi con lợn là “cô lợn” có đáng xấu hổ không? (Thưa, có.) Nó là một chuyện đáng xấu hổ. Mọi người luôn muốn có một tôn xưng. Từ “tôn” này đến từ đâu? “Tôn” nói đến điều gì? Có phải là về thứ bậc không? (Thưa, phải.) Luôn muốn được xem là trưởng bối, luôn chú trọng vào thứ bậc – như vậy có tốt không? (Thưa, không.) Tại sao chú trọng vào thứ bậc lại không tốt? Ngươi nên phân tích ý nghĩa của việc chú trọng vào thứ bậc là gì. Rất đơn giản, chỉ cần nói như thế này: “Đức Chúa Trời không cho phép con người chú trọng vào thứ bậc, tại sao anh lại bàn luận vô nghĩa về nó vậy? Anh đang nói hươu nói vượn, lại còn giả vờ là văn minh. Trong khi làm bổn phận, anh không bao giờ suy xét đến lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, ăn cây táo rào cây sung. Khi có chuyện liên quan đến lợi ích bản thân thì không do dự mà bán rẻ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, lại còn giả vờ là người tốt gì chứ! Anh mà xứng làm người tốt à?”. Nói như thế có được không? (Thưa, được.) Nghiêm khắc hơn nữa thì nên nói thế nào? “Anh đang nói nhảm gì vậy? Anh chính là cái đồ con lợn, đồ ngu, một chút lẽ thật cũng không hiểu. Anh còn giả mạo gì chứ? Anh có học vấn, có văn hóa, lại tin Đức Chúa Trời. Anh đã đọc nhiều lời Đức Chúa Trời đến vậy, còn cảm thấy mình tin Đức Chúa Trời rất tốt. Nhưng cuối cùng, thậm chí anh còn không biết thực hành lẽ thật là gì. Chẳng phải anh chính là đồ con lợn, đồ ngu sao?”. Câu chuyện này khép lại ở đây. Bây giờ hãy cùng quay lại chủ đề thông công chính.

Mổ xẻ về cách kẻ địch lại Đấng Christ làm việc theo cách quỷ dị, độc đoán chuyên quyền, và ép người khác phải thuận phục mình

I. Mổ xẻ về cách làm việc quỷ dị của kẻ địch lại Đấng Christ

Lần trước chúng ta đã thông công về mục thứ năm trong những biểu hiện của kẻ địch lại Đấng Christ – họ mê hoặc, lôi kéo, đe dọa và khống chế mọi người. Hôm nay chúng ta sẽ thông công về mục sáu – họ làm việc theo cách quỷ dị, độc đoán chuyên quyền, không bao giờ thông công với người khác, và ép người khác phải thuận phục mình. Có sự khác biệt giữa mục này và mục năm không? Về mặt tâm tính thì không có sự khác biệt lớn; những hành động trong cả hai mục này đều là nắm quyền và độc đoán chuyên quyền. Tâm tính đều là tà ác, kiêu ngạo, cương ngạnh và hung ác; tâm tính trong hai mục này giống nhau. Tuy nhiên, mục sáu nêu bật một biểu hiện nổi bật khác của kẻ địch lại Đấng Christ, đó là hành động quỷ dị – nó liên quan đến tính chất hành động của kẻ địch lại Đấng Christ. Bây giờ, đầu tiên hãy cùng thảo luận về từ “quỷ dị”. Xét về nghĩa đen, “quỷ dị” là từ chê bai hay khen ngợi? Nếu ai đó làm chuyện gì quỷ dị, thì chuyện đó là tốt hay xấu? (Thưa, xấu.) Nếu ai đó bị nói là hành động quỷ dị, thì người này tốt hay xấu? Rõ ràng, trong ấn tượng và cảm nhận của mọi người, người hành động quỷ dị thì không phải là thứ tốt gì. Nếu ai đó gặp phải chuyện gì quỷ dị, thì nó khiến họ vui vẻ hay là sởn tóc gáy? (Thưa, sởn tóc gáy.) Nó không phải là chuyện tốt gì. Tóm lại, xét nghĩa đen, quỷ dị là từ chê bai, dù nó mô tả bản thân hành động hay cách hành động của người ta thì cũng không có gì tích cực cả; nó chắc chắn là tiêu cực. Bây giờ, đầu tiên hãy cùng giải thích những biểu hiện của quỷ dị là gì. Tại sao lại gọi là quỷ dị, chứ không gọi là giả dối? Từ “quỷ dị” có hàm ý đặc biệt gì ở đây? Quỷ dị thâm sâu hơn giả dối. Để người ta nhìn thấu được ai đó hành động quỷ dị thì mất nhiều thời gian hơn và khó hơn, chẳng phải sao? (Thưa, phải.) Chuyện này quá rõ ràng. Vậy hãy sử dụng những từ ngữ mà các ngươi có thể lĩnh hội để giải thích từ “quỷ dị”. “Quỷ” là nói đến sự nham hiểm, xảo trá, “dị” là dị thường, “quỷ dị” có nghĩa là nham hiểm, xảo trá, và hành vi đặc biệt dị thường. Sự dị thường này nói đến sự ẩn giấu thâm sâu không hề lộ ra, người bình thường không thể ngẫm ra hay thấy ra loại người này đang nghĩ gì, đang làm gì. Nói cách khác, những phương thức, động cơ và xuất phát điểm hành động của loại người này đặc biệt khiến người ta khó mà ngẫm ra, và có lúc hành vi của họ cũng vụng trộm lén lút. Tóm lại, có một thuật ngữ có thể mô tả được biểu hiện và tình trạng thực tế của quỷ dị, đó là “thiếu minh bạch”, khiến người khác không tưởng tượng nổi, ngẫm mãi không ra. Hành động của kẻ địch lại Đấng Christ có tính chất này – nghĩa là khi ý thức và cảm nhận được ý định của họ khi làm gì đó không đơn giản, ngươi cảm thấy rất đáng sợ, nhưng trong thời gian ngắn hoặc vì lý do nào đó, ngươi vẫn không thể nhìn thấu được động cơ và ý định của họ, mà chỉ bất tri bất giác cảm thấy hành động của họ rất quỷ dị. Tại sao họ lại khiến ngươi có dạng cảm giác này? Một mặt là bởi vì không ai nắm bắt nổi những gì họ nói hoặc làm. Mặt khác là họ thường nói chuyện quanh co lòng vòng, giương đông kích tây, cuối cùng khiến ngươi không biết lời nào của họ là thật, lời nào là giả, và lời họ nói thực sự có ý gì. Khi họ nói dối, ngươi nghĩ là thật; ngươi không biết lời nào là thật, lời nào là giả, và ngươi thường cảm thấy bị lừa bịp, bị chơi xỏ. Tại sao lại có cảm giác này? Đó là bởi vì loại người này không bao giờ hành động minh bạch; ngươi không thể thấy rõ họ đang làm cái gì, bận rộn việc gì, khiến cho ngươi trong lòng không thể không hoài nghi họ. Cuối cùng, ngươi thấy tâm tính họ giả dối, nham hiểm và cũng tà ác. Từ “quỷ dị” này rất sâu xa, khiến cho người ta nghe cảm thấy rất không tầm thường, nhưng tại sao lại dùng cụm từ “thiếu minh bạch” đơn giản như vậy để giải thích? Có ngụ ý trong cụm từ “thiếu minh bạch” này. Ngụ ý này là gì? Đó là khi muốn làm gì đó, kẻ địch lại Đấng Christ thường cho ngươi thấy một hình tượng giả, khiến ngươi không nhìn thấu họ được. Chẳng hạn như nếu kẻ địch lại Đấng Christ muốn tát vào má bên trái của ngươi, họ sẽ hướng tay về má bên phải. Khi ngươi né để bảo vệ má bên phải, thì họ đã đáp thành công cú tát vào má bên trái rồi, vậy là họ đã đạt được mục đích. Đây chính là quỷ dị, đầy mưu mô – mỗi một người chung sống và giao thiệp với họ đều nằm trong sự tính toán của họ. Tại sao họ lại luôn tính toán? Ngoài việc muốn khống chế mọi người và có địa vị trong lòng người, họ còn muốn thu hoạch lợi ích từ tất cả mọi người. Thêm vào đó, ngươi cũng phát hiện ra một loại tâm tính tà ác ở loại người này: họ đặc biệt thích lợi dụng người khác hoặc dùng điểm mạnh của bản thân để châm chọc điểm yếu của người khác, lại còn lấy việc đùa bỡn người khác làm niềm vui. Đây là một biểu hiện tà ác của họ. Người đời gọi loại người này là bụng dạ sâu xa. Người bình thường nghĩ: “Chỉ người già mới có thể có bụng dạ sâu xa, chứ người trẻ chưa có sự từng trải hay kinh nghiệm xử thế, thì làm sao có thể có bụng dạ sâu xa được?”. Nói thế có đúng không? Không đúng. Tâm tính tà ác của kẻ địch lại Đấng Christ không phụ thuộc vào tuổi tác; họ sinh ra đã có tâm tính này rồi. Chỉ là khi họ còn trẻ và ít kinh nghiệm, thì những thủ đoạn đùa bỡn của họ còn sơ đẳng và chưa tinh xảo. Khi nhiều tuổi hơn, họ trở nên kín như bưng, như những lão ma vương hành động kín như bưng, và đa số mọi người căn bản là không thể nhìn thấu.

Ta vừa giải thích sơ qua về từ “quỷ dị”, bây giờ hãy cùng thông công về những tình trạng và biểu hiện cụ thể của quỷ dị. Chẳng phải điều này đáng để thông công sao? Nếu chúng ta không thông công, liệu các ngươi có biết phân định không? Có thể nhìn thấu được không? (Thưa, không.) Không phải là ngươi hoàn toàn không thể phân định hay nhìn thấu được; có lúc ngươi cũng sẽ cảm thấy một người cụ thể nào đó thực sự quỷ quyệt – quỷ quyệt đến mức họ đem ngươi đi bán mà ngươi còn đếm tiền cho họ – đến mức ngươi phải đề phòng họ. Vậy khi đối đãi với các anh chị em và những người xung quanh, kẻ địch lại Đấng Christ làm những chuyện gì, và bộc lộ những lời nói, hành động nào cho thấy họ hành động theo cách quỷ dị, với tâm tính tà ác? Điều này đáng để thông công. Khi chỉ giải thích từ “quỷ dị” không thôi, mọi người thường thấy khá đơn giản, tra từ điển có lẽ cũng đủ để hiểu ý nghĩa. Nhưng khi nói đến những hành động, hành vi và tâm tính của người ta liên quan đến từ này, là những biểu hiện và tình trạng cụ thể của từ này, thì để hiểu được sẽ vất vả hơn, khó khăn hơn, phải không? Đầu tiên, hãy nhớ lại những người hoặc những kẻ địch lại Đấng Christ cụ thể mà các ngươi từng thấy qua hoặc tiếp xúc. Những việc làm nào của họ khiến ngươi cảm thấy tính chất hành động này liên quan đến sự quỷ dị, hoặc những lời nói, hành động và hành vi thường ngày nào của họ liên quan đến sự quỷ dị? (Thưa, con đã từng gặp phải một kẻ địch lại Đấng Christ, rõ ràng muốn tranh giành địa vị và làm lãnh đạo, nhưng lại nói với các anh chị em rằng: “Chúng ta cần phải tố giác lãnh đạo giả và người làm công giả. Có như vậy chúng ta mới có thể có được công tác của đức thánh linh. Nếu chúng ta không tố giác và vạch trần lãnh đạo giả, thì không thể có được công tác của đức thánh linh. Chúng ta phải cùng nhau đứng lên bảo vệ công tác của hội thánh”. Giương cao ngọn cờ bảo vệ công tác của hội thánh, anh ta tìm cách để nắm thóp các lãnh đạo và người làm công, chuyện bé xé ra to và xúi giục các anh chị em tố giác các lãnh đạo, người làm công. Mục đích của anh ta là để hạ bệ các lãnh đạo và người làm công hầu cho bản thân anh ta có cơ hội trở thành lãnh đạo. Rất nhiều anh chị em không phân định được chuyện này và đã bị anh ta mê hoặc. Thay vì phân định vấn đề dựa trên nguyên tắc, họ lại nắm lấy một số vấn đề nhỏ và sự bộc lộ bại hoại của các lãnh đạo, người làm công để kết tội họ, quy chụp họ và thổi phồng sự việc, khiến hội thánh rơi vào hỗn loạn.) Các ngươi nói xem, đây có phải là quỷ dị không? (Thưa, phải.) Chính xác là vậy. Tại sao lại nói là quỷ dị? Anh ta giương ngọn cờ chính nghĩa để đạt được mục đích không thể nói ra của mình, đồng thời giật dây những người khác đi làm trong khi anh ta không thể hiện bản thân và luôn ẩn mình để quan sát kết quả. Nếu việc thành thì càng tốt, nếu việc không thành thì cũng chẳng ai nhìn thấu được anh ta vì anh ta ẩn mình rất sâu. Đây chính là quỷ dị – đây là một dạng biểu hiện của nó. Anh ta sẽ không để ngươi biết được suy nghĩ thực sự trong sâu thẳm nội tâm, nếu ngươi có thể đoán ra một chút, anh ta liền nhanh chóng tìm đủ mọi cớ và lời lẽ để cực lực che đậy và biện hộ cho bản thân, rất sợ mọi người nhìn thấu chân tướng. Anh ta cố tình làm phức tạp hóa vấn đề; đây gọi là quỷ dị. Còn ai nữa không? (Thưa, cách đây vài năm, một bè lũ kẻ địch lại Đấng Christ đã xuất hiện trong hội thánh của chúng con và nắm quyền khống chế, khiến cho công tác của hội thánh bị rối tinh rối mù. Bề trên đã cử người xuống tiếp quản công tác, nhưng bè lũ kẻ địch lại Đấng Christ này lại sử dụng chiêu bài, nói rằng: “Chúng ta có các lãnh đạo của mình, và chúng ta không chấp nhận lãnh đạo từ nơi khác điều đến; chúng ta có thể tự mình xử lý công tác”. Kết quả là nhiều người bị mê hoặc và nghe theo những kẻ địch lại Đấng Christ này, không chịu tiếp nhận lãnh đạo do Bề trên sắp xếp. Những kẻ địch lại Đấng Christ này thậm chí còn giam lỏng vị lãnh đạo do Bề trên cử đến trong một chỗ, không cho họ tiếp xúc với các anh chị em và khiến họ không thể nào nhúng tay vào công tác của hội thánh hay thực hiện được bất kỳ công tác nào.) Như vậy, những kẻ địch lại Đấng Christ này hết sức quỷ dị – mục đích đằng sau của họ là gì? Họ muốn khống chế hội thánh và thiết lập vương quốc độc lập của riêng mình. Đây chính là quỷ dị; đây chính là một dạng việc mà kẻ địch lại Đấng Christ làm.

Những biểu hiện chính của việc kẻ địch lại Đấng Christ hành động quỷ dị là gì? Một biểu hiện là thiếu minh bạch, và một biểu hiện khác nữa là có những âm mưu không thể cho ai biết. Nếu họ tiết lộ kế hoạch và tính toán của mình với hết thảy mọi người, liệu họ còn có thể làm được chúng nữa không? Chắc chắn là không. Tại sao những người sử dụng thủ đoạn quỷ dị lại hành động như vậy? Mục đích đằng sau những hành động này là gì? Cho đến nay, những gì các ngươi nghĩ đến mới chỉ là khống chế hội thánh, nhưng có những chuyện không liên quan đến việc khống chế hội thánh hay khống chế mọi người. Mê hoặc mọi người trong một hội thánh hoặc một khu vực là chuyện tương đối lớn, vậy mục đích đằng sau những hành vi và hành động nhỏ hơn của kẻ địch lại Đấng Christ trong những lúc bình thường là gì? Chính là để lợi dụng mọi người và khiến mọi người phải ra sức vì họ để thỏa mãn lợi ích của họ, để phục vụ cho mục đích riêng của họ. Trong khi Đức Chúa Trời sắp đặt con người và tể trị số phận của họ, thì kẻ địch lại Đấng Christ cũng muốn tể trị số phận của mọi người và sắp đặt mọi người. Nhưng nếu họ nói thẳng rằng họ muốn sắp đặt cho ngươi, liệu ngươi có đồng ý không? Nếu họ nói rằng họ muốn sai khiến ngươi như nô lệ, liệu ngươi có đồng ý không? Nếu họ nói rằng họ là lãnh đạo và ngươi phải nghe theo họ, liệu ngươi có đồng ý không? Chắc chắn ngươi sẽ không đồng ý. Vì thế, họ phải dùng tới một số thủ đoạn khác thường để ngươi bất tri bất giác bị họ lợi dụng; đây gọi là quỷ dị. Chẳng hạn như con rồng lớn sắc đỏ hoạt động theo cách quỷ dị, sử dụng những cái cớ nghe có vẻ chính đáng để mê hoặc mọi người. Nó muốn sung công tài sản của địa chủ và tư bản thì sẽ làm thế nào? Nó có lập chính sách bằng văn bản nói rằng tất cả các tài sản có giá trị lớn hơn một con số nhất định phải được chuyển giao cho nhà nước không? Nếu nó công khai tuyên bố như vậy thì có được không? (Thưa, không được.) Vì như vậy không được, nên nó đã làm gì? Nó phải tìm một cách mà hết thảy mọi người đều cho là đúng để danh chính ngôn thuận tịch thu tài sản của địa chủ và tư bản và sung công. Như vậy loại bỏ được thế lực của địa chủ và tư bản, làm giàu cho đất nước và củng cố sự thống trị của nó. Con rồng lớn sắc đỏ đã làm như thế nào? (Thưa, bằng cách đánh địa chủ, chia ruộng đất.) Nó đã giương cao ngọn cờ “đánh địa chủ, chia ruộng đất” và “người người bình đẳng”, sau đó bịa ra những câu chuyện như “Cô gái tóc trắng” để vu vạ và kết tội tất cả các địa chủ và tư bản. Nó sử dụng sức mạnh của dư luận và tuyên truyền để tiêm nhiễm vào mọi người những tư tưởng sai lầm này, khiến cho hết thảy những ai không biết đều cho rằng các địa chủ và tư bản là không tốt và không bình đẳng với quần chúng lao động, rằng bây giờ nhân dân là chủ nhân, đất nước thuộc về nhân dân, một số ít cá nhân này không nên sở hữu quá nhiều tài sản như vậy, và số tài sản đó nên được sung công và phân phát lại cho tất cả mọi người. Dưới sự kích động của những cái gọi là tư tưởng và lý luận tốt đẹp, đúng đắn và có lợi cho người nghèo như thế, mọi người bị mê hoặc và bịt mắt, bắt đầu đánh thổ hào đấu địa chủ, đấu tư bản. Và kết quả cuối cùng là gì? Một số địa chủ và tư bản bị đánh chết, một số bị đánh cho tàn phế, số khác chạy trốn nơi xa. Tóm lại, kết quả cuối cùng là con rồng lớn sắc đỏ đã đạt được điều nó muốn. Quần chúng ngu muội, vô tri này dần dần bị dẫn dắt dưới những mưu đồ bất lương như thế để đạt được mục đích mà những ma quỷ này muốn. Tương tự như vậy, kẻ địch lại Đấng Christ cũng sử dụng phương thức quỷ dị như thế khi hành động. Chẳng hạn như khi một kẻ địch lại Đấng Christ cùng cộng tác làm lãnh đạo với người khác, và thấy người này có tinh thần chính nghĩa, lại hiểu lẽ thật và có thể phân định được họ, thì họ bắt đầu cảm thấy chông chênh: “Liệu kẻ này có thể phá mình sau lưng không? Liệu hắn có đang làm gì đằng sau không? Tại sao mình không thể nhìn thấu hắn? Hắn có đồng lòng với mình không? Hắn có tố giác mình với bề trên không?”. Với những tư tưởng này trong đầu, họ bắt đầu lo địa vị của mình không an toàn, chẳng phải sao? Vậy tiếp theo họ làm gì? Họ có trực tiếp trừng trị người đó không? Một số kẻ địch lại Đấng Christ sẽ công khai trừng trị, nhưng loại quỷ dị hơn sẽ không trực tiếp trừng trị. Thay vào đó, họ sẽ tìm một vài anh chị em yếu đuối hơn, hồ đồ hơn, và không biết phân định, để dò hỏi thăm dò họ: “Anh A này đã tin đức chúa trời hơn mười năm, nên đức tin của anh ấy hẳn phải có chút căn cơ rồi nhỉ?”. Một người khác có thể đáp: “Anh ấy có căn cơ mà. Trong suốt những năm tin Đức Chúa Trời, anh ấy đã từ bỏ gia đình và sự nghiệp; đức tin của anh ấy lớn hơn của chúng tôi. Được làm cộng sự với anh ấy sẽ rất tốt cho anh đấy”. Kẻ địch lại Đấng Christ sẽ nói: “Vâng, khá tốt đấy, nhưng anh ấy không bao giờ ngồi cùng với các anh chị em khác. Có vẻ anh ấy không hòa đồng cho lắm”. Một người khác có thể thêm vào: “Không phải vậy đâu – anh ấy mưu cầu lẽ thật nhiều hơn chúng tôi đấy. Chúng tôi thường tán gẫu với nhau, nhưng anh ấy dành phần lớn thời gian để đọc lời Đức Chúa Trời, nghe giảng đạo và học thánh ca, khi ngồi cùng chúng tôi thì anh ấy thông công về lời Đức Chúa Trời”. Nghe những người khác nhận xét tích cực, lại còn tán thành người này, kẻ địch lại Đấng Christ cảm thấy họ không thể nói thêm nhiều nữa, bèn đổi chủ đề, nói rằng: “Anh ấy đã tin đức chúa trời trong nhiều năm và có nhiều trải nghiệm hơn chúng ta. Sau này chúng ta nên tiếp xúc nhiều hơn với anh ấy, đừng cô lập anh ấy”. Nghe vậy, những người khác vẫn không phân định được gì cả. Thấy đa số mọi người đều nói tốt về người đó, kẻ địch lại Đấng Christ không thể đạt được động cơ của mình, liền không nói thêm về chủ đề đó nữa. Về sau kẻ địch lại Đấng Christ tìm được một nhóm người khác và hỏi: “Các anh chị em thấy anh A này bình thường có đọc lời đức chúa trời không? Tôi có cảm giác bề ngoài lúc nào anh ấy cũng thông công với người khác và trông bận rộn; tại sao anh ấy không bao giờ đọc lời đức chúa trời nhỉ?”. Nhóm này nhạy bén hơn, họ nắm bắt được ngầm ý và ngẫm nghĩ: “Hình như có mối bất hòa giữa hai người này; đây là đang cố khiến chúng ta phá đám và bài xích anh kia”. Vì thế, họ đáp: “Đúng vậy, anh ấy lúc nào cũng bận rộn không đâu, lúc nào cũng suy diễn quá mức về mọi người và mọi việc. Anh ấy hiếm khi đọc lời đức chúa trời, có đọc thì cuối cùng cũng ngủ gật; tôi thấy nhiều lần rồi”. Từ những cuộc nói chuyện của họ với nhóm người thứ nhất và thứ hai, dạng tâm tính nào hiện diện trong lời của kẻ địch lại Đấng Christ? Chẳng phải là tà ác sao? (Thưa, phải.) Tính chất và thủ đoạn trong hành động của họ là gì? Là quỷ dị. Nhóm người đầu tiên không nhận ra kẻ địch lại Đấng Christ muốn làm gì, trong khi nhóm người thứ hai thoáng thấy chuyện gì đang diễn ra, sau đó hùa theo những gì họ nói. Thấy nhóm người thứ hai hùa theo những gì họ nói và có thể bị lôi kéo, kẻ địch lại Đấng Christ muốn sử dụng nhóm này để loại bỏ cộng sự của mình. Quá trình tư tưởng này là quỷ dị. Sau đủ kiểu thuyết phục, nhóm thứ hai đã bị mê hoặc và lôi kéo, nói rằng: “Vì người đó không đáp ứng các nguyên tắc và điều kiện để làm lãnh đạo hội thánh, nên lần tới chúng ta không nên bỏ phiếu cho anh ấy làm lãnh đạo, đúng không?”. Nhóm này rất gian trá, và sau khi nói xong, họ quan sát thái độ của kẻ địch lại Đấng Christ. Kẻ địch lại Đấng Christ nói: “Như vậy không được; như vậy sẽ không công bằng. Đây là nhà đức chúa trời, chứ không phải xã hội!”. Nghe vậy, họ hỏi: “Làm vậy thực sự không được sao? Vậy chúng ta nên làm gì? Vậy thì lần tới chúng ta vẫn bỏ phiếu cho anh ấy”. Kẻ địch lại Đấng Christ lập tức nói: “Bỏ phiếu cho anh ấy cũng không được”. Thấy không? Dù họ có nói gì cũng không đúng; đây là vấn đề. Thực ra kẻ địch lại Đấng Christ chỉ muốn dẫn những người này vào con đường của họ, đào lỗ cho họ rơi xuống. Cuối cùng, sau khi nghe điều này, điều kia, những người này hiểu được ý định của kẻ địch lại Đấng Christ: “Cứ bầu cử công bằng thôi. Dù sao anh ta cũng chẳng ra sao cả, nên chắc gì đã được chọn”. Nghe vậy là kẻ địch lại Đấng Christ vui mừng. Ngươi xem, đây là một con sói và mấy con cáo, chúng đang cấu kết với nhau làm chuyện xấu. Đây là nguyên tắc và tính chất của những hành động của kẻ địch lại Đấng Christ và những thế lực đi theo họ trong hội thánh; đây là biểu hiện của họ. Những người đi theo kẻ địch lại Đấng Christ nói: “Vậy thì cứ bầu thôi. Với lại con người anh ta cũng chẳng ra sao; chúng ta có bầu cũng chưa chắc anh ta được chọn”. Có điều gì mờ ám ở đây không? Họ có đang dự tính làm gì không? Họ đã phát hiện ra chút manh mối từ lời nhau rồi, nhưng không ai nói thẳng nên làm gì; có một sự ngầm hiểu giữa họ, ai cũng hiểu rồi. Bề ngoài kẻ địch lại Đấng Christ không chỉ dẫn thẳng thừng rằng đừng chọn cộng sự của họ, và những người bên dưới họ cũng không nói: “Chúng tôi sẽ không chọn anh ta; mà chúng tôi sẽ chọn anh”. Tại sao họ không nói thẳng? Đó là bởi vì không ai muốn cho người khác nắm thóp mình. Đây chẳng phải là quỷ dị sao? Đây chính là tà ác tận cùng. Họ nghe giọng điệu của lời nhau, nhưng không ai nói thẳng, và cuối cùng đạt được sự đồng thuận. Đây gọi là cuộc đối thoại của Sa-tan. Trong số họ có một kẻ “ngu” nghe xong vẫn không hiểu và hỏi những người khác liệu có nên bầu cho người đó hay không. Kẻ địch lại Đấng Christ trả lời như thế nào? Nếu họ nói: “Anh thấy sao hợp lý thì làm”, thì sẽ quá lộ liễu. Câu trả lời như vậy mang tính chất đe dọa và xui khiến; những kẻ tà ác không nói chuyện như thế. Thay vào đó, họ nói: “Chẳng phải nhà đức chúa trời có sự sắp xếp công tác sao? Ai nên bầu thì bầu; ai không nên bầu thì không bầu”. Chẳng phải đây là nói lập lờ nước đôi sao? Họ giương ngọn cờ đúng đắn mà nói rằng: “Anh phải hành động theo nguyên tắc, không thể nghe theo tôi được. Những gì tôi nói không quan trọng. Tôi không phải là nguyên tắc; lời đức chúa trời mới là nguyên tắc”. Kẻ “ngu” nghe thấy vậy liền nghĩ: “Nếu chúng ta hành động theo nguyên tắc, thì mình sẽ bầu cho anh ấy”. Thấy người này ngu ngốc và có thể làm hỏng kế hoạch của họ, nhóm người này cùng nhau đẩy họ ra, và không cho phép kẻ “ngu” ở trong nhóm họ nữa. Cuối cùng, khi kẻ “ngu” không ngừng tự hỏi rốt cuộc có nên bầu cho người đó hay không, thì có người nói: “Chuyện đó nói sau đi. Chúng ta sẽ quyết định dựa trên biểu hiện của anh ấy”. Trong những lời này có sự quy định nào không? Có bất kỳ thành phần trung thực nào không? (Thưa, không.) Vậy trong những lời này thực sự chứa đựng điều gì? Những lời này chứa đựng tâm tính tà ác, cũng như những động cơ, ý định và mục đích không thể nói ra của họ. Chúng chứa đựng âm mưu ngầm giữa họ – con sói và bầy cáo – là loại bỏ người mà kẻ địch lại Đấng Christ thấy gai mắt. Tại sao nhóm người này lại có thể hành động như vậy? Ngoài việc bị tâm tính tà ác của họ chi phối, thì lý do họ có thể làm vậy chính là vì người cầm đầu của họ, kẻ địch lại Đấng Christ, không thích người đó. Nếu họ bầu chọn cho anh ấy, và kẻ địch lại Đấng Christ phát hiện ra, thì kết quả sẽ không có hậu. Cho nên đối với họ, việc cấp bách nhất, quan trọng nhất và có lợi nhất nên làm là không bầu người đó. Hết thảy họ đều nghe theo kẻ địch lại Đấng Christ; dù kẻ địch lại Đấng Christ nói gì, dù lời kẻ địch lại Đấng Christ chuyển sang hướng nào, những người này cũng ngả theo, còn các nguyên tắc lẽ thật và lời Đức Chúa Trời thì họ gạt sang một bên. Ngươi xem, chỉ cần một kẻ địch lại Đấng Christ xuất hiện, thì chắc chắn sẽ có những kẻ nghe theo họ. Chỉ cần một kẻ địch lại Đấng Christ hành động, thì sẽ có những kẻ tùy tùng và đi theo họ – không có kẻ địch lại Đấng Christ nào hành động đơn thương độc mã, lẻ loi trơ trọi một mình cả.

Những gì vừa nói chỉ là một trong những biểu hiện của cách kẻ địch lại Đấng Christ hành động quỷ dị. Sự quỷ dị được đề cập ở đây nói đến việc kẻ địch lại Đấng Christ có những mục đích và động cơ riêng khi hành động, nhưng họ sẽ không nói cho ngươi biết hay để ngươi thấy ra. Khi ngươi phát hiện ra, họ sẽ cực lực che đậy, sử dụng đủ loại thủ đoạn để mê hoặc ngươi, xoay chuyển cách nhìn nhận của ngươi về họ. Đây là khía cạnh quỷ dị của kẻ địch lại Đấng Christ. Nếu động cơ của họ dễ dàng bị lộ, bị công khai rộng rãi và chia sẻ cho tất cả mọi người biết, thì đó có phải là quỷ dị không? Đó sẽ không phải là quỷ dị; mà sẽ là gì? (Thưa, ngu ngốc.) Không phải ngu ngốc – đó là kiêu ngạo đến mức mất lý trí. Những kẻ địch lại Đấng Christ luôn quỷ dị trong hành động. Họ quỷ dị ở chỗ nào? Họ luôn hành động dựa trên thủ đoạn, và lời nói của họ kín như bưng, vì vậy người ta khó mà dò ra được ý định và mục đích của họ. Đây chính là quỷ dị. Họ nói gì, làm gì cũng không dễ dàng đưa ra kết luận; họ làm cho cấp dưới và người nghe có thể cảm nhận được ý của họ, và khi đã hiểu ý họ những người đó sẽ hành động theo ý đồ, động cơ của họ và chấp hành mệnh lệnh của họ. Nếu cuối cùng chuyện thành sự, thì kẻ địch lại Đấng Christ vui vẻ. Nếu chuyện không thành, thì cũng không ai nắm thóp được họ, hoàn toàn không nhìn thấu được động cơ, ý định hay mục đích đằng sau việc họ làm. Sự quỷ dị trong những hành động của kẻ địch lại Đấng Christ nằm ở những âm mưu ẩn giấu và những mục đích không thể nói ra, tất cả đều là để lừa dối, đùa giỡn và kiểm soát tất cả mọi người khác. Đây là thực chất của hành động quỷ dị. Quỷ dị không đơn giản là nói dối hay làm chút việc xấu; thay vào đó, họ có ý định và mục đích lớn hơn nữa, là thứ mà người bình thường không dò thấu. Nếu ngươi đã làm một việc mà không muốn ai biết, hoặc là nói dối, thì đó có bị xem là quỷ dị không? (Thưa, không.) Đó chỉ là sự giả dối và không đến mức quỷ dị. Điều gì khiến cho quỷ dị thâm sâu hơn giả dối? (Thưa, người ta không thể dò thấu nó.) Rất khó để người ta dò thấu nó. Đó là một phương diện. Còn gì nữa? (Thưa, người ta không nắm được thóp của người quỷ dị.) Đúng vậy. Chủ yếu là người ta khó mà nắm được thóp họ. Ngay cả khi có một vài người biết họ đã làm việc xấu, nhưng cũng không thể phân định được rốt cuộc đó là người tốt hay xấu, là kẻ ác hay là kẻ địch lại Đấng Christ. Người ta không thể nhìn thấu họ, còn nghĩ rằng họ không tệ và có thể bị họ mê hoặc. Đó chính là quỷ dị. Người bình thường có xu hướng nói dối và có tính toán nhỏ nhen. Đó chỉ là sự giả dối. Nhưng những kẻ địch lại Đấng Christ nham hiểm hơn những người giả dối thông thường. Họ giống như những ma vương; không ai có thể dò thấu những việc họ làm, họ có thể nhân danh chính nghĩa mà làm nhiều việc ác, họ hại người ta mà người ta còn ca tụng công đức của họ. Đây gọi là quỷ dị.

Trước đây có vụ một lãnh đạo, trong khi tiếp xúc và thông công với Bề trên, đã được cho biết về một số kế hoạch công tác của nhà Đức Chúa Trời. Lúc đó, sự sắp xếp công tác chưa được chính thức ban hành. Sau khi trở về, anh ta bắt đầu khoe khoang, nhưng ngươi không thể nhận ra đó là khoe khoang. Trong một cuộc nhóm họp, anh ta đang thông công rất nghiêm túc, thì đột nhiên giữa mối thông công, anh ta nói một điều mà chưa ai từng nghe đến: “Cho đến nay, mỗi bước trong công tác của đức chúa trời đều đã hoàn tất, và về cơ bản con người đã được ổn định. Bắt đầu từ tháng sau trở đi, chúng ta sẽ mở rộng công tác rao truyền phúc âm, nên chúng ta cần thành lập các đội phúc âm. Nên thành lập các đội phúc âm như thế nào? Trong chuyện này có một số chi tiết…”. Khi mọi người nghe thấy vậy, họ nghĩ: “Ở đâu ra những lời này vậy? Bề trên chưa ban hành bất kỳ sắp xếp công tác nào. Làm sao anh ấy biết được? Anh ấy hẳn có tài tiên tri!”. Họ đang sùng bái anh ta, chẳng phải sao? Thái độ của mọi người đối với anh ta lập tức thay đổi. Anh ta chỉ đề cập đến việc thành lập các đội phúc âm, nhưng sau đó anh ta không làm bất kỳ công tác cụ thể nào cả – chỉ hô khẩu hiệu suông. Tất nhiên, anh ta hô khẩu hiệu suông là có mục đích. Anh ta đang thể hiện bản thân, để mọi người xem trọng và sùng bái mình. Không lâu sau, sự sắp xếp công tác từ Bề trên được ban hành. Khi các anh chị em nhìn thấy, họ ngạc nhiên và nói: “Thật lợi hại! Chẳng phải đây là tiên tri sao? Làm sao mà anh biết việc này được? Anh hiểu lẽ thật hơn chúng tôi; vóc giạc của anh lớn hơn. Vóc giạc của chúng tôi quá nhỏ bé. Khi đến lúc mở rộng phúc âm, thì anh đã nói cho chúng tôi biết trước rồi, trong khi chúng tôi tê liệt, không biết gì cả. Nhìn xem, chẳng phải những gì anh đã thông công khớp với sự sắp xếp công tác từ Bề trên sao? Không bàn mà trùng ý, và bây giờ đã được xác minh”. Thông qua vụ này, hết thảy mọi người đều càng sùng bái anh ta hơn, và không phải theo cách bình thường, mà là đến mức ngoan ngoãn vâng lời, thiếu chút nữa là quỳ lạy trước anh ta. Những người bình thường không biết chuyện này; nếu anh ta không tự nói ra thì sẽ không ai biết, chỉ có Đức Chúa Trời biết. Một chuyện rõ ràng như vậy, mà anh ta không tiết lộ với bất kỳ ai, thay vào đó lại chọn cách lừa bịp họ một cách trắng trợn như thế. Cách làm này có được coi là quỷ dị không? (Thưa, có.) Tại sao anh ta lại lừa người khác như thế? Tại sao anh ta lại có thể có hành vi và hành động như thế? Trong lòng anh ta rốt cuộc đang nghĩ gì? Anh ta muốn mọi người thấy anh ta khác biệt, nghĩ anh ta không phải là người bình thường. Đây có phải là thứ mà nhân tính bình thường nên có không? (Thưa, không.) Hành động của loại người này thật đáng kinh tởm và vô liêm sỉ. Các ngươi có xem đây là quỷ dị không? (Thưa, có.) Ngoài quỷ dị, nó còn có phần đáng kinh tởm nữa.

Trong những kẻ địch lại Đấng Christ, có một loại người mà không ai nghe thấy họ nói gì sai hay làm gì sai cả; những gì họ làm và cách họ hành động nhìn chung ai cũng xem là tốt và tán thành. Họ thường nở nụ cười trên môi với sắc mặt như một vị Bồ tát, không bao giờ tỉa sửa bất kỳ ai. Dù người ta phạm sai lầm gì, họ cũng luôn bao dung với tấm lòng như mẹ hiền. Họ không bao giờ xử lý những người trong hội thánh vi phạm các sắc lệnh quản trị, gây nhiễu loạn và gián đoạn, hay hành ác. Có phải bởi vì họ không thấy hay không phân định được những chuyện này không? Cả hai đều không phải; họ có thể nhìn thấy, cũng có thể phân định được, nhưng trong lòng họ cho rằng nếu những người này bị thanh lọc và hội thánh trở nên yên bình, chỉ toàn những người trung thực, mưu cầu lẽ thật và thật lòng dâng mình cho Đức Chúa Trời, thì bản thân họ sẽ dễ dàng bị người khác phân định và họ sợ mình không đứng vững nổi trong hội thánh. Vì thế, họ giữ lại những người này, để cho những kẻ ác tiếp tục hành ác, những kẻ nói dối tiếp tục nói dối, và những kẻ gây nhiễu loạn tiếp tục gây nhiễu loạn, đảm bảo rằng thông qua những sự nhiễu loạn này mà hội thánh không bao giờ yên bình, nhờ đó đảm bảo được địa vị của chính họ. Vì thế, hễ có người cần phải khai trừ, xử lý, cách ly hoặc cách chức, thì họ nói gì? “Chúng ta phải cho người ta cơ hội hối cải. Ai mà chẳng có khiếm khuyết hoặc sự bại hoại? Ai mà chẳng phạm sai lầm? Chúng ta phải học cách bao dung”. Các anh chị em ngẫm nghĩ và nói: “Chúng ta bao dung cho những người thật lòng tin Đức Chúa Trời mà có vi phạm hoặc là ngu muội vô tri, nhưng chúng ta không bao dung cho kẻ ác. Anh ta là kẻ ác”. Kẻ địch lại Đấng Christ đáp: “Làm sao anh ta là kẻ ác được? Anh ta chỉ thỉnh thoảng buông lời cay nghiệt thôi; đó không phải là ác. Những người trên thế gian phạm tội giết người, phóng hỏa, đó mới là kẻ ác thực sự”. Nhưng thực ra trong lòng kẻ địch lại Đấng Christ nghĩ gì? “Anh ta là kẻ ác ư? Có ác bằng tôi không? Anh chưa thấy những gì tôi đã làm đâu, anh không biết trong lòng tôi đang suy nghĩ gì đâu. Nếu mà biết, anh lại chẳng thanh lọc tôi à? Nghĩ đến chuyện thanh lọc anh ta sao? Không có cửa đâu. Tôi không để cho anh xử lý anh ta đâu. Ai thử xử lý xem, tôi sẽ nổi điên lên, tôi sẽ gây khó dễ cho họ! Ai xử lý anh ta thì tôi sẽ khai trừ người đó!”. Nhưng họ có nói ra điều này không? Không. Vậy họ làm gì? Đầu tiên, họ xoa dịu tình hình, ổn định cục diện, thể hiện mình có năng lực lãnh đạo hội thánh ở đó và cân bằng giữa các thế lực khác nhau, để hội thánh không thể thiếu họ. Như vậy chẳng phải vị trí của họ được đảm bảo sao? Một khi vị trí của họ được đảm bảo, chẳng phải sinh kế của họ được bảo vệ sao? Đây chính là cái gọi là quỷ dị. Chính vì vậy mà hầu hết mọi người không thể nhìn thấu được loại người này. Tại sao lại không thể nhìn thấu? Họ không bao giờ nói thật, cũng không bao giờ hành động khinh suất. Dù Bề trên yêu cầu làm gì, họ cũng làm cho có; sách nào cần phân phát, họ cũng phân phát; họ duy trì vài buổi nhóm họp một tuần, lúc thông công khi nhóm họp, họ cũng không một mình nói hết phần người khác. Bề ngoài, mọi việc họ làm có vẻ hoàn hảo, không tỳ vết, không chê vào đâu được. Nhưng có một điều mà các ngươi có thể phân định được: họ không bao giờ xử lý kẻ ác. Ngược lại, họ bảo vệ kẻ ác, hết mực bao che, biện hộ cho kẻ ác. Đây chẳng phải là quỷ dị sao? Ở đây, biểu hiện quỷ dị của họ trong chuyện này là gì, trọng tâm là gì? Những điều này phải được làm rõ. Họ không bao giờ nói thật, luôn nói dối để lừa gạt nhà Đức Chúa Trời. Họ thấy kẻ ác hành ác nhưng không xử lý, mà cứ ba phải cho qua và nhẫn nại, bao dung. Xuất phát điểm của họ khi làm những chuyện này là gì? Có phải là để khiến mọi người thật sự lấy thừa bù thiếu cho nhau và bao dung lẫn nhau không? (Thưa, không phải.) Vậy thì mục đích của họ là gì? Họ muốn củng cố tầm ảnh hưởng của chính mình, củng cố địa vị của mình. Họ biết rằng một khi kẻ ác bị thanh lọc, thì họ sẽ là người tiếp theo bị thanh lọc; đây chính là điều họ sợ. Vì thế, họ giữ lại kẻ ác; chỉ cần kẻ ác ở đó thì địa vị của kẻ địch lại Đấng Christ được an toàn. Nếu kẻ ác bị thanh lọc, thì kẻ địch lại Đấng Christ sẽ tiêu tùng. Kẻ ác là ô dù bảo vệ của họ, là lá chắn của họ. Cho nên bất kể ai vạch trần kẻ ác hay đề xuất thanh lọc kẻ ác, họ đều không đồng ý, nói rằng: “Họ vẫn có thể làm bổn phận mà, họ vẫn có thể dâng hiến mà; ít nhất họ vẫn có thể đem sức lực phục vụ!”. Họ tìm những lý do và cái cớ để biện hộ cho kẻ ác, và thông thường, những người không biết phân định sẽ không thể thấy được rắp tâm ẩn trong đó, họ không thể phân định được.

Có hành động quỷ dị của kẻ địch lại Đấng Christ nào để lại ấn tượng sâu sắc đối với các ngươi không? Ai nói xem. (Thưa, có một người chị em là người phụ trách đội phúc âm, và tháng nào chị ấy cũng xoay sở đưa về được một số người, trong đó có một vài người ngoại đạo. Có một kẻ địch lại Đấng Christ diễn giải sự sắp xếp công tác tách khỏi bối cảnh, nói rằng việc rao truyền phúc âm chủ yếu nên nhắm tới trong tôn giáo, còn người ngoại đạo là thứ yếu, nếu trọng tâm chính là người ngoại đạo thì sẽ là vi phạm nghiêm trọng sự sắp xếp công tác. Thậm chí anh ta còn sử dụng lời Đức Chúa Trời từ chương “Lời cảnh báo cho những ai không thực hành lẽ thật” để mổ xẻ hành vi này. Sau đó anh ta cho mọi người bỏ phiếu, hỏi rằng: “Một người như thế có nên tiếp tục giữ vai trò phụ trách không?”. Lúc đó, nhiều người trong hội thánh mới tin được một, hai năm, và không biết phân định, nên họ cảm thấy vi phạm sự sắp xếp công tác là việc nghiêm trọng và đồng ý cách chức người chị em đó. Lúc đó người chị em trở nên rất tiêu cực; sau khi bị kẻ địch lại Đấng Christ này mổ xẻ và kết tội, chị ấy cảm thấy mình chính là kẻ địch lại Đấng Christ, chắc chắn sẽ bị Đức Chúa Trời đào thải, và trở nên tiêu cực tột độ, không muốn sống nữa. Ngoài ra, kẻ địch lại Đấng Christ này còn giữ lại một số bài giảng và mối thông công từ Bề trên, không cho chúng con nghe. Anh ta nói rằng mối thông công từ Bề trên rất nghiêm khắc, và chúng con mới tin, vóc giạc nhỏ bé, sau khi nghe sẽ hình thành quan niệm. Bề ngoài có vẻ như anh ta đang nghĩ cho chúng con, nhưng thực ra là anh ta sợ nếu chúng con nghe được những bài giảng từ Bề trên thì có thể phân định được anh ta, và khi đó anh ta sẽ không có cách nào khống chế được chúng con. Anh ta đã sử dụng những thủ đoạn nghe có vẻ rất hợp lý này để trừng trị và che mắt mọi người, khiến cho những gì anh ta làm có vẻ hợp tình hợp lý và dựa theo sự sắp xếp công tác của nhà Đức Chúa Trời.) Vụ việc này chắc chắn có thể được mô tả là quỷ dị. Hễ là kẻ địch lại Đấng Christ, thì cách làm nhất quán đều giống nhau, không khác chút nào, làm gì cũng có cùng ý định, nhắm đến cùng mục đích. Điều này có thể chứng tỏ những kẻ địch lại Đấng Christ đích thị là ma quỷ và tà linh không? (Thưa, có thể.) Hoàn toàn có thể. Mô tả hành động của những kẻ địch lại Đấng Christ – những ma quỷ và tà linh này – là quỷ dị là hoàn toàn phù hợp, không hề nói quá chút nào.

Sau những ví dụ này, các ngươi cũng có thêm chút kiến thức rồi; các ngươi đã bắt đầu hình thành chút phân định về những hành động quỷ dị của kẻ địch lại Đấng Christ chưa? Bất kỳ điều gì liên quan đến hành vi quỷ dị, với ý đồ và động cơ không dám nói ra, thì đều không phải là hành động của người bình thường, không phải là hành động của người trung thực, càng không phải là hành động của người mưu cầu lẽ thật. Những chuyện họ làm có phải là thực hành lẽ thật không? Họ có đang bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời không? (Thưa, không.) Vậy họ đang làm gì? Họ đang làm gián đoạn và phá hoại công tác của hội thánh, đang làm việc ác; họ không tuân theo con đường của Đức Chúa Trời, cũng không bảo vệ công tác của nhà Đức Chúa Trời. Những gì họ làm không phải là công tác của hội thánh; họ chỉ sử dụng ngọn cờ làm công tác của hội thánh để làm việc riêng, thực chất là bảo vệ lợi ích cá nhân của họ và của Sa-tan. Còn ví dụ nào khác không? (Thưa, vào năm 2015, Bề trên ban ra một sự sắp xếp công tác, chỉ dẫn chúng con sử dụng bài viết từ “Người thức tỉnh” để thông công về việc phân định lãnh đạo giả, và phân biệt hội thánh thật và giả. Trong hội thánh, có một lãnh đạo vừa bị cách chức, anh ta nói rằng chúng con mới tin Đức Chúa Trời, vóc giạc còn nhỏ bé, và chúng con lĩnh hội sự sắp xếp công tác của Bề trên còn quá nông cạn – hành động của Đức Chúa Trời là không thể dò lường, và Bề trên đã ban hành sự sắp xếp này là có ý sâu hơn. Anh ta còn nói: “Về những lẽ thật về việc phân định lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ, trước đây bề trên thông công nhiều và nói rất rõ ràng. Nếu chỉ là chuyện phân định lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ, thì có cần phải ban hành một sự sắp xếp công tác khác không?”. Sau đó, anh ta còn loại bỏ bối cảnh của những phần trong sự sắp xếp công tác, bài giảng và mối thông công trước đây từ Bề trên, biên soạn thành tài liệu hàng vạn từ để mê hoặc các anh chị em, khiến chúng con thay vào đó phân định “người thức tỉnh”. Lúc đó, chúng con bị mê hoặc và không chú trọng phân định lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ. Về sau, người này bị vạch trần là kẻ địch lại Đấng Christ. Anh ta sợ rằng nếu mọi người bắt đầu phân định lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ, thì họ sẽ phát hiện những việc ác của anh ta và phân định được anh ta, nên anh ta cố tình đánh lạc hướng khiến chúng con thay vào đó phân định “người thức tỉnh”.) Đây chính là trò đánh lận con đen, giương đông kích tây, chuyển dịch sự chú ý, làm như vậy để mọi người sẽ không tập trung chú ý vào anh ta. Thủ đoạn này nghe có quen không? Khi sự thống trị con rồng lớn sắc đỏ đối mặt với nguy cơ, chẳng hạn như rối ren nội bộ trong hệ thống chính trị hoặc các cuộc đình công và nổi loạn của quần chúng, nó sử dụng cùng một chiến thuật này – chuyển dịch sự chú ý. Nó thường xuyên sử dụng thủ đoạn này. Mỗi khi xuất hiện nguy cơ, nó kích động sự hoang mang sợ hãi về chiến tranh, kích thích lòng yêu nước, sau đó không ngừng trình chiếu những bộ phim về kháng chiến, yêu nước, hoặc rao tin giả để khơi dậy tinh thần dân tộc nhằm chuyển dịch sự chú ý. Con rồng lớn sắc đỏ làm những chuyện này là có ý đồ, có những mục đích không thể nói ra – đây gọi là hành vi quỷ dị. Ai là tổ tông của kẻ địch lại Đấng Christ? Đó chính là con rồng lớn sắc đỏ, là ma quỷ. Tính chất hành động của chúng giống hệt nhau, như thể thông đồng với nhau. Những âm mưu, thủ đoạn của kẻ địch lại Đấng Christ bắt nguồn từ đâu? Do tổ tông của họ, những ma quỷ và Sa-tan truyền thụ cho họ. Sa-tan cư ngụ trong họ, nên chuyện hoạt động theo cách quỷ dị là rất bình thường đối với họ; nó tỏ lộ đầy đủ việc họ có bản tính của kẻ địch lại Đấng Christ.

(Thưa Đức Chúa Trời, con muốn chia sẻ một ví dụ. Trường hợp kẻ địch lại Đấng Christ này xảy ra ở mục khu Cát Lâm. Vào khoảng mùa xuân năm 2012. Một kẻ địch lại Đấng Christ họ An đã gieo rắc nhiều luận điệu sai lầm trong hội thánh các nơi, thậm chí còn viết một cuốn sách nhỏ có tựa đề “Điều Đức Chúa Trời quan tâm nhất trước khi rời mặt đất” và bí mật phân phát cho tất cả các hội thánh. Anh ta nói rằng điều Đức Chúa Trời quan tâm nhất trước khi rời mặt đất là liệu dân được chọn của Đức Chúa Trời có nghe theo người được Đức Thánh Linh sử dụng sau khi Ngài rời đi hay không, vì vậy chúng con phải hiểu được tâm ý của Đức Chúa Trời, bây giờ chỉ cần đọc các bài giảng, mối thông công và sự sắp xếp công tác của người được Đức Thánh Linh sử dụng là đủ, lấy đó thay cho việc ăn uống lời Đức Chúa Trời. Kết quả là nhiều anh chị em bị mê hoặc; họ ngừng ăn uống lời Đức Chúa Trời, đây chính là mục đích mà kẻ địch lại Đấng Christ muốn đạt đến. Sự nham hiểm của kẻ địch lại Đấng Christ nằm ở đó, dưới chiêu bài làm chứng cho người được Đức Thánh Linh sử dụng, anh ta đã dẫn dắt con người xa rời lời Đức Chúa Trời, bỏ ăn uống lời Đức Chúa Trời, đồng thời lại khiến mọi người cảm thấy anh ta thấu hiểu sâu sắc lòng Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời quan tâm điều gì trước khi rời mặt đất thì anh ta đều nghĩ ra được, nên mọi người xem trọng và sùng bái anh ta.) Tại sao anh ta lại đề cao người được Đức Thánh Linh sử dụng? Người được Đức Thánh Linh sử dụng là con người, và anh ta cũng vậy. Bằng cách đề cao người được Đức Thánh Linh sử dụng, thực ra anh ta đang khiến mọi người sùng bái và đề cao anh ta; đó chính là mục đích của anh ta. Chúng ta không thể chỉ đánh giá những gì anh ta nói là đúng hay sai, mà cần phải nhìn vào hậu quả và mục đích mà lời anh ta đạt được; đó mới là điểm mấu chốt. Cho nên, khi đề cao người được Đức Thánh Linh sử dụng, trên thực tế mục đích của anh ta là đề cao chính mình; đó chính là mục đích của anh ta. Anh ta biết rằng đề cao người được Đức Thánh Linh sử dụng thì chắc chắn không ai có ý kiến gì, như vậy mọi người cũng sẽ tán thành và đề cao anh ta. Nhưng nếu anh ta trực tiếp đề cao và làm chứng cho chính mình, thì mọi người có thể vạch trần, phân định và loại bỏ anh ta. Vì thế, kẻ địch lại Đấng Christ đã sử dụng chiến thuật đề cao người được Đức Thánh Linh sử dụng để đạt được việc đề cao chính mình và làm chứng cho chính mình; đây chính là sự nham hiểm của kẻ địch lại Đấng Christ. Những hành động của kẻ địch lại Đấng Christ họ An rất quỷ dị, mọi người dễ dàng bị họ mê hoặc – đây là một vụ điển hình về kẻ địch lại Đấng Christ. Dân được Đức Chúa Trời chọn nên từ trường hợp kẻ địch lại Đấng Christ này mà học phân định, thấy rõ được chỗ quỷ dị của kẻ địch lại Đấng Christ, cũng như những phương thức, thủ đoạn mà họ sử dụng để đạt được kết quả mê hoặc mọi người. Hiểu được những điều này rất ích lợi cho mọi người trong việc phân định kẻ địch lại Đấng Christ. Ai có ví dụ để chia sẻ nữa không?

(Thưa Đức Chúa Trời, con cũng có một trường hợp kẻ địch lại Đấng Christ để chia sẻ. Vụ việc này xảy ra ở mục khu Hà Nam. Vào khoảng năm 2011, kẻ địch lại Đấng Christ họ Dư, một lãnh đạo giả đã bị cách chức, được hội thánh phân công giám sát công tác thanh lọc bởi vì cô ta có chút ân tứ và kinh nghiệm làm việc. Lúc đó, Bề trên ban hành một sự sắp xếp công tác nhằm vạch trần và loại bỏ triệt để các lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ. Dư, người rất ham địa vị, thấy đây là một cơ hội để ngóc đầu trở lại. Mượn danh nghĩa thi hành sự sắp xếp công tác, cô ta đã không ngừng thông công với các anh chị em, bảo chúng con thuận theo dòng chảy của công tác Đức Thánh Linh và chú trọng phân định lãnh đạo giả cũng như kẻ địch lại Đấng Christ. Nhưng cô ta lại không thông công về các nguyên tắc phân định, mà thay vào đó dẫn dắt chúng con tập trung sự chú ý vào các lãnh đạo và người làm công. Trong mỗi buổi nhóm họp, cô ta sẽ mời các anh chị em nói về biểu hiện của các lãnh đạo và người làm công. Sau khi chúng con nói xong, cô ta sẽ tóm lấy một số lệch lạc và những bộc lộ của tâm tính bại hoại trong công tác của họ, rồi nghiêm trọng hóa tính chất của những vấn đề này, trực tiếp xác định họ là lãnh đạo giả, và cách chức họ. Sau đó, cô ta không ngừng làm chứng với các anh chị em về việc mình đã loại bỏ các lãnh đạo và người làm công giả này như thế nào, khiến họ cảm thấy cô ta biết phân định và có năng lực trong công tác. Thực ra, mục đích của cô ta là sử dụng việc sa thải các lãnh đạo và người làm công này như một cơ hội để quay trở lại và tiếp tục làm lãnh đạo. Bị cô ta mê hoặc, các anh chị em khi nhìn thấy những bộc lộ bại hoại và lệch lạc trong công tác của các lãnh đạo và người làm công, liền bắt đầu tự hỏi những người này có phải là lãnh đạo giả hay không, thậm chí còn nghi ngờ lãnh đạo hội thánh các cấp, không thể phối hợp bình thường với công tác của các lãnh đạo và người làm công. Nhiều lãnh đạo và người làm công có vóc giạc nhỏ bé cũng bị kìm kẹp rất nhiều, sống trong tình trạng tiêu cực và đề phòng, không thể làm bổn phận bình thường, dẫn đến hỗn loạn trong hội thánh. Lúc đó, nhiều người sùng bái kẻ địch lại Đấng Christ này, và mười mấy hội thánh đã bị kẻ địch lại Đấng Christ này mê hoặc và khống chế. Ngay cả sau khi kẻ địch lại Đấng Christ này bị vạch trần, một số người vẫn không thể phân định được cô ta, cảm thấy cô ta đang bảo vệ công tác của hội thánh, thậm chí có những người còn bênh vực cô ta.) Về sau các anh chị em bị mê hoặc đó như thế nào? (Thưa, thông qua việc thông công và trợ giúp, có người đã phân định được kẻ địch lại Đấng Christ này và được cứu vãn, trong khi số khác, dù có được người khác thông công như thế nào, vẫn cứ ngoan cố, kiên quyết đi theo kẻ địch lại Đấng Christ, và những người này cuối cùng bị đào thải.) Bây giờ hầu hết mọi người đã phân định được kẻ địch lại Đấng Christ này chưa? (Thưa, bây giờ họ đều có chút phân định rồi.) Những người vẫn cố chấp và không thể thay đổi, xứng đáng bị diệt vong; đây chính là kết cục của việc đi theo kẻ địch lại Đấng Christ.

Chúng ta vừa thông công về các biểu hiện khác nhau của hành động quỷ dị của kẻ địch lại Đấng Christ. Bây giờ, hãy cùng tổng kết. Dạng hành vi này của kẻ địch lại Đấng Christ thể hiện thực chất và tâm tính nào? (Thưa, tà ác.) Đó là một tâm tính có đặc điểm chính yếu là tà ác. Vậy chúng ta có thể nói rằng những người có tâm tính tà ác thường hành động quỷ dị, và những người hành động quỷ dị có tâm tính rất tà ác không? (Thưa, có thể.) Đây có phải là suy luận logic không? Mặc dù bề ngoài nó có vẻ hơi giống suy luận, nhưng thực tế lại chính là vậy – người có tâm tính tà ác thường hoạt động theo những cách quỷ dị. Kẻ địch lại Đấng Christ hành động quỷ dị, thực chất bản tính này bắt nguồn từ Sa-tan; rất hiển nhiên là họ giống ma quỷ và Sa-tan. Bằng cách quan sát cách kẻ địch lại Đấng Christ hành động, ngươi có thể hiểu cách ma quỷ và Sa-tan hành động. Ma quỷ và Sa-tan đích thực, cùng con rồng lớn sắc đỏ, mà hành động thì còn nghiêm trọng hơn thế. Thậm chí một kẻ địch lại Đấng Christ nhỏ bé thôi cũng có thể hành động quỷ dị đến mức như vậy, với những thủ đoạn cao tay như vậy, nói chuyện không có một lỗ hổng nào, khiến cho không ai có thể tìm được một sơ suất nào hay nắm thóp được họ, huống chi những lão ma quỷ và Sa-tan đó! Xét từ góc độ hành động quỷ dị của kẻ địch lại Đấng Christ, những người bình thường không có địa vị, hiếm khi giao tiếp hoặc cởi mở với người khác, hành động thiếu minh bạch và không muốn người khác biết trong sâu thẳm nội tâm họ đang suy nghĩ gì hay muốn làm gì, và dụng ý khi hành động của họ là gì, những người ẩn mình rất sâu và tạo vỏ bọc kín kẽ cho mình – chẳng phải lời nói và hành động của họ cũng có chút tính chất quỷ dị sao? Nếu những người như thế không được xếp là kẻ địch lại Đấng Christ, thì chắc chắn họ đang đi con đường địch lại Đấng Christ. Điều này là chắc chắn. Những người đi con đường địch lại Đấng Christ, nếu không tiếp nhận sự tỉa sửa, không tiếp nhận lời khuyên của người khác, càng không tiếp nhận lẽ thật, thì một khi có được địa vị, họ chắc chắn sẽ trở thành kẻ địch lại Đấng Christ; đây chỉ là vấn đề thời gian. Nếu một số người có dạng tâm tính tà ác này và từng đi con đường địch lại Đấng Christ, có chút biểu hiện tương tự với kẻ địch lại Đấng Christ, nhưng sau khi tiếp nhận sự tỉa sửa, thì họ hối cải, có thể tiếp nhận lẽ thật, từ bỏ con đường trước đây, và có thể quay đầu, thực hành lẽ thật, thì kết quả sẽ thế nào? Như vậy thì họ sẽ rời xa con đường địch lại Đấng Christ thêm một chút, dễ dàng bước vào con đường trong việc tin Đức Chúa Trời, và khi đó họ sẽ có hy vọng được cứu rỗi. Mối thông công về các biểu hiện của kẻ địch lại Đấng Christ hành động một cách quỷ dị kết thúc ở đây; biểu hiện tiếp theo của họ mà chúng ta sẽ thông công là độc đoán chuyên quyền.

II. Mổ xẻ về sự độc đoán chuyên quyền và ép người khác thuận phục mình của kẻ địch lại Đấng Christ

Kẻ địch lại Đấng Christ hành động độc đoán chuyên quyền, không bao giờ thông công hay bàn bạc với người khác, muốn sao làm vậy và buộc người khác thuận phục mình. Có thể nói rằng dù làm gì, dù sắp xếp hay quyết định việc gì, kẻ địch lại Đấng Christ cũng không bao giờ thông công với người khác, không đạt đến sự đồng thuận, không tìm kiếm lẽ thật để giải quyết vấn đề và không tìm kiếm các nguyên tắc nên thực hành khi làm bổn phận. Hơn nữa, họ không để người khác hiểu tại sao mình làm như thế, khiến mọi người mơ mơ hồ hồ mà buộc phải nghe theo họ. Nếu có người không hiểu và hỏi họ, thì kẻ địch lại Đấng Christ không muốn thông công hoặc giải thích. Trong chuyện này, kẻ địch lại Đấng Christ muốn duy trì tình trạng nào? Không ai được phép biết chi tiết; không ai có quyền được biết tình hình. Họ muốn gì làm nấy, và những gì họ cho là đúng phải được quán triệt đến cùng. Người khác không có quyền hỏi, càng không đủ tư cách phối hợp công việc với họ, mà chỉ có vai trò nghe lời và thuận phục. Kẻ địch lại Đấng Christ nhìn nhận thế nào về việc này? “Vì các người đã chọn tôi làm lãnh đạo, nên các người chịu sự quản lý của tôi và phải nghe lời tôi. Nếu các người không nghe lời tôi thì đừng chọn tôi. Nếu chọn tôi thì phải nghe lời tôi. Làm việc gì cũng một mình tôi định đoạt hết!”. Trong mắt họ, mối quan hệ giữa họ và các anh chị em là gì? Họ là người ra lệnh. Các anh chị em không được phân tích đúng sai, không được hỏi han, và không được chỉ trích, phân định, chất vấn hay nghi ngờ họ; những việc này đều không được. Kẻ địch lại Đấng Christ chỉ cần đưa ra phương án, tuyên bố và cách làm, và mọi người đều phải vỗ tay đồng thuận mà không được đặt câu hỏi. Chẳng phải như vậy là có chút tính chất ép buộc sao? Đây là loại thủ đoạn gì? Đây là độc đoán chuyên quyền. Đây là loại tâm tính gì? (Thưa, là hung ác.) Xét nghĩa đen câu chữ của “độc đoán chuyên quyền”, thì “độc đoán” nghĩa là một người ra quyết định và có quyền định đoạt; còn “chuyên quyền” nghĩa là sau khi một mình họ đưa ra phán đoán hoặc quyết định, thì mọi người khác đều phải chấp hành mà không có quyền có ý kiến hay phát ngôn bất đồng, thậm chí không được đặt câu hỏi. Độc đoán chuyên quyền có nghĩa là khi gặp chuyện, họ tự mình ngẫm nghĩ và suy xét rồi ra quyết định phải làm gì. Họ ở sau lưng người ta, không xem ai ra gì, mà đưa ra quyết định, rốt cuộc chuyện này làm như thế nào thì ngay cả các đồng sự, cộng sự hoặc lãnh đạo cấp trên của chính họ cũng không thể can thiệp – độc đoán chuyên quyền nghĩa là vậy. Phương thức hành động nhất quán của những người độc đoán chuyên quyền là dù gặp chuyện gì, họ cũng ngẫm nghĩ trong đầu, vắt óc suy tính, không bao giờ bàn bạc với người khác. Họ nghĩ thế này, thế kia trong đầu, nhưng không ai biết họ đang thực sự nghĩ gì. Tại sao không ai biết? Bởi vì họ không nói. Một số người có thể cho rằng đó chẳng qua là do họ không hay nói, nhưng chuyện có phải vậy không? Đây không phải là vấn đề tính cách, mà là họ cố ý để không cho người khác biết. Họ muốn tự mình hành động, họ làm gì cũng đều có tính toán riêng. Họ đang tính toán điều gì? Những tính toán của họ xoay quanh lợi ích, địa vị, danh lợi và danh vọng của bản thân. Họ ngẫm nghĩ xem làm thế nào thì có lợi cho chính mình, làm thế nào thì có thể bảo vệ địa vị và danh dự của mình khỏi bị tổn hại, làm thế nào thì không để bị người khác nhìn thấu, và quan trọng là làm thế nào để che giấu hành động của họ khỏi Bề trên, hy vọng cuối cùng được lợi mà không để ai thấy được sơ hở gì. Họ nghĩ: “Nếu mình nhất thời sơ suất nói sai sẽ bị mọi người nhìn thấu. Lỡ như có kẻ lắm miệng phản ánh lên bề trên, thì bề trên có thể cách chức mình, và mình sẽ mất địa vị. Ngoài ra, nếu mình luôn thông công với người khác, thì chẳng phải khả năng hạn chế của mình sẽ bị người khác nhìn thấu hay sao? Họ chẳng xem thường mình sao?”. Các ngươi nói xem, nếu họ thực sự bị người khác nhìn thấu, thì đó là chuyện tốt hay chuyện xấu? Thực ra, đối với những người mưu cầu lẽ thật, đối với những người trung thực, thì việc bị người khác nhìn thấu và mất chút thể diện hoặc danh dự không là gì cả. Họ dường như không có cảm giác gì về những chuyện này; không có ý thức quá rõ ràng và không quá đặt nặng về những chuyện này. Nhưng kẻ địch lại Đấng Christ thì hoàn toàn ngược lại; họ không mưu cầu lẽ thật, và họ xem địa vị của mình cũng như sự nhìn nhận và thái độ của người khác đối với mình, còn quan trọng hơn cả mạng sống. Bảo họ nói lên một lời thật lòng hoặc nói thật thì khó vô cùng; dù có đưa ra bao nhiêu lợi ích cũng chưa chắc họ đã chịu nói cho ngươi. Bảo họ tiết lộ bí mật hoặc chuyện riêng càng khó hơn nữa – thậm chí họ có chết cũng không tiết lộ. Đây là loại bản tính gì? Dạng người này còn có thể tiếp nhận lẽ thật được không? Còn có thể được cứu rỗi không? Tuyệt đối không thể. Đây gọi là “Giang sơn dễ đổi, bản tính khó dời”.

Kẻ địch lại Đấng Christ đặc biệt xem trọng giá trị bản thân, địa vị và thể diện, cũng như bất cứ thứ gì có thể duy trì quyền thế của họ. Ngươi thông công với họ, nói rằng: “Khi làm công tác của hội thánh, dù là việc bên ngoài hay quản trị nội bộ, điều chỉnh nhân sự hay bất kỳ việc gì khác, anh cũng phải thông công với các anh chị em. Bước đầu tiên để học phối hợp với người khác chính là học thông công với người khác. Thông công không phải là tán gẫu, hoặc chỉ là nói mình tiêu cực thế nào, phản nghịch Đức Chúa Trời thế nào. Anh không được xả những tình trạng tiêu cực hoặc phản nghịch của mình ra và ảnh hưởng đến người khác. Cái chính là thông công về cách tìm ra nguyên tắc và hiểu lẽ thật trong lời Đức Chúa Trời”. Nhưng dù ngươi có thông công về lẽ thật thế nào cũng không thể lay chuyển được họ, không thể khiến họ thay đổi nguyên tắc và phương hướng hành động cũng như hành xử của mình. Đây là loại tâm tính gì? Nói nhẹ là cương ngạnh; nói nặng là hung ác. Thực ra nói hung ác là không sai chút nào. Thử nghĩ xem, một con sói đang cắn con cừu, miếng ngon đến tận miệng rồi. Nếu ngươi thương lượng với nó, nói rằng: “Ta sẽ cho mày một con thỏ thay thế, mày thả con cừu ra đi, đồng ý không?”, thì nó sẽ không đồng ý. Ngươi nói: “Ta sẽ cho mày con bò, đồng ý không?”. Nó tuyệt đối sẽ không đồng ý. Nó sẽ ăn thịt con cừu trước, rồi ăn thịt con bò. Một con chưa thỏa mãn đâu, nó muốn cả hai con. Đây là loại tâm tính gì? (Thưa, tham lam không đáy và hung ác tột độ.) Nó quá hung ác rồi! Tương tự như vậy, đối với tâm tính hung ác tột độ của kẻ địch lại Đấng Christ, ngươi có thông công về lẽ thật, tỉa sửa hay khuyên nhủ họ cũng đều vô ích, chẳng thay đổi được gì trong sự mưu cầu địa vị và dục vọng muốn khống chế người khác nơi sâu thẳm nội tâm họ. Trừ khi ngươi thu hút họ bằng địa vị cao hơn hoặc lợi ích lớn hơn, không thì con mồi đã nằm trong miệng họ rồi, tuyệt đối không có chuyện họ nhả ra. Tuyệt đối không có chuyện họ nhả ra nghĩa là gì? Có nghĩa là một khi có được địa vị, họ sẽ dùng cơ hội này mà ra sức phô bày và thể hiện bản thân. Họ thể hiện điều gì? Các loại sở trường và ân tứ, xuất thân, trình độ học vấn, giá trị bản thân và địa vị xã hội của họ, khoe khoang và phô trương việc họ có năng lực và bản lĩnh đến đâu, họ có thể đùa giỡn và thao túng mọi người ra sao, họ có thể chế ngự mọi người thế nào. Những người không có lẽ thật, không biết phân định mà nghe thấy vậy liền cảm thấy dạng kẻ địch lại Đấng Christ này quá lợi hại; cảm thấy mình không bằng và cam lòng chịu sự kiểm soát của kẻ địch lại Đấng Christ.

Có những kẻ địch lại Đấng Christ đặc biệt giảo hoạt, bụng dạ sâu xa. Họ tuân theo một triết lý Sa-tan tối cao, đó là trong tình huống nào cũng không dễ gì lên tiếng, gặp chuyện gì cũng không dễ dàng bày tỏ thái độ của mình, nếu chưa gặp cảnh cực kỳ bất đắc dĩ thì họ tuyệt đối không nói gì. Họ chỉ chú ý quan sát hành động của mọi người, như thể mục đích của họ là hiểu thấu và nhìn thấu những người xung quanh rồi mới nói năng hoặc hành động. Đầu tiên, họ xác định ai có thể là con mồi của họ và trở thành trợ thủ của họ, và ai cần đề phòng như “kẻ thù chính trị” của họ. Có lúc họ không lên tiếng hoặc bày tỏ thái độ, mà cứ giữ im lặng, nhưng trong lòng họ đang ngẫm nghĩ, tính toán; những người này lòng dạ xảo quyệt và không dễ gì mở miệng. Các ngươi nói xem, dạng người này có phải là rất hiểm ác không? Họ không dễ mở miệng, thì làm sao ngươi có thể phân định được họ? Nhìn thấu họ có dễ không? Rất khó. Trong lòng dạng người này hoàn toàn chứa đầy triết lý Sa-tan. Đây chẳng phải là quỷ dị sao? Kẻ địch lại Đấng Christ cho rằng nếu họ nói quá nhiều, luôn bày tỏ quan điểm và thông công với người khác, thì sẽ bị mọi người nhìn thấu; mọi người sẽ cảm thấy họ thiếu chiều sâu, chỉ là một người bình thường và không tôn trọng họ nữa. Đối với kẻ địch lại Đấng Christ, người khác không tôn trọng họ nghĩa là gì? Nghĩa là địa vị cao quý của họ trong lòng người khác đã không còn, lộ rõ họ xoàng xĩnh, vô tri và tầm thường đến thế nào. Đây là điều mà kẻ địch lại Đấng Christ không muốn thấy. Vì thế, khi họ thấy những người khác trong hội thánh luôn mở lòng bộc bạch và thừa nhận sự tiêu cực, phản nghịch Đức Chúa Trời của họ, những sai lầm họ phạm phải hôm qua, hoặc nỗi đau khổ không thể chịu đựng mà họ cảm thấy khi không trung thực hôm nay, thì kẻ địch lại Đấng Christ xem những người này là ngu ngốc và ngây thơ, vì họ không bao giờ nói những chuyện như thế, họ thâm tàng bất lộ. Có những người bình thường ít nói do tố chất kém hoặc đầu óc đơn giản, không suy nghĩ gì nhiều, nhưng khi kẻ địch lại Đấng Christ ít nói thì không phải vì lý do đó; mà là vấn đề về tâm tính. Họ gặp người khác thì nói chuyện rất ít, người khác nói gì họ cũng không dễ dàng bày tỏ quan điểm. Tại sao họ không bày tỏ quan điểm? Trước hết, chắc chắn họ không có lẽ thật và chuyện gì cũng không thể nhìn thấu, nên họ mà mở miệng thì có thể phạm sai lầm và bị người khác nhìn thấu. Họ sợ bị xem thường, nên giả bộ trầm mặc, làm bộ thâm trầm, khiến người khác không dò thấu họ được, lại còn cảm thấy họ có vẻ cao minh, thoát tục siêu phàm. Với vẻ bề ngoài này, mọi người không dám đánh giá thấp kẻ địch lại Đấng Christ, thay vào đó, khi thấy bề ngoài có vẻ điềm tĩnh, điềm đạm của họ, mọi người càng xem trọng và không dám coi nhẹ họ. Đây chính là khía cạnh quỷ dị và tà ác của kẻ địch lại Đấng Christ. Họ không dễ gì bày tỏ quan điểm, bởi vì hầu hết quan điểm của họ không hợp lẽ thật, đều là quan niệm và tưởng tượng của con người, căn bản không dám đưa ra công khai, cho nên họ giữ im lặng. Trong lòng họ cũng mong có được chút sự sáng để nói ra hầu cho người khác xem trọng họ, nhưng vì không có, nên lúc thông công về lẽ thật thì họ trầm mặc, ẩn mình, như con quỷ ẩn núp trong bóng tối chờ cơ hội. Khi thấy người khác nói ra sự sáng, họ liền nghĩ cách biến thành của mình, diễn đạt theo một cách khác để khoe khoang bản thân. Đây chính là sự giảo hoạt của kẻ địch lại Đấng Christ. Dù làm gì, họ cũng cố gắng nổi bật và vượt trội, vì chỉ khi đó lòng họ mới thấy được hưởng thụ. Nếu không có cơ hội, thì trước tiên họ ẩn mình và không dễ gì bày tỏ quan điểm. Đây chính là chỗ giảo hoạt của kẻ địch lại Đấng Christ. Chẳng hạn như khi nhà Đức Chúa Trời đưa ra một chương thông công và giảng đạo, có vài người nói rằng nó giống như lời Đức Chúa Trời, lại có vài người cho rằng nó giống mối thông công từ Bề trên hơn. Những người có lòng dạ tương đối đơn giản nghĩ sao nói vậy, nhưng những kẻ địch lại Đấng Christ có cách nhìn nhận của họ đi nữa, cũng vẫn giữ kín. Họ muốn quan sát và đi theo quan điểm của số đông, nhưng thực ra căn bản là trong lòng họ không nhìn thấu được chuyện này. Những người lươn lẹo, xảo trá thì có thể hiểu lẽ thật hoặc có sự phân định thực sự được không? Người không hiểu lẽ thật có thể nhìn thấu được gì? Họ không thể nhìn thấu được gì cả. Có những người không thể nhìn thấu được sự việc, nhưng lại giả vờ thâm trầm; thực ra trong lòng họ không phân định được gì, luôn sợ bị người khác nhìn thấu. Gặp chuyện như vậy, tâm thái đúng đắn là: “Chúng tôi không thể nhìn thấu việc này. Không biết thì không nên nói lung tung. Nói sai có thể mang đến ảnh hưởng xấu. Tôi sẽ chờ xem Bề trên nói gì”. Như vậy chẳng phải là nói thật sao? Đơn giản như thế nhưng tại sao kẻ địch lại Đấng Christ không nói? Họ không muốn để người khác nhìn thấu, họ biết hạn chế của mình; nhưng đằng sau đó còn có một ý định đê tiện nữa – đó là họ muốn được người khác xem trọng. Đây chẳng phải là thứ đáng ghê tởm nhất sao? Sau khi mọi người đã nói xong, họ thấy hầu hết đều nói đó là lời Đức Chúa Trời, chỉ một số ít nói không phải, kẻ địch lại Đấng Christ cũng cảm thấy bài giảng đó có thể không phải là lời Đức Chúa Trời, nhưng lại không dám nói thẳng. Họ nói: “Chuyện này tôi không thể xác định bừa được; tôi sẽ đi theo số đông”. Họ không nói rằng mình nhìn không thấu, mà thay vào đó lại dùng cách nói này để giả vờ và che đậy, lại còn cho rằng mình rất khôn ngoan, thủ đoạn của mình rất cao tay. Rồi hai ngày sau, khi nhà Đức Chúa Trời thông báo bài giảng này là lời Đức Chúa Trời, thì kẻ địch lại Đấng Christ lập tức nói: “Thấy chưa, tôi đã bảo mà. Tôi biết đó là lời đức chúa trời từ đầu rồi, nhưng tôi lo những anh chị em không nhận ra sẽ yếu đuối, nên tôi không thể nói ra được. Nếu tôi nói rằng đó là lời đức chúa trời, chẳng phải tôi đang lên án các anh chị em sao? Các anh chị em sẽ buồn đến mức nào? Làm sao tôi có thể yên lòng khi biết các anh chị em yếu đuối như vậy được? Như thế tôi sẽ là loại lãnh đạo gì chứ?”. Đúng là giỏi giả vờ! Lời nói của kẻ địch lại Đấng Christ đều có ý định và mục đích; hễ mở miệng là họ khoe khoang về bản thân, khoe mẽ công lao, những việc tốt từng làm và hào quang quá khứ của mình. Hễ mở miệng nói chuyện là họ nói về những điều này. Những người không nhìn thấu họ thì sùng bái họ, trong khi những người có thể nhìn thấu họ lại thấy họ cực kỳ nham hiểm và giả dối, không bao giờ thừa nhận điểm yếu của mình. Kẻ địch lại Đấng Christ hành động bí hiểm và nói năng lập lờ; hầu hết những gì họ nói đều là nói nhảm, và họ không thể nhìn thấu được bất kỳ điều gì hay hiểu được bất kỳ lẽ thật nào. Đáng ghét hơn nữa, dù không hiểu được bất kỳ lẽ thật nào, nhưng họ lại giả vờ mình hiểu, còn muốn chuyện gì cũng nhúng tay vào, cũng ra quyết định và có quyền định đoạt, không cho những người xung quanh quyền được biết gì cả. Cuối cùng, điều này dẫn đến tình thế nào? Tất cả những người phối hợp với họ hoặc làm bổn phận với họ đều cảm thấy bề ngoài họ có vẻ rất trung thành và sẵn lòng trả giá, nhưng thực tế không phải vậy. Ngay cả những người chung sống với kẻ địch lại Đấng Christ lâu năm cũng không thể nhìn thấu được họ hay biết họ thực sự có bản lĩnh gì – người bình thường không thể nhìn thấu được họ. Những gì họ nói đều là nói dối, nói suông, đều là lời dối trá, lừa lọc. Chuyện gì họ cũng muốn tham dự và quyết định, nhưng một khi quyết định xong mà nảy sinh hậu quả gì, họ đều không chịu trách nhiệm, lại còn có thể viện lý do để bào chữa cho mình. Sau khi quyết định, họ để người khác làm, còn họ thì tiếp tục nhúng tay vào chuyện khác. Việc ban đầu kia có được theo dõi hay không, có được thực hiện hay không, hiệu quả thực hiện như thế nào, hầu hết người khác có ý kiến gì về cách làm này không, nó có làm tổn hại lợi ích của nhà Đức Chúa Trời không, hoặc các anh chị em có sự phân định về nó hay không, thì họ không quan tâm, như thể đó không phải việc của họ, không liên quan gì đến họ – họ không hề quan tâm chút nào. Họ chỉ quan tâm đến điều gì? Họ chỉ quan tâm đến những chuyện mà họ có thể thể hiện và khiến người khác xem trọng họ; họ không bao giờ bỏ lỡ cơ hội để làm vậy. Khi công tác, họ không làm gì ngoài ra lệnh và bắt người khác tuân thủ quy định. Họ chỉ biết chơi trò chơi quyền lực và thao túng mọi người, lại còn thấy đắc ý và cảm thấy mình biết làm công tác. Họ hoàn toàn không ý thức được làm công tác như thế thì sẽ dẫn đến hậu quả gì – họ đang làm hại dân được Đức Chúa Trời chọn, gây nhiễu loạn và gián đoạn công tác của hội thánh. Họ đang cản trở việc tiến hành ý chỉ của Đức Chúa Trời, và đang cố gắng lập vương quốc độc lập của riêng mình.

Độc đoán chuyên quyền, không bao giờ thông công với người khác và buộc người khác thuận phục mình – hành vi này của kẻ địch lại Đấng Christ chủ yếu cho thấy điều gì? Cho thấy tâm tính của họ tà ác, hung ác, và họ có dục vọng khống chế người khác đặc biệt lớn, vượt ra khỏi phạm vi lý tính bình thường của con người. Thêm vào đó, nhận thức, cách nhìn nhận và thái độ của họ đối với bổn phận của mình là gì? Nó khác biệt như thế nào so với những người thực sự làm bổn phận? Những người thực sự làm bổn phận thì tìm kiếm nguyên tắc khi làm bổn phận, đây là điều phải có trước tiên. Nhưng kẻ địch lại Đấng Christ lĩnh hội như thế nào về bổn phận họ làm? Tâm tính và thực chất nào bộc lộ thông qua việc làm bổn phận của họ? Họ ở trên cao nhìn xuống và trịch thượng với những người phía dưới. Một khi được chọn làm lãnh đạo, họ bắt đầu xem mình là người có địa vị và thân phận. Họ không đón nhận bổn phận từ Đức Chúa Trời. Ngay khi có được một địa vị rồi, họ liền cảm thấy mình quyền cao chức trọng, thân phận không giống người thường, có thể ở trên cao nhìn xuống, khinh thường những người khác. Đồng thời, họ cảm thấy họ có thể ra lệnh và làm việc dựa theo cách nghĩ của mình, thậm chí không cần e dè gì khi làm vậy. Họ nghĩ họ có thể mượn cơ hội làm bổn phận để thỏa mãn khao khát làm quan của mình, để thỏa mãn dục vọng cùng dã tâm muốn thống trị và lãnh đạo người khác bằng quyền lực. Có thể nói rằng cuối cùng, họ cảm thấy mình có cơ hội để nói ra ai cũng nghe theo răm rắp. Có những người nói: “Biểu hiện của kẻ địch lại Đấng Christ là độc đoán chuyên quyền và không bao giờ thông công với người khác. Mặc dù lãnh đạo của chúng tôi cũng có tâm tính và sự bộc lộ của kẻ địch lại Đấng Christ, nhưng họ thường xuyên thông công với chúng tôi!”. Vậy thì họ không phải là kẻ địch lại Đấng Christ sao? Đôi khi kẻ địch lại Đấng Christ biết giả vờ; sau khi thông công với mọi người một lượt, hiểu và nắm bắt được ý nghĩ của mọi người – xác định ai đồng lòng với họ, ai không – họ liền phân loại mọi người. Về sau có chuyện gì, họ chỉ trao đổi với những người có mối quan hệ tốt và tương hợp với họ. Những người không đồng lòng với họ thường không được biết thông tin về hầu hết mọi chuyện, thậm chí họ còn giữ lại sách lời Đức Chúa Trời không phát cho những người đó. Các ngươi đã bao giờ hành động kiểu này, độc đoán chuyên quyền, không bao giờ thông công với người khác chưa? Chuyện độc đoán chuyên quyền chắc chắn là có, nhưng không bao giờ thông công với người khác thì không hẳn; thỉnh thoảng cũng có thể thông công. Tuy nhiên, sau khi thông công thì vẫn làm như ngươi nói. Có những người nghĩ bụng: “Mặc dù chúng ta thông công, nhưng thực ra tôi đã lập kế hoạch cố định từ lâu rồi. Tôi chỉ thông công với anh cho có hình thức thôi, chỉ để anh biết rằng tôi làm việc có nguyên tắc thôi. Anh nghĩ tôi không biết tầm của anh thế nào sao? Cuối cùng, anh vẫn phải nghe theo tôi và đi theo con đường của tôi thôi”. Thực ra họ đã quyết định trong lòng từ lâu rồi. Họ cho rằng: “Miệng mình có thể nói chết thành sống, nói sống thành chết; ai cũng không nói lại được, nên đương nhiên xu hướng cuối cùng phải theo lời mình”. Họ đã tính toán trước rất xa. Có trường hợp như vậy không? Độc đoán chuyên quyền không phải là một cách làm thỉnh thoảng bất cẩn nên bộc lộ, mà nó là do một tâm tính nhất định khống chế bên trong họ. Có thể xét từ cách nói năng hoặc hành động thì họ không có vẻ độc đoán chuyên quyền, nhưng xét từ tâm tính và tính chất hành động của họ, thì họ chính là người độc đoán chuyên quyền. Họ làm cho có hình thức, cũng “lắng nghe” ý kiến của người khác, để cho người khác nói, cho người khác biết đầu đuôi sự tình, cũng nói ra lời Đức Chúa Trời yêu cầu những gì – nhưng họ sử dụng một loại ngôn luận hoặc cách nói để dẫn dắt người khác đi đến đồng thuận với họ. Và kết quả cuối cùng là gì? Chính là mọi việc diễn ra theo kế hoạch của họ. Đây chính là chỗ nham hiểm của họ; đây cũng gọi là buộc người khác thuận phục họ, đó là một dạng ép buộc “mềm mỏng”. Họ nghĩ: “Anh không nghe, đúng không? Anh không hiểu, đúng không? Để tôi giải thích cho”. Khi giải thích, họ thêu dệt lời mình, dẫn dắt người khác theo lô-gic của họ. Sau khi bị họ dắt mũi, người ta nghe thì nghĩ: “Những gì anh nói đều đúng; chúng tôi sẽ thực hành như anh nói, không cần phải quá nghiêm túc nữa”, thế là kẻ địch lại Đấng Christ liền vui vẻ. Hầu hết mọi người không thể phân định được lời họ. Các ngươi có phân định được không? Khi gặp phải tình huống như thế, các ngươi nên làm gì? Chẳng hạn như khi gặp một chuyện, ngươi cảm thấy chuyện này có vấn đề; lúc đó ngươi chưa thể xác định rốt cuộc vấn đề nằm ở đâu, nhưng ngươi cảm thấy mình đang bị ép buộc thuận phục, lúc đó ngươi nên làm gì? Ngươi nên tìm kiếm các nguyên tắc có liên quan, hoặc tìm kiếm sự hướng dẫn từ Bề trên, cũng có thể thông công với người mà ngươi nghi vấn. Ngoài ra, những người hiểu được lẽ thật có thể thảo luận và thông công cùng nhau về những chuyện này. Có lúc, công tác và sự chỉ dẫn của Đức Thánh Linh sẽ cho phép ngươi hiểu được vấn đề trong phương án hoặc lý luận đưa ra bởi kẻ địch lại Đấng Christ hoặc những người đi con đường địch lại Đấng Christ, cũng như rốt cuộc họ đang âm mưu gì. Thông qua việc thông công với nhau, các ngươi có thể hiểu ra được. Nhưng có thể các ngươi không thông công, mà thay vào đó lại nghĩ: “Đó không phải là vấn đề lớn, cứ để anh ta làm theo ý mình đi. Đằng nào mình cũng không chịu trách nhiệm chính, nên chẳng cần phải bận tâm về những chuyện này. Nếu xảy ra chuyện, mình cũng đâu phải gánh trách nhiệm; anh ta gánh mà”. Đây là loại hành vi gì? Đây là không trung thành với bổn phận của mình. Không trung thành với bổn phận của mình chẳng phải là bán đứng lợi ích của nhà Đức Chúa Trời sao? Đây chính là làm Giu-đa! Khi đối mặt với cường quyền, rất nhiều người cuối cùng chọn cách thỏa hiệp và thông đồng làm bậy, đó chính là một biểu hiện của sự không trung thành với bổn phận của mình. Dù ngươi gặp phải kẻ địch lại Đấng Christ hay ai đó làm xằng làm bậy và buộc ngươi thuận phục họ, thì ngươi cũng nên chọn giữ vững những nguyên tắc nào? Ngươi nên đi theo con đường nào? Nếu ngươi cảm thấy những gì mình đang làm không mâu thuẫn hoặc đi chệch khỏi lời Đức Chúa Trời và sự sắp xếp công tác, thì ngươi phải giữ vững. Giữ vững lẽ thật là đúng đắn và được Đức Chúa Trời khen ngợi, nhưng cúi đầu thỏa hiệp với Sa-tan, với các thế lực tà ác, với kẻ ác, là hành vi phản bội, đó là một việc ác mà Đức Chúa Trời căm ghét và rủa sả. Khi kẻ địch lại Đấng Christ gặp phải người tranh luận với họ, họ thường nói: “Trong chuyện này, tôi có quyền quyết định, và phải làm theo cách của tôi. Nếu xảy ra chuyện gì, tôi sẽ chịu trách nhiệm!”. Câu này đại diện cho tâm tính nào? Người có thể nói và thực hành theo cách này thì có nhân tính bình thường không? Tại sao họ lại ép buộc người khác thuận phục mình? Tại sao khi gặp chuyện, họ không tìm kiếm lẽ thật để giải quyết vấn đề? Tại sao họ không thể xác định các nguyên tắc thực hành lẽ thật? Điều này chứng tỏ họ không có lẽ thật. Các ngươi có thể phân định được vấn đề trong câu này không? Có thể nói ra những điều như thế là đủ để chứng tỏ họ có tâm tính của kẻ địch lại Đấng Christ; đây chính là hành vi của kẻ địch lại Đấng Christ. Tuy nhiên, một kẻ địch lại Đấng Christ giảo hoạt hơn thì sẽ sợ bị người khác phân định, họ phải nói đôi điều mà mọi người tán thành và nghe có vẻ đúng đắn, để từ đó đạt được mục đích mê hoặc mọi người và có được chỗ đứng vững chắc. Sau đó, họ sẽ nghĩ cách khống chế dân được Đức Chúa Trời chọn.

Những biểu hiện của việc kẻ địch lại Đấng Christ độc đoán chuyên quyền thì không thiếu, bởi vì dạng cách làm, tâm tính và tính chất độc đoán chuyên quyền này có thể thấy được ở mọi con người bại hoại, huống gì là kẻ địch lại Đấng Christ. Các ngươi có thể nghĩ ra một số ví dụ về sự độc đoán chuyên quyền của bản thân không? Chẳng hạn như nếu ai đó nói ngươi để tóc ngắn đẹp, và ngươi đáp: “Để tóc ngắn có gì đẹp đâu? Tôi thích tóc dài hơn, kệ tôi chứ”, thì đây có phải là độc đoán chuyên quyền không? (Thưa, không.) Đây chỉ là sở thích cá nhân, một phần của nhân tính bình thường. Có những người muốn đeo kính dù không cận thị. Nếu một số người xét đoán họ rằng: “Không cận thị còn đeo kính, anh chỉ cố đỏm dáng thôi!”, và họ đáp: “Đỏm dáng thì sao? Tôi cứ đeo đấy!” – đây có phải là độc đoán chuyên quyền không? Không, đây là sở thích cá nhân của họ, cùng lắm cũng chỉ là tùy hứng, và không đến mức là vấn đề về tâm tính. Không chừng họ đeo kính vài ngày, cảm thấy chẳng hay ho gì, liền không đeo nữa. Vậy những điều gì chủ yếu cấu thành sự độc đoán chuyên quyền? Nó chủ yếu liên quan đến con đường người ta đi, tâm tính của họ, và các nguyên tắc cũng như xuất phát điểm trong hành động của họ. Chẳng hạn như trong một cuộc hôn nhân, người chồng thích ô tô trong khi gia đình chỉ có 20.000 nhân dân tệ. Người chồng vay mượn khắp nơi có thể để mua chiếc ô tô trị giá 200.000 nhân dân tệ một cách không cần thiết, khiến gia đình không còn tiền ăn, và người vợ thậm chí còn không biết về giao dịch mua này. Vậy người chồng có phải là độc đoán chuyên quyền không? Đây chính là độc đoán chuyên quyền. Độc đoán chuyên quyền có nghĩa là không quan tâm đến cảm nhận, cách nghĩ, ý kiến, thái độ hoặc quan điểm của người khác, mà chỉ biết mình. Nói một cách đơn giản, trong đời sống hàng ngày, nó có nghĩa là thỏa mãn sự hưởng thụ và dục vọng xác thịt của mình, thỏa mãn sự ích kỷ của mình; còn khi liên quan đến bổn phận, nó nói đến việc thỏa mãn dã tâm và dục vọng mưu cầu địa vị và quyền lực của mình. Lấy ví dụ: hội thánh có một ngôi nhà, và cần xây con đường bên cạnh. Chiều rộng thích hợp của con đường nên được xác định bởi kích thước của ngôi nhà và khoảng sân, để đáp ứng được cả tính thẩm mỹ và công năng. Xét diện tích lớn của ngôi nhà và khoảng sân này, con đường cần phải rộng ít nhất hai mét. Người phụ trách nói: “Tôi quyết định rồi, chúng ta sẽ làm đường rộng một mét”. Những người khác nói: “Hàng ngày nhiều người ra vào, đôi khi chúng ta cũng phải chuyển đồ nữa; một mét làm sao đủ được, quá hẹp”. Nhưng người phụ trách cứ khăng khăng giữ quan điểm riêng của mình, không chịu bàn bạc. Cuối cùng khi xây xong, mọi người đều thấy con đường quá hẹp, không cân đối với ngôi nhà và khoảng sân, và không có tác dụng thực tế – cần phải tu sửa, lại phải làm lại. Khi đó, mọi người đều oán trách người này. Thực ra, trước khi bắt đầu xây dựng con đường, một số người đã nêu ý kiến phản đối, nhưng người này không đồng ý và khăng khăng giữ quan điểm riêng của mình, ép buộc người khác chấp hành theo ý mình, dẫn đến hậu quả như vậy. Tại sao người này lại không thể tiếp nhận ý kiến đóng góp của người khác? Khi có những ý kiến khác nhau, tại sao họ không thể suy xét toàn diện và tìm ra phương thức đúng đắn? Nếu không có ai để bàn bạc thì ngươi tự ra quyết định cũng được, nhưng bây giờ có người để bàn bạc và thậm chí có những ý kiến đóng góp tốt hơn, tại sao ngươi không thể tiếp nhận? Đây là loại tâm tính gì? Có ít nhất hai khả năng: một là người này không có não, là người hồ đồ; hai là tâm tính họ quá kiêu ngạo và tự nên công chính, luôn cảm thấy mình đúng đắn, dù người khác có nói đúng đến đâu, họ cũng không thể tiếp nhận – đây là kiêu ngạo đến mức đánh mất lý trí. Một chuyện nhỏ như thế đã tỏ lộ tâm tính họ rồi. Kiêu ngạo quá mức sẽ dẫn đến không có lý tính. Không có lý tính nghĩa là gì? Thứ gì không có lý tính? Súc sinh thì không có lý tính. Nếu con người không có lý tính thì không khác gì súc sinh; đầu óc họ không có năng lực phán đoán và không có lý tính này. Nếu con người trở nên kiêu ngạo đến mức mất lý trí, cũng không có lý tính, thì chẳng phải họ chẳng khác súc sinh là mấy sao? (Thưa, phải.) Họ chính là vậy; không có lý tính của con người đồng nghĩa họ không phải là con người. Kẻ địch lại Đấng Christ có dạng lý tính này không? (Thưa, không.) Kẻ địch lại Đấng Christ càng không có; họ còn tệ hơn súc sinh, họ là ma quỷ. Giống như khi Đức Chúa Trời hỏi Sa-tan: “Ngươi ở đâu đến?”. Câu hỏi của Đức Chúa Trời thực ra rất rõ ràng; Đức Chúa Trời truyền tải thông điệp gì? (Thưa, Ngài đang hỏi Sa-tan rằng nó từ đâu đến.) Câu này rõ ràng kết thúc bằng dấu hỏi; nó là một câu hỏi, đề cập đến “Sa-tan” với chủ ngữ là “ngươi”: “Ngươi từ đâu đến?”. Ngữ pháp chuẩn, và câu hỏi của Đức Chúa Trời dễ hiểu. Sa-tan trả lời như thế nào? (Thưa, “Tôi trải qua đây đó trên đất và dạo chơi tại nơi nó” (Gióp 1:7).) Đây là danh ngôn của Sa-tan. Câu trả lời của Sa-tan có bất kỳ lý tính nào không? (Thưa, không.) Nó không có lý tính. Khi Đức Chúa Trời hỏi lại nó từ đâu đến, nó lặp lại câu trả lời đó, như thể không thể hiểu được lời Đức Chúa Trời. Mọi người có hiểu những gì Sa-tan nói không? Lời nói của nó có chút lý tính nào không? (Thưa, không.) Nó không có lý tính – vậy nó nghe thì có thể hiểu được lẽ thật không? Ngay cả với một câu hỏi đơn giản như vậy từ Đức Chúa Trời mà nó còn đáp lại kiểu đó; thì những lẽ thật mà Đức Chúa Trời phán, nó nghe càng không hiểu. Có thể nói rằng những kẻ địch lại Đấng Christ cũng không có lý tính; những người hành động quỷ dị, những người nghe mà không hiểu lời Đức Chúa Trời hay lẽ thật thì đều là người không có lý tính. Dù ngươi có nói nhiều đến đâu về việc thực hành lẽ thật, làm việc theo nguyên tắc, tìm kiếm nguyên tắc và thông công với người khác trong khi làm bổn phận – mà họ nói rằng họ hiểu và biết rồi – thì đến khi hành động, họ cũng sẽ không hề ghi nhớ lời ngươi và muốn sao làm vậy. Đây chính là quỷ tính! Những người có loại quỷ tính này thì không hiểu được lẽ thật và không có lý tính. Chỗ không có lý trí và vô liêm sỉ nhất của họ là gì? Con người là do Đức Chúa Trời tạo dựng, Đức Chúa Trời lựa chọn con người và đưa họ đến trước Ngài để làm gì? Để khiến cho con người nghe theo và hiểu được lời Đức Chúa Trời, đi con đường nhân sinh đúng đắn như Đức Chúa Trời chỉ dẫn, và cuối cùng đạt đến biết phân biệt đúng sai, phân biệt những điều tích cực và tiêu cực. Đây là việc mà Đức Chúa Trời muốn làm; như thế, những người đi theo Đức Chúa Trời sẽ ngày càng tốt hơn. Mà kẻ địch lại Đấng Christ không có lý trí đến mức nào? Họ nghĩ: “Lạy đức chúa trời, ngài đưa con người đến trước ngài, con cũng sẽ làm thế. Ngài có thể lựa chọn con người, sắp đặt và tể trị họ, con cũng sẽ làm thế. Ngài có thể khiến con người thuận phục và nghe theo ngài, ngài ra lệnh trực tiếp và khiến họ làm như ngài phán, con cũng sẽ làm thế”. Đây chẳng phải là không có lý tính sao? (Thưa, phải.) Không có lý tính chẳng phải có nghĩa là họ vô liêm sỉ sao? (Thưa, phải.) Con người là của ngươi sao? Họ nên đi theo ngươi sao? Dựa vào cái gì mà bảo họ phải nghe ngươi? Ngươi chỉ là một trong số loài thọ tạo nhỏ xíu, dựa vào cái gì mà mơ mộng mình cao hơn hết thảy? Đây chẳng phải là không có lý tính sao? (Thưa, phải.)

Có những người đủ may mắn để được chọn làm lãnh đạo trong hội thánh, nhưng thực ra tố chất và vóc giạc của họ chưa đủ tiêu chuẩn. Đây là Đức Chúa Trời nâng cao họ, nhưng họ lại không lĩnh hội được như vậy. Thay vào đó, họ nghĩ: “Tôi làm lãnh đạo, nên tôi giỏi hơn người khác, cao hơn người khác; tôi không còn là người bình thường nữa. Các người mà ở trước đức chúa trời thì phải ngoan ngoãn vâng lời, phủ phục thờ phượng, tôi thì không cần, bởi vì tôi khác các người; các người là loài thọ tạo, tôi thì không”. Vậy thì ngươi là cái gì? Chẳng phải ngươi cũng là người trần mắt thịt sao? Ngươi khác người khác ở chỗ nào? Khác ở chỗ ngươi không biết xấu hổ; ngươi không có liêm sỉ, không có lý tính, thậm chí còn không bằng con chó. Ngươi hành động thì độc đoán chuyên quyền, người khác khuyên gì cũng không nghe – đó chính là điểm khác biệt. Dù tố chất của bản thân kém đến đâu, hay hiệu quả làm việc thấp thế nào, họ vẫn cảm thấy mình cao hơn người bình thường, tin rằng họ có năng lực và tài cán. Vì thế, làm gì họ cũng không cần bàn bạc với người khác để đạt đến sự đồng thuận, nghĩ rằng họ có tư cách và có đầy đủ năng lực kiểm soát hết thảy. Chẳng phải đây là kiêu ngạo đến mức đánh mất lý trí sao? Chẳng phải đây là mặt dày vô sỉ sao? (Thưa, phải.) Khi chưa làm lãnh đạo, họ làm người có chừng mực; họ cảm thấy mình có tài cán và năng lực, hành động cũng có ý chí mạnh mẽ nhất định, chỉ là chưa có cơ hội. Một khi trở thành lãnh đạo, họ tách khỏi các anh chị em, ăn trên ngồi trốc, bắt đầu hết chừng mực, cái đuôi cáo của họ lộ ra, họ cảm thấy mình có thể đạt được những điều lớn lao, cho rằng: “Nhà đức chúa trời không chọn nhầm người; mình đúng là nhân tài – vàng thật sớm muộn cũng phát sáng. Bây giờ nhìn mình này: đức chúa trời đã nhận ra mình, chẳng phải sao?”. Như vậy chẳng đáng ghê tởm sao? (Thưa, phải.) Ngươi chỉ là một trong những loài thọ tạo bình thường; dù ân tứ hay tài cán của ngươi có lớn đến đâu, thì tâm tính bại hoại của ngươi cũng giống như của mọi người khác. Nếu ngươi nghĩ mình khác với người thường, cảm thấy mình cao siêu, muốn vượt lên trên tất cả mọi người, cao hơn hết thảy, thì ngươi sai rồi. Vì quan niệm sai lầm này mà ngươi hành động độc đoán chuyên quyền, không thông công hay bàn bạc với người khác, thậm chí còn muốn tận hưởng sự thuận phục và nghe lời của người khác đối với mình, như vậy là sai. Sai ở đâu? (Thưa, đứng sai vị trí.) Tại sao những kẻ địch lại Đấng Christ lại luôn đứng sai vị trí? Có một điều có thể khẳng định chắc chắn, mà các ngươi có thể không nhận ra, đó là trong nhân tính của họ có thêm một thứ so với người khác; họ luôn có một dạng nhận thức sai lầm. Nhận thức sai lầm này do đâu mà có? Nó không phải là do Đức Chúa Trời cho, mà là Sa-tan cho. Nghĩa là mọi việc họ làm, mọi thứ họ bộc lộ và biểu hiện, đều không phải là thứ bản năng trong phạm vi nhân tính bình thường, mà do một lực lượng ngoại lai thúc đẩy. Tại sao lại nói hành động của họ quỷ dị, và dã tâm, dục vọng của họ không thể khống chế được? Dục vọng khống chế người khác của họ đã vượt qua cực hạn. Vượt qua cực hạn nghĩa là gì? Nghĩa là không từ thủ đoạn, vượt quá lý tính và liêm sỉ; không áp chế được, cũng như cái lò xo, khi ngươi ấn xuống, nó có thể tạm thời chùng xuống, nhưng một khi ngươi buông tay, nó liền bật lên trở lại. Chẳng phải đây là bị dục vọng thiêu đốt, tẩu hỏa nhập ma sao? Nói vậy không hề quá chút nào.

Nơi nào có kẻ địch lại Đấng Christ cầm quyền trong hội thánh, thì hội thánh đó không thể gọi là hội thánh nữa. Những ai đã trải qua chuyện này đều lĩnh hội được như vậy. Đó không phải là bầu không khí yên tĩnh, vui vẻ và người người hướng thượng, mà là một bầu không khí tối tăm hỗn loạn, ai cũng cảm thấy rất bồn chồn, bất an, trong lòng không yên ổn, như thể một đại họa nào đó sắp xảy đến. Những lời nói và hành động của kẻ địch lại Đấng Christ có thể mang lại một bầu không khí mà trong đó lòng người trở nên vẩn đục, không thể phân định rõ giữa điều tích cực và điều tiêu cực. Ngoài ra, việc bị kẻ địch lại Đấng Christ mê hoặc trong một thời gian dài còn khiến lòng người ngày càng xa cách Đức Chúa Trời, dẫn đến mối quan hệ không bình thường với Đức Chúa Trời, giống như những người trong tôn giáo tin Đức Chúa Trời trên danh nghĩa, nhưng trong lòng không có chỗ cho Ngài. Còn một vấn đề thực tế nữa, đó là khi kẻ địch lại Đấng Christ cầm quyền thì sẽ nảy sinh chia rẽ và hỗn loạn trong hội thánh. Những người yêu lẽ thật không cảm nhận được sự vui hưởng hay giải phóng khi nhóm họp, vì thế muốn rời khỏi hội thánh để tin Đức Chúa Trời tại gia. Khi Đức Thánh Linh làm công tác trong hội thánh, dù mọi người có hiểu được lẽ thật hay không, tất cả cũng đều đồng lòng dốc sức, tạo nên một bầu không khí an bình và ổn định hơn, không có náo động. Tuy nhiên, hễ kẻ địch lại Đấng Christ làm việc là họ mang lại bầu không khí náo động, quỷ dị. Sự can thiệp của họ dẫn đến chia rẽ, mọi người trở nên đề phòng lẫn nhau, xét đoán lẫn nhau, công kích lẫn nhau và ngầm phá hoại nhau. Rõ ràng, kẻ địch lại Đấng Christ đóng vai trò gì? Họ chính là tay sai của Sa-tan. Hậu quả gây ra bởi hành động của kẻ địch lại Đấng Christ là: thứ nhất, anh chị em xét đoán, nghi ngờ và đề phòng lẫn nhau; thứ hai, ranh giới giữa nam và nữ lu mờ, dần dần dẫn đến những giao du bậy bạ; và thứ ba, trong lòng mọi người trở nên mơ hồ về các khải tượng, không còn chú trọng thực hành lẽ thật, không còn biết cách hành động phù hợp với các nguyên tắc lẽ thật, chút đạo lý ít ỏi mà họ từng hiểu cũng mất đi, tâm tư vẩn đục, và họ mù quáng đi theo kẻ địch lại Đấng Christ, chỉ chú trọng làm việc bề ngoài, bôn ba bề ngoài. Một số người có thể cảm thấy đi theo kẻ địch lại Đấng Christ sẽ không đến đâu cả; giá như những người mưu cầu lẽ thật có thể nhóm họp và làm bổn phận cùng nhau thì vui biết mấy! Một khi kẻ địch lại Đấng Christ cầm quyền trong hội thánh, Đức Thánh Linh sẽ ngừng làm công tác, các anh chị em bị bóng tối bao trùm, cũng không còn hăng hái tin Đức Chúa Trời và làm bổn phận. Nếu tình trạng này kéo dài, chẳng phải đa số các anh chị em sẽ bị Đức Chúa Trời đào thải sao?

Hôm nay, một mặt chúng ta đã mổ xẻ những biểu hiện của hành vi độc đoán chuyên quyền của kẻ địch lại Đấng Christ. Mặt khác, chúng ta thông qua việc mổ xẻ những biểu hiện này mà cho mọi người biết được rằng ngay cả khi ngươi không phải là kẻ địch lại Đấng Christ, nhưng nếu ngươi có những biểu hiện như vậy thì sẽ có liên quan đến tính chất của kẻ địch lại Đấng Christ. Hành động độc đoán chuyên quyền có phải là một biểu hiện của nhân tính bình thường không? Chắc chắn là không; quá rõ ràng, đây là một sự bộc lộ của tâm tính bại hoại. Dù địa vị của ngươi cao đến đâu hay ngươi có thể làm bao nhiêu bổn phận, nếu ngươi có thể học cách thông công với người khác, thì ngươi đang giữ vững nguyên tắc lẽ thật, đó là điều tối thiểu mà ngươi nên có. Tại sao lại nói rằng học thông công với người khác chính là giữ vững nguyên tắc? Nếu ngươi có thể học cách thông công với người khác thì chứng tỏ ngươi không xem địa vị của mình là bát cơm, không đặt nặng về địa vị. Dù địa vị của ngươi cao đến đâu thì ngươi cũng đang làm bổn phận. Ngươi hành động là để làm bổn phận, chứ không phải vì địa vị. Đồng thời, khi gặp vấn đề, nếu ngươi có thể học cách thông công với người khác, dù với các anh chị em bình thường hay những cộng sự của mình, ngươi đều có thể tìm kiếm và thông công cùng họ, điều này cho thấy gì? Nó cho thấy ngươi có thái độ tìm kiếm và thuận phục lẽ thật, đó là điều đầu tiên cho thấy thái độ của ngươi đối với Đức Chúa Trời và lẽ thật. Hơn nữa, làm bổn phận là chức trách của ngươi, và tìm kiếm lẽ thật trong công tác là con đường ngươi nên đi. Còn người khác có thái độ như thế nào với quyết định của ngươi, có thể thuận phục hay không, thuận phục như thế nào, đó là việc của họ; nhưng việc ngươi có thể làm tốt bổn phận và làm đạt tiêu chuẩn hay không, thì đó là việc của ngươi. Ngươi phải hiểu được các nguyên tắc làm bổn phận; nó không chỉ là chuyện thuận phục một cá nhân nào đó, mà là thuận phục các nguyên tắc lẽ thật. Nếu ngươi cảm thấy mình hiểu được các nguyên tắc lẽ thật, và thông qua thông công với tất cả mọi người mà đạt đến sự đồng thuận, anh chị em đều nhất trí rằng làm như vậy là thích hợp, nhưng có một vài người không phục và muốn gây rối, thì trong tình huống như vậy nên làm gì? Trong trường hợp này, thiểu số nên theo đa số. Vì đa số mọi người đã đạt được sự đồng thuận, tại sao họ còn gây rối? Họ muốn phá hoại à? Họ có thể bày tỏ ý kiến của mình để mọi người cùng phân định, và nếu mọi người nói rằng ý kiến của họ không phù hợp với nguyên tắc và không đứng vững, thì họ nên từ bỏ quan điểm của mình, không bám vào đó nữa. Nguyên tắc để tiếp cận chuyện này là gì? Cái gì đúng thì nên giữ vững, cái gì sai thì không nên ép buộc người khác thuận phục. Hiểu chưa? Thực ra, trước khi kẻ địch lại Đấng Christ có biểu hiện và cách làm độc đoán chuyên quyền này, họ đã có kế hoạch riêng trong đầu rồi. Độc đoán chuyên quyền chắc chắn không nói đến việc làm điều đúng đắn hay thực hành lẽ thật, mà chắc chắn nói đến việc làm điều sai trái và đi ngược lại lẽ thật, đi theo con đường sai lầm và ra quyết định sai lầm, mà vẫn bắt người khác nghe theo. Đây gọi là độc đoán chuyên quyền. Nếu điều gì là đúng đắn và hợp lẽ thật thì phải giữ vững. Đây không phải là độc đoán chuyên quyền, mà là giữ vững nguyên tắc. Phải phân biệt được hai cái này. Việc kẻ địch lại Đấng Christ độc đoán chuyên quyền chủ yếu nói đến điều gì? (Thưa, làm việc không phù hợp với nguyên tắc hoặc lẽ thật, mà vẫn bắt người khác nghe theo.) Đúng vậy, dù gặp chuyện gì hay xử lý vấn đề gì, họ cũng không tìm kiếm nguyên tắc lẽ thật, mà ra quyết định dựa trên quan niệm và tưởng tượng của mình. Trong lòng họ biết làm vậy là đi ngược lại nguyên tắc, nhưng vẫn muốn người khác nghe theo và thuận phục. Đây là cách làm nhất quán của kẻ địch lại Đấng Christ.

Khi công tác mở rộng phúc âm mới bắt đầu, một số người đem cuốn “Lời xuất hiện trong xác thịt” đến với những người tôn giáo để rao truyền phúc âm. Người trong tôn giáo sau khi đọc lời Đức Chúa Trời mặc khải về những lẽ mầu nhiệm, thông công về các khải tượng và bàn về lối vào sự sống, ai cũng nói rằng rất hay. Tuy nhiên, họ thấy một số lời phán xét và vạch rõ con người quá nghiêm khắc trong cách dùng từ. Họ cảm thấy như đang bị la mắng và không thể tiếp nhận, nói rằng: “Đức chúa trời phán lời mà có thể la mắng con người sao? Những lời này chắc cùng lắm là do cao nhân viết”. Người phụ trách việc rao truyền phúc âm nói rằng anh ta có một giải pháp. Về sau, anh ta sửa đổi tất cả những phần lời Đức Chúa Trời không phù hợp với quan niệm, tưởng tượng và thị hiếu của mọi người, cũng như những lời mà anh ta sợ sẽ khiến mọi người hình thành quan niệm sau khi đọc. Chẳng hạn như những lời Đức Chúa Trời dùng để vạch rõ bản tính con người, như “dâm phụ”, “kỹ nữ”, “kẻ vô lại”, và những cụm từ như “quẳng xuống địa ngục”, “quẳng vào hồ lửa và diêm sinh”, đều bị xóa đi. Tóm lại, hễ từ ngữ nào dễ làm nảy sinh quan niệm hoặc hiểu lầm đều bị xóa hết. Các ngươi nói xem, sau khi xóa bỏ những lời phán xét, định tội và rủa sả này từ lời Đức Chúa Trời, đó có còn là lời Đức Chúa Trời nguyên gốc nữa không? (Thưa, không.) Đó có còn là những lời Đức Chúa Trời bày tỏ trong công tác phán xét của Ngài nữa không? “Lão tiên sinh” này không bàn bạc với ai mà cứ thế xóa nhiều lời Đức Chúa Trời đặc biệt nghiêm khắc về việc tinh luyện và vạch rõ những tâm tính bại hoại của con người, nhất là những lời liên quan đến thời gian thử luyện của những kẻ phục vụ. Về sau, khi những người trong tôn giáo đọc bản sửa đổi thì nói: “Không tệ, đức chúa trời như vậy thì chúng tôi có thể tin”, và họ tiếp nhận. Lão tiên sinh này nghĩ bụng: “Thấy mình thông minh chưa! Lời đức chúa trời mà nghiêm khắc quá thì không khôn ngoan. Với những người đó thì phải dỗ dành – làm sao ngài lại có thể nói những điều mà có thể bị hiểu nhầm là la mắng được? Như vậy không khôn ngoan! Mình sửa đổi một chút, và xem thế nào đi: ngay cả những mục sư trong tôn giáo cũng sẵn sàng tin, và ngày càng nhiều người tiếp nhận. Sao nào? Mình chẳng khôn ngoan sao? Mình chẳng thông minh sao? Chẳng cao tay sao?”. Kết quả của việc anh ta sửa đổi khiến anh ta vô cùng tự hào về bản thân. Tuy nhiên, một số người trong tôn giáo khi vào hội thánh thì nhận thấy lời Đức Chúa Trời mà họ đọc được trước kia là bản bị sửa đổi và khác với nguyên bản trong hội thánh, họ liền phản ánh vấn đề này. Về sau mới phát hiện ra là lão tiên sinh này đã thay đổi nội dung của lời Đức Chúa Trời. Các ngươi nghĩ sao về những gì lão tiên sinh này làm? Chưa nói đến điều gì khác, mà chỉ nói rằng: những lời đó không phải là của ngươi, ngươi không có quyền sửa đổi. Cho dù là một bài báo hay cuốn sách do con người viết, nếu ngươi muốn sửa đổi, thì đầu tiên cần có được sự đồng ý của tác giả nguyên tác. Nếu họ đồng ý thì ngươi có thể sửa đổi. Nếu họ không đồng ý thì ngươi tuyệt đối không thể sửa đổi dù chỉ một từ. Đây gọi là tôn trọng tác giả và độc giả. Nếu tác giả không có sức thực hiện sửa đổi và ủy quyền cho ngươi, nói rằng ngươi có thể sửa đổi gì cũng được, chỉ cần giữ ý tứ ban đầu và đạt hiệu quả mong muốn là được, thì khi đó ngươi có thể sửa đổi không? (Thưa, có.) Nếu tác giả đã đưa ra sự đồng ý hoặc ủy quyền, thì có thể thực hiện sửa đổi. Loại hành vi này gọi là gì? Đó là danh chính ngôn thuận và làm việc đàng hoàng, phải không nào? Nhưng nếu tác giả chưa đồng ý mà ngươi sửa đổi khi chưa được sự ủy quyền của họ thì sao? Nó gọi là gì? (Thưa, tùy ý làm càn.) Nó gọi là tùy ý làm càn, độc đoán chuyên quyền. Vậy lão tiên sinh này đã thay đổi cái gì? (Thưa, lời Đức Chúa Trời.) Những lời nguyên gốc của Đức Chúa Trời, chứa đựng tâm tình, tâm tính và tâm ý của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Đức Chúa Trời phán theo cách như vậy là có ý tứ cả. Ngươi có biết tâm tình, dụng ý và hiệu quả mong muốn đằng sau từng lời Đức Chúa Trời phán không? Ngươi dò không thấu thì tại sao lại mù quáng thay đổi? Từng câu Đức Chúa Trời phán, cách dùng từ, giọng điệu, bầu không khí, tâm tình và cảm xúc mà lời Ngài khơi dậy ở con người đều có cách thức và cân nhắc kỹ càng. Đức Chúa Trời có sự suy xét và khôn ngoan. Lão tiên sinh này nghĩ gì? Anh ta cho rằng Đức Chúa Trời phán theo cách đó là không khôn ngoan, anh ta nhìn nhận công tác của Đức Chúa Trời như vậy đấy. Anh ta cho rằng: “Những người trong tôn giáo vốn chỉ muốn ăn bánh no bụng thì cần được dỗ dành và đối đãi bằng tình yêu thương và thương xót. Lời lẽ không được quá nghiêm khắc. Nếu quá nghiêm khắc thì làm sao rao truyền phúc âm được? Khi đó liệu còn mở rộng phúc âm được nữa không?”. Chẳng lẽ Đức Chúa Trời không biết điều đó sao? (Thưa, Ngài biết.) Đức Chúa Trời biết rất rõ. Vậy tại sao Ngài vẫn phán theo cách này? Đây chính là tâm tính của Đức Chúa Trời. Tâm tính của Đức Chúa Trời là gì? Là phán theo cách của Ngài, dù ngươi có tin hay không. Nếu ngươi tin thì ngươi là chiên của Đức Chúa Trời; nếu không tin thì ngươi là sói. Lời Đức Chúa Trời vạch rõ ngươi và la mắng ngươi một chút, vì thế mà ngươi từ chối thừa nhận mình là người tin Đức Chúa Trời sao? Ngươi không còn là loài thọ tạo của Đức Chúa Trời nữa sao? Đức Chúa Trời không còn là Đức Chúa Trời sao? Nếu vì thế mà ngươi có thể phủ nhận Đức Chúa Trời, thì ngươi chính là kẻ ác, là ma quỷ. Đức Chúa Trời không cứu rỗi dạng người này, do đó hội thánh không nên cưỡng ép hoặc dỗ dành mà thu nhận họ. Có những người nói: “Dù Đức Chúa Trời có la mắng, tôi cũng cam tâm tình nguyện. Nếu Ngài là Đức Chúa Trời thì Ngài có thể cứu rỗi tôi. Nếu Ngài đánh tôi thì cũng đáng thôi. Nếu Ngài gọi tôi là kẻ hồ đồ thì tôi chính là vậy, thậm chí còn hồ đồ hơn thế nữa; nếu Ngài gọi tôi là dâm phụ, thì mặc dù xem ra tôi không làm những chuyện mà dâm phụ làm, nhưng vì Đức Chúa Trời phán vậy nên tôi thừa nhận và tiếp nhận”. Họ có đức tin, sự thừa nhận và tiếp nhận đơn giản nhất, cũng như lòng kính sợ Đức Chúa Trời đơn giản nhất. Đức Chúa Trời muốn thu phục những người như thế. Có những người thấy lời Đức Chúa Trời quá nghiêm khắc và đau lòng, cảm thấy họ sẽ không nhận được phúc lành, nên không muốn tin nữa. Họ nghĩ: “Dù ngài có là đức chúa trời đi nữa, con cũng không tin ngài. Nếu ngài phán như thế này, con sẽ không đi theo ngài”. Vậy thì cút ngay! Nếu ngươi thậm chí còn không thừa nhận Đức Chúa Trời, thì làm sao Đức Chúa Trời có thể thừa nhận ngươi là loài thọ tạo của Ngài được? Không thể nào! Lời Đức Chúa Trời được bày ra ở đây; tin hay không là tùy ngươi. Nếu ngươi không tin thì cút đi. Ngươi sẽ thiệt thòi. Nếu ngươi tin thì sẽ có tia hy vọng được cứu rỗi. Như vậy chẳng công bằng sao? (Thưa, phải.) Nhưng lão tiên sinh này có nghĩ vậy không? Anh ta có thể nhìn thấu tâm tư của Đức Chúa Trời không? (Thưa, không.) Anh ta chẳng ngu xuẩn sao? Người không có hiểu biết thuộc linh thì làm những chuyện ngu xuẩn như vậy. Anh ta thấy Đức Chúa Trời rất nhỏ bé và đơn giản, cho rằng tâm tư của Đức Chúa Trời không cao hơn là bao so với tư duy trí óc của con người. Những lúc bình thường, anh ta thường nói ý niệm của Đức Chúa Trời cao hơn ý niệm của con người, không có việc gì làm thì giảng những đạo lý đao to búa lớn này, nhưng khi thực sự gặp chuyện thì những lời này anh ta ném vào tận xó xỉnh nào trong đầu rồi, cảm thấy Đức Chúa Trời mà phán những lời này thì có vẻ không giống Đức Chúa Trời. Trong lòng anh ta không thừa nhận những lời này của Đức Chúa Trời, nên anh ta đơn giản là không thể chấp nhận nổi. Vừa đúng lúc phúc âm đang được rao truyền, anh ta nhân cơ hội này để thay đổi lời Đức Chúa Trời, thậm chí còn giương cao ngọn cờ “rao truyền phúc âm hiệu quả và đưa về nhiều người hơn”. Cuối cùng Ta xác định tính chất hành vi của anh ta là gì? Là xuyên tạc lời Đức Chúa Trời. Xuyên tạc nghĩa là gì? Nghĩa là tùy tiện thêm bớt hoặc sửa đổi ý gốc, thay đổi ý tứ của tác giả, coi thường dụng ý và ý ban đầu của tác giả, rồi tùy ý sửa đổi. Đây gọi là xuyên tạc. Anh ta có lòng kính sợ Đức Chúa Trời không? (Thưa, không.) Thật to gan! Đây có phải là việc con người làm không? (Thưa, không.) Đây là việc ma quỷ làm, chứ không phải việc con người làm. Thậm chí ngươi còn không được tùy tiện sửa đổi lời của một người bình thường; ngươi phải tôn trọng ý kiến của tác giả. Nếu muốn sửa đổi, ngươi cần phải thông báo trước cho họ và chờ sự đồng ý của họ, chỉ sau khi nhận được sự cho phép của họ, ngươi mới có thể dựa trên ý tứ của họ mà sửa đổi. Đây gọi là tôn trọng. Đối với Đức Chúa Trời càng không chỉ cần tôn trọng! Nếu dù chỉ một câu trong lời Đức Chúa Trời bị in sai thôi, nếu thiếu dù chỉ một mạo từ thôi, ngươi cũng phải hỏi xem có được không; nếu không thì phải in lại trang đó. Việc này đòi hỏi một thái độ nghiêm túc và có trách nhiệm như vậy; đây gọi là có lòng kính sợ Đức Chúa Trời. Lão tiên sinh này có tấm lòng như vậy không? (Thưa, không.) Anh ta không có lòng kính sợ Đức Chúa Trời. Anh ta chẳng để Đức Chúa Trời vào mắt; thật cực kỳ to gan. Dạng người này nên bị khai trừ.

Gần đây cũng xảy ra một vụ việc tương tự. Có những người lại một lần nữa lấy cớ rao truyền phúc âm và đưa về được nhiều người hơn làm lý do để sửa đổi bừa bãi lời Đức Chúa Trời. Lần này đỡ hơn lần trước một chút; lần trước là làm độc đoán chuyên quyền, không thông công với người khác, tùy ý làm loạn, xuyên tạc lời Đức Chúa Trời. Lần này, thì có hỏi Bề trên trước, nói rằng: “Những người từ một nhóm dân tộc nhất định không thể tiếp nhận một số từ ngữ trong lời đức chúa trời. Mọi người đã bàn bạc và nghĩ ra đối sách, đó là loại bỏ hoặc sửa đổi những từ ngữ đó, những câu nói hoặc một vài đoạn trong lời đức chúa trời mà họ không thể tiếp nhận, rồi rao truyền cho họ bằng phiên bản lời đức chúa trời được điều chỉnh riêng. Chẳng phải khi đó họ sẽ tin sao?”. Ngươi xem; họ thật to gan. Đây là dạng hành vi gì? Xử nhẹ thì có thể coi dạng người này là ngu xuẩn vô tri và quá non trẻ; chỉ cần bảo họ lần sau không được làm vậy nữa. Nhưng nếu xác định tính chất của việc họ đã làm, thì họ đang tùy tiện sửa đổi lời Đức Chúa Trời để lấy lòng Sa-tan. Đây gọi là gì? Đây là hành vi của Giu-đa, của kẻ phản bội và phản nghịch, bán Chúa cầu vinh. Họ xuyên tạc lời Đức Chúa Trời, sửa đổi lời Đức Chúa Trời thành lời dễ nghe mà con người sẵn lòng và dễ dàng tiếp nhận, để từ đó lấy lòng những người này, khiến những người này tiếp nhận phúc âm – việc này chung quy lại là gì? Cho dù trên mặt đất không có một người nào tin thì lời Đức Chúa Trời sẽ không còn là lời Đức Chúa Trời sao? Tính chất của lời Đức Chúa Trời có thay đổi không? (Thưa, không.) Chẳng lẽ nếu họ tiếp nhận thì lời Đức Chúa Trời mới là lẽ thật, còn nếu họ không tiếp nhận thì lời Ngài không phải là lẽ thật à? Tính chất của lời Đức Chúa Trời có vì thế mà thay đổi không? Chắc chắn là không. Lẽ thật là lẽ thật; nếu ngươi không tiếp nhận thì ngươi bị chết! Có những người rao truyền phúc âm cho rằng: “Họ không tiếp nhận, thật quá đáng thương! Họ là một dân tộc thật vĩ đại, cao đẹp! Đức chúa trời yêu thương và thương xót họ vô cùng, làm sao chúng ta lại có thể không tỏ chút tình yêu thương với họ được? Hãy cùng sửa đổi lời đức chúa trời để họ có thể tiếp nhận. Những người đó mới tốt làm sao, đức chúa trời đối tốt và thương xót họ biết bao. Chúng ta nên quan tâm đến tâm ý của đức chúa trời!”. Đây chẳng phải là giả mạo sao? (Thưa, phải.) Lại một kẻ giả mạo nữa – những kẻ không hiểu được lẽ thật chỉ toàn làm chuyện ngu xuẩn! Trước đây có nói rằng có người vì xuyên tạc lời Đức Chúa Trời nên đã bị xử lý và khai trừ, thế mà bây giờ lại có những kẻ muốn xuyên tạc lời Ngài. Họ đang cố gắng đạt được mục đích gì? Đây chẳng phải là bán Chúa cầu vinh sao? (Thưa, phải.) Đây chính là bán Chúa cầu vinh, lấy lòng Sa-tan. Lời Đức Chúa Trời không thực tế sao? Lời Ngài không thể được đưa ra công khai sao? Ngươi không thừa nhận lời Ngài là lẽ thật sao? Nếu ngươi không thừa nhận thì tại sao vẫn còn tin? Nếu ngươi không thể tiếp nhận lẽ thật thì tin Đức Chúa Trời còn có ý nghĩa gì nữa? Như thế này không có cách nào được cứu rỗi. Dù Đức Chúa Trời phán như thế nào, dù Ngài phán những lời nào không hợp với quan niệm của ngươi, thì Ngài vẫn là Đức Chúa Trời, và thực chất của Ngài bất biến. Dù ngươi có nói dễ nghe đến đâu, dù ngươi làm gì, dù ngươi cho rằng mình thiện lương, nhân từ, giàu lòng yêu thương đến đâu, thì ngươi vẫn là con người, một con người bại hoại. Ngươi không chịu thừa nhận lời Đức Chúa Trời là lẽ thật và muốn sửa đổi lời Đức Chúa Trời để lấy lòng Sa-tan. Đây là cách làm gì? Thật đáng khinh bỉ! Ta tưởng rằng sau những mối thông công trước đây về tính chất của việc xuyên tạc lời Đức Chúa Trời, thì trong việc rao truyền phúc âm hiện nay sẽ không nảy sinh chuyện như thế lần nữa. Nhưng thật không thể ngờ vẫn có những người dám xuyên tạc và nuôi những ý nghĩ như vậy. Thái độ của những người này đối với lời Đức Chúa Trời là gì? (Thưa, khinh mạn.) Họ quả thực không kiêng nể gì cả! Trong lòng họ, lời Đức Chúa Trời nhẹ tựa lông hồng, không có trọng lượng gì hết. Họ cho rằng: “Lời đức chúa trời phán thế nào cũng được; mình có thể tùy tiện sửa đổi lời ngài. Làm cho lời ngài hợp với quan niệm và thị hiếu của con người thì tốt hơn. Lời đức chúa trời nên như vậy!”. Những kẻ làm những chuyện như xuyên tạc lời Đức Chúa Trời có thể được liệt là kẻ địch lại Đấng Christ. Họ không kiêng nể gì cả, không lưỡng lự mà tùy ý xuyên tạc; họ độc đoán chuyên quyền, và có cùng tâm tính, tính chất như những kẻ địch lại Đấng Christ khác. Còn một điểm nữa: khi đối mặt với nguy hiểm hoặc khi lợi ích của bản thân bị tổn hại, thì suy nghĩ và hành động đầu tiên của họ là gì? Họ chọn điều gì? Họ chọn bán đứng lợi ích của Đức Chúa Trời và lợi ích của nhà Đức Chúa Trời để bảo vệ mình. Những người xuyên tạc lời Đức Chúa Trời, họ có thực sự làm vậy để rao truyền phúc âm hiệu quả không? Mục đích ngấm ngầm đằng sau cái gọi là hiệu quả của họ là gì? Họ muốn thể hiện tài cán và năng lực của mình, để cho mọi người thấy: “Xem đi, tôi có năng lực chưa này! Thấy phúc âm được rao truyền hiệu quả thế nào sau khi tôi sửa đổi chưa? Các người không có kỹ năng đó đâu, thậm chí các người còn không dám nghĩ như thế nữa. Nhìn xem, với những suy nghĩ và hành động của tôi, thấy kết quả tôi đạt được chưa?”. Những người này xem thường lời Đức Chúa Trời và xuyên tạc lời Ngài để thỏa mãn dã tâm và dục vọng mưu cầu danh tiếng, địa vị của chính mình. Chẳng phải họ có tính chất của kẻ địch lại Đấng Christ sao? Liệt họ là kẻ địch lại Đấng Christ không hề oan uổng chút nào.

Một biểu hiện khác của kẻ địch lại Đấng Christ độc đoán chuyên quyền là gì? Đó là họ không bao giờ thông công về lẽ thật với các anh chị em, cũng không giải quyết vấn đề thực tế của mọi người. Thay vào đó, họ chỉ giảng câu chữ và đạo lý để lên lớp mọi người, thậm chí còn ép buộc người khác thuận phục mình. Thái độ và cách tiếp cận của họ đối với Bề trên và với Đức Chúa Trời là gì? Chính là dối trên gạt dưới. Dù trong hội thánh có vấn đề gì, họ cũng không bao giờ phản ánh lên Bề trên. Dù làm gì, họ cũng không bao giờ hỏi Bề trên. Có vẻ như họ không có vấn đề gì cần Bề trên thông công hay chỉ đạo – mọi việc họ làm đều lén lén lút lút sau lưng. Đây gọi là ngầm thao tác, họ muốn tự mình định đoạt, tự mình làm chủ. Nhưng có lúc họ cũng giả vờ, đem những chuyện to bằng hạt vừng lên hỏi Bề trên, giả bộ là người mưu cầu lẽ thật, khiến Bề trên lầm tưởng chuyện gì họ cũng tìm kiếm lẽ thật, cực kỳ tỉ mỉ. Thực ra, trong mọi chuyện lớn, họ đều không bao giờ tìm kiếm sự chỉ đạo, một mình họ ra quyết định, lại còn không cho Bề trên biết. Nếu xảy ra vấn đề gì, họ càng không báo cáo, sợ ảnh hưởng đến quyền lực, địa vị hoặc thanh danh của mình. Kẻ địch lại Đấng Christ hành động độc đoán chuyên quyền; không bao giờ thông công với người khác và ép buộc người khác thuận phục mình. Nói trắng ra, những biểu hiện chính của hành vi này là làm việc kinh doanh riêng; bồi đắp thế lực, bè phái và những mối quan hệ của riêng họ; gây dựng sự nghiệp riêng; rồi sau đó họ làm những việc mình muốn, làm những việc có lợi cho mình và hành động thiếu minh bạch. Mong muốn và dục vọng khiến người khác thuận phục mình của kẻ địch lại Đấng Christ đặc biệt mãnh liệt; họ mong đợi người khác thuận phục mình như thợ săn khiến chó săn tuân lệnh, không cho phép ai phân định đúng sai, nhất định phải nghe theo và thuận phục tuyệt đối mới được.

Sự độc đoán chuyên quyền của kẻ địch lại Đấng Christ còn có một biểu hiện nữa. Chẳng hạn như, nếu lãnh đạo của một hội thánh nọ là kẻ địch lại Đấng Christ, và các lãnh đạo, người làm công cấp cao hơn định tìm hiểu và can thiệp vào công tác của hội thánh đó, thì kẻ địch lại Đấng Christ này có đồng ý không? Chắc chắn là không. Anh ta khống chế hội thánh đến mức độ nào? Giống như tường đồng vách sắt, châm cắm không vào, nước tạt không lọt, anh ta không cho ai khác tham dự hoặc hỏi đến. Khi biết các lãnh đạo và người làm công sắp đến để tìm hiểu công tác, anh ta nói với các anh chị em rằng: “Tôi không biết mục đích những người này đến đây làm gì. Họ không hiểu tình hình thực tế của hội thánh chúng ta. Nếu họ can thiệp, họ có thể làm nhiễu loạn công tác của hội thánh chúng ta”. Đó chính là cách anh ta mê hoặc các anh chị em. Khi các lãnh đạo và người làm công đến, anh ta tìm đủ loại lý do và cái cớ để ngăn các anh chị em tiếp xúc với họ, lại còn giả tình giả nghĩa tiếp đãi các lãnh đạo và người làm công, giữ họ tách biệt ở một nơi dưới chiêu bài đảm bảo an toàn cho họ; nhưng thực ra là để ngăn họ gặp mặt và tìm hiểu tình hình từ các anh chị em. Khi các lãnh đạo và người làm công hỏi về tình hình công tác, kẻ địch lại Đấng Christ liền bịa chuyện, lừa trên gạt dưới, nói chuyện thêm thắt và thổi phồng hiệu quả công tác để lừa dối họ. Khi các lãnh đạo và người làm công đề nghị gặp gỡ các anh chị em của hội thánh, thì anh ta đáp: “Tôi chưa sắp xếp gì cả! Anh đến mà không báo trước. Nếu có thì tôi đã sắp xếp cho một số anh chị em gặp anh rồi. Nhưng bây giờ hoàn cảnh ác liệt, vì lý do an toàn, tốt hơn các anh chị không nên gặp các anh chị em”. Mặc dù lời anh ta nghe có vẻ hợp lý, nhưng người biết phân định có thể phát hiện ra vấn đề: “Anh ta không muốn các lãnh đạo và người làm công gặp các anh chị em bởi vì anh ta sợ bị lộ tẩy, sợ những thiếu sót và sai lệch trong công tác của mình bại lộ”. Kẻ địch lại Đấng Christ khống chế chặt các anh chị em của hội thánh. Nếu các lãnh đạo và người làm công mà vô trách nhiệm thì sẽ dễ dàng bị kẻ địch lại Đấng Christ dối gạt, lừa phỉnh. Tình hình thực tế của các anh chị em trong hội thánh, những khó khăn tồn đọng của họ, liệu các mối thông công và bài giảng của Bề trên cũng như các sách lời Đức Chúa Trời có được phát kịp thời đến tay các anh chị em hay không, các hạng mục công tác của hội thánh đang tiến triển thế nào, liệu có sai lệch hay vấn đề gì không – tất cả những điều này, các lãnh đạo và người làm công sẽ không biết. Các anh chị em cũng không biết gì về bất kỳ sự sắp xếp công tác mới nào trong nhà Đức Chúa Trời. Như thế, kẻ địch lại Đấng Christ hoàn toàn khống chế hội thánh, độc chiếm quyền lực và nắm quyền quyết định trong mọi sự. Các anh chị em hội thánh không có cơ hội tiếp xúc với các lãnh đạo, người làm công cấp cao hơn, cũng không biết chân tướng sự thật; họ bị kẻ địch lại Đấng Christ mê hoặc và khống chế rồi. Dù kẻ địch lại Đấng Christ nói thế nào, các lãnh đạo và người làm công thanh tra này cũng không biết phân định và vẫn nghĩ kẻ địch lại Đấng Christ đang làm tốt công tác mà đặt trọn lòng tin vào anh ta. Điều này tương đương với giao phó dân được Đức Chúa Trời chọn cho kẻ địch lại Đấng Christ phụ trách. Các ngươi nói xem, khi kẻ địch lại Đấng Christ mê hoặc người ta, mà các lãnh đạo và người làm công không biết phân định, vô trách nhiệm và không biết cách xử lý, thì chẳng phải sẽ làm chậm trễ công tác của hội thánh và làm hại dân được Đức Chúa Trời chọn sao? Dạng lãnh đạo và người làm công này chẳng phải chính là lãnh đạo giả và người làm công giả sao? Đối với hội thánh bị kẻ địch lại Đấng Christ khống chế, các lãnh đạo và người làm công phải can thiệp, hỏi han, còn cần kịp thời xử lý và loại bỏ kẻ địch lại Đấng Christ – chắc chắn phải như vậy. Nếu có lãnh đạo giả không làm công tác thực tế và làm ngơ việc kẻ địch lại Đấng Christ mê hoặc dân được Đức Chúa Trời chọn, thì dân được chọn nên vạch trần những lãnh đạo và người làm công giả này, tố giác, bãi nhiệm và thay thế họ bằng lãnh đạo tốt. Chỉ có cách này mới giải quyết triệt để được vấn đề kẻ địch lại Đấng Christ mê hoặc mọi người. Có những người nói rằng: “Có lẽ những lãnh đạo và người làm công như thế có tố chất kém và không biết phân định, nên mới không xử lý và giải quyết vấn đề kẻ địch lại Đấng Christ. Họ không cố ý làm vậy; chẳng phải nên cho họ thêm một cơ hội sao?”. Đối với dạng lãnh đạo hồ đồ này, không nên cho thêm cơ hội nào nữa. Nếu được cho thêm cơ hội, thì là để họ có thể tiếp tục làm hại dân được Đức Chúa Trời chọn mà thôi. Bởi vì họ không phải là người mưu cầu lẽ thật; không có lương tâm và lý trí, làm việc không có nguyên tắc, nên họ chính là kẻ tiểu nhân hèn hạ, nên bị đào thải! Trong hai năm qua, có những anh chị em trong một số hội thánh đã hợp lại bãi miễn, thay thế và đào thải các lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ không làm công tác thực tế như thế. Đó chẳng phải là chuyện tốt sao? (Thưa, phải.) Ta rất vui khi nghe thấy những tin tốt lành như thế; đó là bằng chứng thuyết phục nhất cho thấy dân được Đức Chúa Trời chọn đang trưởng thành trong sự sống và bước vào con đường tin Đức Chúa Trời đúng đắn. Nó cho thấy mọi người đã có chút phân định và vóc giạc, không còn bị những ác ma lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ khống chế nữa. Những lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ thông thường không còn có thể mê hoặc hoặc khống chế dân được Đức Chúa Trời chọn nữa. Dân được Đức Chúa Trời chọn không còn bị địa vị hoặc quyền thế kìm kẹp nữa. Họ có can đảm để phân định và vạch trần lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ, dám chặn đứng và bãi miễn lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ. Thực ra, dù là lãnh đạo, người làm công, hay người bình thường trong dân được Đức Chúa Trời chọn, hết thảy đều có địa vị ngang nhau trước Đức Chúa Trời, chỉ khác nhau về bổn phận mà thôi. Trong nhà Đức Chúa Trời không có sự phân biệt về địa vị, chỉ là khác nhau về bổn phận và trách nhiệm. Khi gặp phải lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ làm nhiễu loạn công tác của hội thánh, cả lãnh đạo và người làm công, cũng như dân được Đức Chúa Trời chọn, đều nên vạch trần và tố giác họ, kịp thời xử lý họ, khai trừ kẻ địch lại Đấng Christ khỏi hội thánh. Trách nhiệm này là như nhau và thuộc về tất cả mọi người.

Kẻ địch lại Đấng Christ độc đoán chuyên quyền, không bao giờ thông công với người khác và phải có quyền quyết định trong mọi sự – chẳng phải những vấn đề này đều có thể thấy rõ sao? Thông công với người khác và tìm kiếm nguyên tắc không phải là chuyện hình thức, không phải là làm cho có; mà mục đích làm như vậy là gì? (Thưa, để làm bổn phận có nguyên tắc và có con đường.) Đúng vậy; đó là để có thể làm bổn phận có nguyên tắc và có con đường. Trước tiên, phải hiểu, chỉ có tìm kiếm lẽ thật trong lời Đức Chúa Trời và hiểu nguyên tắc thì mới có thể làm bổn phận hiệu quả. Nếu thông công về lẽ thật để giải quyết vấn đề thì nên dùng phương thức nào? Cần những người nào tham gia? Nên chọn những người phù hợp; chủ yếu là tìm một số người có tố chất tốt và có thể hiểu lẽ thật để thông công, vì như vậy sẽ có hiệu quả. Đây là việc tất yếu. Nếu chọn những người hồ đồ, tố chất kém, thiếu lý trí, dù có thảo luận bao nhiêu cũng không hiểu hay với tới được lẽ thật, thì ngay cả khi thông công bao nhiêu lẽ thật với họ cũng không có kết quả gì. Bất kể hội thánh nảy sinh vấn đề gì, dân được Đức Chúa Trời chọn cũng phải có quyền được thông tin và nên biết tình hình công tác của hội thánh cũng như các vấn đề tồn tại. Nếu các lãnh đạo và người làm công dối trên lừa dưới, dùng cách bịt mắt người ta, thì dân được Đức Chúa Trời chọn có quyền vạch trần và tố giác họ, hoặc phản ánh lên trên. Đây cũng là bổn phận và nghĩa vụ của dân được Đức Chúa Trời chọn. Có những lãnh đạo giả làm việc độc đoán chuyên quyền, khống chế dân được Đức Chúa Trời chọn trong hội thánh. Đây là chống đối và đối kháng với Đức Chúa Trời, là cách làm nhất quán của kẻ địch lại Đấng Christ. Nếu dân được Đức Chúa Trời chọn không vạch trần và tố giác chuyện này, và công tác của hội thánh bị chậm trễ hoặc đình trệ, thì không chỉ các lãnh đạo và người làm công phải chịu trách nhiệm, mà cả dân được Đức Chúa Trời chọn cũng phải chịu trách nhiệm, bởi vì khi các lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ cầm quyền trong hội thánh, người chịu khổ chính là dân được Đức Chúa Trời chọn, họ có nguy cơ mất cơ hội được cứu rỗi. Cho nên, dân được Đức Chúa Trời chọn có quyền và trách nhiệm tố giác cũng như vạch trần lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ, đây là việc có lợi cho công tác của hội thánh và lối vào sự sống của dân được Đức Chúa Trời chọn. Có những lãnh đạo và người làm công nói: “Các anh chị em đều nói tôi độc đoán chuyên quyền, phải không? Lần này tôi sẽ không như vậy nữa. Tôi sẽ để cho mọi người nói lên ý kiến. Một ngày, hai ngày – các anh chị em chia sẻ bao lâu cũng được, tôi sẽ đợi”. Có lúc gặp phải vấn đề đặc biệt, bàn cãi nhiều ngày cũng không ra giải pháp, và họ cứ chờ đợi. Họ chờ đợi cho đến khi tất cả mọi người đều đạt đến sự đồng thuận, rồi mới tiếp tục tiến hành công tác, mà như vậy chẳng gây chậm trễ nhiều công tác sao? Như vậy là làm chậm trễ rất nhiều việc; đây rõ ràng là một biểu hiện vô trách nhiệm. Nếu không thể ra quyết định thì làm sao một lãnh đạo hoặc người làm công có thể làm tốt công tác của hội thánh được? Trong công tác của hội thánh, các lãnh đạo và người làm công có quyền ra quyết định, các anh chị em thì có quyền được thông tin. Nhưng cuối cùng, lãnh đạo và người làm công mới là người phải ra quyết định. Nếu một lãnh đạo hoặc người làm công không biết ra quyết định, thì họ có tố chất quá kém và không phù hợp làm lãnh đạo. Cho dù làm lãnh đạo, họ cũng không làm được công tác thực tế, không đạt đến làm bổn phận đạt tiêu chuẩn. Có những lãnh đạo và người làm công, vì một chuyện thôi mà tranh luận suốt thời gian dài vẫn không đưa ra được quyết định, và cuối cùng cứ thấy ai lợi hại thì nghe theo người đó. Cách làm này có nguyên tắc không? (Thưa, không.) Đó là dạng lãnh đạo gì? Đó chỉ là kẻ hồ đồ. Nếu ngươi nói: “Kẻ địch lại Đấng Christ độc đoán chuyên quyền, và tôi sợ trở thành kẻ địch lại Đấng Christ; tôi không muốn đi con đường địch lại Đấng Christ. Tôi sẽ đợi tất cả mọi người bày tỏ quan điểm rồi mới quy lại và tổng kết, tìm ra một biện pháp vừa phải để đưa ra kết luận” – thì như vậy có được không? (Thưa, không.) Tại sao không? Nếu kết quả không phù hợp với nguyên tắc lẽ thật, thì cho dù ngươi làm như vậy, liệu có thể hiệu quả được không? Nó có thể làm hài lòng Đức Chúa Trời không? Nếu nó không hiệu quả và không làm hài lòng Đức Chúa Trời, thì vấn đề này nghiêm trọng rồi. Không làm việc theo các nguyên tắc lẽ thật, làm bổn phận vô trách nhiệm, làm qua loa chiếu lệ, và làm việc theo triết lý của Sa-tan, thì chính là bất trung với Đức Chúa Trời, lừa dối Đức Chúa Trời! Để tránh bị nghi ngờ hoặc xét đoán là kẻ địch lại Đấng Christ, mà ngay cả trách nhiệm phải thực hiện, ngươi cũng không làm, lại sử dụng cách tiếp cận “thỏa hiệp” theo triết lý của Sa-tan. Kết quả là ngươi làm hại dân được Đức Chúa Trời chọn và gây ảnh hưởng đến công tác của hội thánh. Chẳng phải đây là vô nguyên tắc sao? Chẳng phải như vậy là ích kỷ và đê tiện sao? Là lãnh đạo hoặc người làm công, ngươi nói năng hành động phải có nguyên tắc, làm bổn phận phải có hiệu quả và hiệu suất. Cách nào có lợi cho công tác của nhà Đức Chúa Trời và phù hợp với các nguyên tắc lẽ thật thì nên làm theo cách đó. Chẳng hạn như mua đồ cho hội thánh phải tính đến hiệu quả thực tế. Món đồ nên có giá cả hợp lý và thực dụng. Nếu ngươi tiêu xài bậy bạ, vô nguyên tắc, thì có thể gây tổn thất cho lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và của lễ của Đức Chúa Trời. Gặp chuyện như vậy thì các ngươi sẽ xử lý thế nào? (Thưa, tìm kiếm sự hướng dẫn từ Bề trên.) Tìm kiếm sự hướng dẫn từ Bề trên là một cách. Ngoài ra, đừng lười biếng. Hãy nghiên cứu kỹ lưỡng, tìm hiểu sâu rộng, hỏi thêm xung quanh, hiểu chi tiết và chuẩn bị đầy đủ; khi đó có lẽ sẽ có thể tìm được một phương án giải quyết tương đối thích hợp. Nếu không làm công tác chuẩn bị cơ bản này, không hiểu chi tiết mà tùy tiện làm, cuối cùng lãng phí rất nhiều tiền, thì gọi là gì? Đó gọi là qua loa chiếu lệ. Có những người làm bổn phận kiểu này, họ hành động thiếu minh bạch. Họ chỉ báo cáo một nửa, giấu một nửa, bởi vì họ cảm thấy nếu họ nói cho rõ ràng đầu đuôi thì sẽ tự chuốc rắc rối vào thân, sẽ bị yêu cầu nghiên cứu và hoàn thiện thêm. Vì thế, họ đơn giản là giấu người khác tình hình thực tế và thông tin chi tiết, mau mau làm cho xong việc, rồi xin nhà Đức Chúa Trời thanh toán. Nhưng khi kiểm tra thì kết quả không đạt tiêu chuẩn và cần phải làm lại, lại tốn không ít tiền. Như thế chẳng phải làm hại nhà Đức Chúa Trời sao? Chẳng phải đây là hành vi của Giu-đa sao? (Thưa, phải.) Hành vi của Giu-đa chính là chuyên bán đứng lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Khi đối mặt với tình huống, dạng người này đứng về phía người ngoài, không mảy may nghĩ gì đến lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, mà chỉ quan tâm đến xác thịt bản thân. Họ có bất kỳ lòng trung thành nào với Đức Chúa Trời không? (Thưa, không.) Không hề có một chút lòng thành nào. Họ lấy việc phản bội lợi ích của nhà Đức Chúa Trời và làm tổn hại công tác của hội thánh làm vui – đây chính là hành vi của Giu-đa. Ngoài ra còn một loại tình huống: có những bổn phận liên quan đến tri thức nghiệp vụ hoặc chuyên môn trong những lĩnh vực khác mà có thể mọi người đều lạ lẫm. Trong những trường hợp đó, ngươi không được ngại phiền phức. Trong thời đại thông tin phong phú này, ngươi không nên lười biếng, mà phải tích cực tìm kiếm dữ liệu và thông tin liên quan. Bắt đầu bằng cách có được những thông tin cơ bản nhất, ngươi sẽ dần có được hiểu biết cơ bản về nghiệp vụ hoặc lĩnh vực đó, rồi từng bước tìm hiểu về các khía cạnh khác trong phạm vi lĩnh vực đó, dù là dữ liệu hay các thuật ngữ chuyên môn khác nhau, thế là ngươi cơ bản quen thuộc với nó rồi. Sau khi đạt đến trình độ này, chẳng phải nó sẽ ích lợi hơn cho việc ngươi làm bổn phận đạt tiêu chuẩn và trung thành sao? (Thưa, phải.) Vậy thì khi làm bổn phận, mục đích của hết thảy những công tác chuẩn bị này là gì? Tra tư liệu, hiểu chi tiết, sau đó tìm ra giải pháp khả thi thông qua thông công và thảo luận, mọi việc này đều nằm trong công tác chuẩn bị để làm bổn phận đạt tiêu chuẩn. Làm tốt những công tác chuẩn bị này thể hiện lòng trung thành trong việc làm bổn phận; đồng thời cũng tỏ lộ những ai qua loa chiếu lệ. Còn thái độ khi làm bổn phận của người không tin và người không thật lòng dâng mình cho Đức Chúa Trời thì thế nào? Họ hoàn toàn qua loa chiếu lệ; dù mua gì cho hội thánh cũng xài tiền bậy bạ theo ý mình, không hề tìm kiếm hướng dẫn từ Bề trên, nghĩ rằng cái gì mình cũng hiểu. Kết quả là họ làm lãng phí tiền bạc của nhà Đức Chúa Trời. Chẳng phải họ là thứ phá gia chi tử, điềm báo tai họa sao? Họ gây thiệt hại cho của lễ của Đức Chúa Trời, mà thậm chí còn không cảm thấy mình đang hành ác và chống đối Đức Chúa Trời; lòng họ không mảy may hối hận chút nào. Chỉ đến khi bị dân được Đức Chúa Trời chọn vạch trần và phân định, bị biểu quyết thanh trừ và khai trừ, họ mới có chút ý thức và bắt đầu hối hận. Họ không nhận ra hành động của mình lại có những hậu quả nghiêm trọng như vậy – thật sự là chưa thấy quan tài chưa đổ lệ! Dạng người này đa phần là kẻ ngu, đầu óc thiếu muối, nhưng lại muốn làm lãnh đạo và người làm công, làm việc cho nhà Đức Chúa Trời. Họ giống như heo tô son – cực kỳ vô liêm sỉ. Những người này là kẻ chẳng tin; dù có tin bao nhiêu năm cũng không hiểu được lẽ thật nhưng luôn muốn làm lãnh đạo và người làm công trong nhà Đức Chúa Trời, luôn muốn cầm quyền và có quyền quyết định – chẳng phải họ mặt dày vô sỉ sao? Tại sao lại coi dạng người này là kẻ chẳng tin? Đó là bởi vì dù đã tin Đức Chúa Trời trong nhiều năm và nghe nhiều bài giảng như vậy mà họ vẫn không hiểu được lẽ thật và không thể đưa bất kỳ lẽ thật nào vào thực hành, vì thế họ là kẻ chẳng tin. Trong các ngươi có ai bộc lộ những hành vi này không? Ai có giơ tay. Tất cả à? Vậy thì các ngươi đều là kẻ chẳng tin, và đó là một vấn đề nghiêm trọng. Những người thật lòng tin Đức Chúa Trời mà nghe giảng lâu dài thì sẽ hiểu được một vài lẽ thật và có một vài tiến bộ, trở nên đáng tin cậy hơn trong lời nói việc làm. Nếu ai nghe giảng trong nhiều năm mà không có chút tiến bộ nào thì chính là kẻ hồ đồ, là súc sinh, là kẻ chẳng tin. Có những người tin Đức Chúa Trời được ba đến năm năm thì đã hiểu được khá nhiều, biết tìm kiếm lẽ thật khi nói năng và hành động. Nếu thấy được khi làm bổn phận, họ đã có sai sót hoặc đã gây ra thiệt hại nào đó cho nhà Đức Chúa Trời, thì họ cảm thấy rất đau lòng, tự trách mình, tự hận mình; họ cảm thấy vì họ nhất thời sai lầm, nhất thời thiếu trung thành, lười biếng hoặc tham hưởng an nhàn xác thịt mà đã dẫn đến những sai sót lớn như thế, gây ra thiệt hại lớn như thế, và vì thế họ tự hận mình. Dạng người có lòng hối hận này còn có chút nhân tính và có thể đạt đến được cứu rỗi. Nếu ai m nghe giảng đạo nhiều năm mà vẫn không hiểu được bất kỳ lẽ thật nào, làm chút bổn phận cũng luôn mắc sai lầm, luôn gây rắc rối cho nhà Đức Chúa Trời và gây thiệt hại cho công tác của hội thánh, thậm chí còn không có lòng hối hận, thì dạng người này không có chút nhân tính nào, còn tệ hơn heo chó. Họ còn có thể làm tốt bổn phận được không? Dù họ có làm bổn phận thì cũng qua loa chiếu lệ và sẽ không được Đức Chúa Trời khen ngợi.

Có những người, khi nói chuyện, luôn nói nhà Đức Chúa Trời là “nhà ta”, khi trò chuyện liên tục nhắc đến “nhà ta”. Họ nói từ đó mới ngọt làm sao! “Nhà ta” mà họ nói đến này là gì? Chỉ có nhà Đức Chúa Trời, gia đình Đức Chúa Trời, hội thánh thôi. Luôn nói “nhà ta” có thích hợp không? Ta nghe cảm giác không thích hợp. Từ “nhà ta” có thể được sử dụng, nhưng nó chỉ phù hợp nếu nói đúng với thực tế. Nếu ngươi không phải là người mưu cầu lẽ thật, nếu ngươi thường xuyên làm bổn phận qua loa chiếu lệ, không hề bảo vệ công tác của hội thánh, căn bản không xem công tác của hội thánh ra gì, mà cứ luôn nói “nhà ta”, thì không thích hợp. Nó có chút giả dối và giả vờ, khiến người ta thấy phản cảm, chán ghét. Nhưng nếu ngươi là người thực sự có thực tế lẽ thật và bảo công tác của hội thánh, thì nói nhà Đức Chúa Trời là “nhà ta” còn có thể chấp nhận được. Người khác nghe cảm giác chân thực, không giả dối, và họ sẽ xem ngươi là một anh chị em, yêu quý và ngưỡng mộ ngươi. Nếu trong lòng ngươi không yêu thích lẽ thật, cũng không tiếp nhận lẽ thật, và làm bổn phận vô trách nhiệm, thì đừng nói nhà Đức Chúa Trời là “nhà ta”. Ngươi nên sốt sắng mưu cầu lẽ thật, làm tốt bổn phận của mình và có thể bảo vệ công tác của hội thánh, để dân được Đức Chúa Trời chọn cảm thấy ngươi là người của nhà Đức Chúa Trời. Như vậy, khi ngươi nói “nhà ta”, người nghe liền cảm giác thân thiết, không có chút phản cảm nào. Bởi vì trong lòng, ngươi thực sự xem nhà Đức Chúa Trời như nhà của chính mình, và khi làm bổn phận, ngươi thực sự có trách nhiệm và bảo vệ công tác của hội thánh, nên khi ngươi nói “nhà ta” thì nghe đúng với thực tế, không có một chút giả mạo nào. Nếu không thể hiện trách nhiệm với công tác của hội thánh, làm bổn phận nào cũng qua loa chiếu lệ, thậm chí thấy đồ rơi dưới đất cũng không nhặt lên, phòng ốc dơ bẩn cũng không dọn, mùa đông tuyết phủ cũng không cào tuyết, dọn sân, trông chẳng giống người nhà Đức Chúa Trời, mà như người ngoài, thì dạng người này có đủ tư cách gọi nhà Đức Chúa Trời là “nhà ta” không? Họ chỉ đơn thuần là người phục vụ, người làm tạm thời, người không có sự sống và thuộc về Sa-tan, chứ không hề thuộc về nhà Đức Chúa Trời. Thế mà họ còn thường xuyên trơ trẽn nói nhà Đức Chúa Trời là “nhà ta”, hễ mở miệng là nói “nhà ta” rất thân thiết, gọi anh chị em cũng rất thân thiết – nhưng lại không làm việc thực tế nào. Hễ làm việc là họ phạm sai lầm, làm hại nhà Đức Chúa Trời. Chẳng phải họ chỉ là kẻ giả hình sao? Dạng người này hoàn toàn vô đạo đức, không có bất kỳ lương tâm hay lý trí nào. Là người tin Đức Chúa Trời, những điều cơ bản nhất mà người ta nên có là lương tâm, lý trí, và có thể tiếp nhận lẽ thật. Nếu ngay cả lương tâm và lý trí còn không có, cũng không tiếp nhận lẽ thật chút nào, thì có còn xứng đáng gọi nhà Đức Chúa Trời là “nhà ta” không? Họ chỉ là người làm tạm thời, là người phục vụ; họ thuộc về Sa-tan và không liên quan gì đến nhà Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời hoàn toàn không thừa nhận dạng người này; trong mắt Ngài, họ là kẻ ác. Nhiều người tin Đức Chúa Trời nhưng lại không hề mưu cầu lẽ thật, thờ ơ với công chuyện của nhà Đức Chúa Trời. Họ có phát hiện ra vấn đề nào thì cũng mặc kệ, bỏ bê trách nhiệm, tránh xa các anh chị em gặp khó khăn, cũng không căm ghét những kẻ làm chuyện xấu gây tổn hại đến lợi ích của nhà Đức Chúa Trời hoặc phá hoại công tác của hội thánh. Họ không có nhận thức trong những chuyện đúng sai rành rành; dù chuyện gì xảy ra trong nhà Đức Chúa Trời cũng không liên quan gì đến họ. Họ có xem nhà Đức Chúa Trời như nhà của chính mình không? Rõ ràng là không. Những người này không có tư cách gọi nhà Đức Chúa Trời là “nhà ta”; ai gọi như vậy chỉ là kẻ giả hình. Người nào có tư cách để nói “nhà ta”? Gần đây Ta để ý thấy một số người quả thực không tệ, mặc dù đương nhiên họ chỉ là thiểu số. Tạm thời chưa nói đến chuyện họ hiểu được bao nhiêu lẽ thật, hay có vóc giạc hoặc đức tin lớn đến đâu, nhưng những người này đích thực là người thật lòng tin Đức Chúa Trời, có thể làm được chút việc thật, làm bổn phận nào cũng thực sự có trách nhiệm – họ còn có chút hình tượng con người. Chỉ những người như vậy mới có thể thực sự được coi là người của nhà Đức Chúa Trời. Khi họ nói “nhà ta”, thì người nghe cảm giác ấm áp và xác thực. Chẳng hạn như hội thánh cần một chiếc bàn, nếu mua thì có giá tầm sáu, bảy trăm đô la. Có những anh chị em nói: “Giá đấy đắt quá. Chúng ta có thể tiết kiệm nhiều tiền bằng cách mua gỗ về tự đóng. Dùng cũng tốt như thế, không khác gì cả”. Nghe vậy, trong lòng Ta cảm thấy thế nào? Ta có chút cảm động: “Những người này không tệ; họ biết tiết kiệm tiền cho nhà Đức Chúa Trời”. Những người như thế tốt hơn nhiều so với những người phung phí của lễ, ít nhất họ cũng có chút lương tâm và lý trí, có chút tính người. Có những người gây thiệt hại hàng trăm, hàng ngàn đô la cho nhà Đức Chúa Trời mà không hề ý thức được, thậm chí còn nói chuyện đó không liên quan đến họ, không cảm thấy chút trách cứ nào trong lòng. Mặt khác, lại có những người nói rằng: “Dù tiết kiệm được mười hay tám đô cũng quý. Chúng ta không nên tiêu tiền không cần thiết vào những cái mình có thể tự giải quyết. Chỗ nào tiết kiệm được thì nên tiết kiệm. Không cần thiết tiêu thì không cần tiêu. Chúng ta chịu khổ cực, vất vả một chút cũng là việc nên làm”. Chỉ những người có thể nói những lời như thế mới là người có lương tâm và lý trí, có nhân tính bình thường, và thực sự một lòng với nhà Đức Chúa Trời. Những người này có thể đường đường chính chính gọi nhà Đức Chúa Trời là “nhà ta” bởi vì họ có thể nghĩ cho lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Có những người không mảy may suy xét cho lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Có phải họ không biết suy xét không? Với cuộc sống của chính họ, thì họ cực kỳ tằn tiện, chắt bóp từng xu một, luôn muốn mua những đồ rẻ nhất và thực dụng nhất, tiết kiệm hết mức có thể, thậm chí kỳ kèo trả giá, tính toán từng ly từng tý, rõ ràng rất giỏi quản lý cuộc sống. Nhưng khi làm việc cho nhà Đức Chúa Trời, họ lại không như vậy. Khi sử dụng tiền của nhà Đức Chúa Trời, họ vung tay quá trán, tiêu xài tùy thích, như thể không tiêu thì phí. Đây chẳng phải là nhân phẩm quá tệ sao? Dạng người này cực kỳ ích kỷ, không mảy may nghĩ cho nhà Đức Chúa Trời, chỉ cần thỏa mãn bản thân là đủ. Họ còn muốn trả cái giá thấp nhất mà lẻn vào thiên quốc và có được phúc lành lớn lao. Dạng người ích kỷ và đê tiện này mà còn có dã tâm và dục vọng to lớn như thế, như vậy thì phẩm chất nhân tính của họ quá kém rồi!

Chúng ta đã thông công khá đầy đủ về biểu hiện này làm việc quỷ dị và độc đoán chuyên quyền của kẻ địch lại Đấng Christ, phải không? (Thưa, phải.) Vậy hãy cùng tổng kết. Kẻ địch lại Đấng Christ làm việc quỷ dị, và độc đoán chuyên quyền, đây là hai biểu hiện khác nhau mà kẻ địch lại Đấng Christ đều có, hai dạng hành vi và biểu hiện này ngang hàng và đồng bộ với nhau. Điều này phơi bày hai tâm tính chính của kẻ địch lại Đấng Christ – tà ác và hung ác; họ vừa tà vừa hung. Có lúc ngươi có thể không thấy mặt ác của họ, nhưng có thể thấy mặt tà của họ. Cũng có thể họ làm việc rất nhẹ nhàng, khiến mọi người khó mà thấy được bất kỳ hành vi mang tính ép buộc hay dã man nào của họ. Bề ngoài họ trông không hung dữ, cũng không ép buộc ngươi làm gì cả, nhưng họ gài bẫy ngươi thông qua một dạng phương thức rất tà ác khác, lùa người vào vòng khống chế của họ, khiến ngươi phục vụ cho mục đích của họ – và thế là bị họ lợi dụng. Tự lúc nào không hay, ngươi rơi vào bẫy của họ, cam lòng theo sự thao túng và đùa giỡn của họ. Tại sao họ lại có thể gây ra những hậu quả như thế? Kẻ địch lại Đấng Christ thường sử dụng một vài phát ngôn và câu nói đúng đắn để dạy bảo ngươi, giáo hóa ngươi, xui khiến ngươi làm một số chuyện, khiến ngươi cảm thấy rằng mọi điều họ nói đều đúng và ngươi nên chấp hành, nên làm theo cách đó, nếu không ngươi sẽ cảm thấy như mình đi ngược lại lẽ thật, cảm thấy việc bất tuân họ đồng nghĩa với phản nghịch Đức Chúa Trời. Khi làm vậy, ngươi cam lòng nghe lời họ. Kết quả cuối cùng của việc này là gì? Cho dù làm theo lời họ và thực hành những gì họ nói, nhưng người ta có hiểu được lẽ thật không? Mối quan hệ của người ta với Đức Chúa Trời ngày càng gần gũi hay ngày càng xa cách? Khi gặp chuyện, người ta không những không đến trước Đức Chúa Trời và cầu nguyện với Ngài, mà còn không biết cách tìm kiếm nguyên tắc lẽ thật trong lời Đức Chúa Trời, cũng không biết cách nắm bắt tâm ý và yêu cầu của Đức Chúa Trời. Thay vào đó, họ lại nói ra một câu không thể tin nổi rằng: “Tôi đã tin Đức Chúa Trời rất nhiều năm rồi, chủ yếu dựa vào lãnh đạo để được nâng đỡ, cung ứng. Dù chuyện gì xảy đến cũng chỉ cần lãnh đạo thông công là luôn có con đường để đi. Không có lãnh đạo thì không được”. Họ đã tin Đức Chúa Trời trong nhiều năm mà vóc giạc của họ chỉ ngần đó, xa rời lãnh đạo là không ổn. Như vậy chẳng phải rất đáng thương sao? Ngụ ý ở đây là gì? Ngụ ý là họ không biết cầu nguyện với Đức Chúa Trời, nương cậy nơi Đức Chúa Trời, ngưỡng vọng Đức Chúa Trời, hoặc ăn uống lời Đức Chúa Trời. Hết thảy những việc này đều phải có sự hỗ trợ của lãnh đạo thì họ mới hiểu; lãnh đạo có thể thay thế Đức Chúa Trời mà họ tin. Có thể nói rằng đức tin nơi Đức Chúa Trời của dạng người này thực ra là đức tin nơi lãnh đạo của họ. Lãnh đạo nói gì họ cũng nghe, nói gì họ cũng tin. Họ đang thực sự tin, đi theo và nghe lời ai – Đức Chúa Trời hay lãnh đạo? Như vậy chẳng phải giống hệt những người trong tôn giáo tin Chúa trên danh nghĩa, nhưng thực tế lại tin mục sư, đi theo mục sư và tin tưởng mục sư của mình sao? Đây chẳng phải là bị con người khống chế sao? Ngươi sùng bái lãnh đạo, nghe theo họ trong mọi sự. Đây là tin và đi theo con người, bị con người kìm kẹp và khống chế. Đức Chúa Trời đã phán rất rõ ràng, vậy mà ngươi nghe không hiểu, cũng không biết cách thực hành như thế nào, nhưng ma quỷ và Sa-tan nói vài lời thôi là ngươi hiểu liền sao? Thực ra ngươi hiểu cái gì? Đôi khi ngươi hiểu một quy định hoặc đạo lý – như vậy có tính là hiểu lẽ thật không? (Thưa, không.) Đó không phải là hiểu lẽ thật, mà là bị mê hoặc. Chuyện là như vậy.

Trong biểu hiện của việc kẻ địch lại Đấng Christ làm việc quỷ dị và độc đoán chuyên quyền, những tâm tính chính của họ là tà ác và hung ác. Sự tà ác của họ biểu hiện ở đâu? Ở chỗ họ làm việc quỷ dị. Còn sự hung ác của họ biểu hiện ở đâu? (Thưa, ở sự độc đoán chuyên quyền.) Nó chủ yếu biểu hiện ở sự độc đoán chuyên quyền và ép buộc người khác thuận phục mình; sự ép buộc của họ có chứa tâm tính hung ác. Đức Chúa Trời yêu cầu con người thuận phục Ngài và lẽ thật. Cách làm việc của Đức Chúa Trời là gì? Sau khi Đức Chúa Trời bày tỏ lời Ngài, Ngài cho con người biết điều quan trọng nhất khi tin Đức Chúa Trời là họ nên thuận phục lẽ thật và lời Đức Chúa Trời. Ngươi biết lẽ thật này, biết rằng câu này đúng, nhưng về việc ngươi có thuận phục hay không, và thuận phục như thế nào, thì thái độ của Đức Chúa Trời là gì? Ngươi có ý chí tự do, có quyền lựa chọn. Nếu muốn thuận phục thì ngươi thuận phục; nếu không muốn thuận phục thì ngươi không phải thuận phục. Tuy nhiên, việc không thuận phục có thể dẫn đến hậu quả gì? Đức Chúa Trời dò xét điều gì ở con người, và Ngài kết luận gì về họ? Trong những chuyện này, Đức Chúa Trời không làm gì thêm cả. Ngài không vì thế mà cảnh cáo, đe dọa hay ép buộc ngươi, khiến ngươi phải trả giá hay trừng phạt ngươi. Đức Chúa Trời không làm như vậy. Trong thời gian Đức Chúa Trời cứu rỗi con người, khi Ngài đang bày tỏ lời để cung ứng cho con người, Đức Chúa Trời cho phép con người phạm sai lầm, đi sai đường, cũng như cho phép con người phản nghịch Ngài và làm chuyện ngu muội. Nhưng thông qua lời Ngài và một số phương pháp làm việc của Ngài, Đức Chúa Trời dần dần cho phép con người hiểu được yêu cầu của Ngài là gì, lẽ thật là gì, điều gì đúng và điều gì sai – chẳng hạn như thông qua việc tỉa sửa, sửa phạt, sửa dạy, và khích lệ. Có lúc Ngài ban cho ngươi chút ân điển, cảm động ngươi bên trong, hoặc cho ngươi chút soi sáng và khai sáng, để ngươi biết điều gì đúng, điều gì sai, yêu cầu của Đức Chúa Trời rốt cuộc là gì, con người nên đứng ở vị trí nào, và người ta nên thực hành điều gì. Trong khi làm cho ngươi hiểu, Ngài cũng cho ngươi lựa chọn. Nếu ngươi nói: “Con phản nghịch, con tùy ý, con không muốn lựa chọn điều đúng đắn, con không muốn trung thành, con chỉ muốn làm như vậy!”, thì cuối cùng ngươi chịu trách nhiệm về đích đến và kết cục của chính mình. Ngươi phải chịu trách nhiệm về hành động của mình và trả giá; về mặt này, Đức Chúa Trời không làm gì cả. Đức Chúa Trời công bằng và công chính. Nếu ngươi làm theo yêu cầu của Ngài và là người thuận phục Đức Chúa Trời, thì đích đến của ngươi ở đâu, nếu ngươi không làm theo yêu cầu của Đức Chúa Trời và không phải là người thuận phục Đức Chúa Trời, thì đích đến của ngươi ở đâu; trong cả hai trường hợp, Đức Chúa Trời đã định sẵn từ lâu rồi. Đức Chúa Trời không cần làm gì thêm cả. Không phải giống như nếu hôm nay ngươi không làm theo yêu cầu của Đức Chúa Trời, thì Ngài sẽ sửa dạy, sửa phạt hoặc trừng phạt ngươi, giáng tai họa xuống ngươi – Đức Chúa Trời không làm việc như vậy. Với Đức Chúa Trời, Ngài yêu cầu con người thuận phục chỉ đơn giản để họ hiểu được lẽ thật về sự thuận phục; không có yếu tố “ép buộc”. Đức Chúa Trời không ép buộc con người thuận phục hay thực hành khía cạnh lẽ thật này. Vì thế, đối với Đức Chúa Trời, dù là Ngài sắp đặt con người, tể trị vận mệnh của họ, dẫn dắt họ hay cung ứng lẽ thật cho họ, thì tiền đề của những việc làm này đều không dựa trên sự ép buộc, cũng không phải là bắt buộc. Nếu làm theo lời Đức Chúa Trời, ngươi sẽ ngày càng hiểu được lẽ thật, và tình trạng của ngươi trước Đức Chúa Trời sẽ tiếp tục cải thiện – ngươi sẽ duy trì được một tình trạng tốt, và Đức Chúa Trời cũng sẽ khai sáng cho ngươi trong những khía cạnh của cuộc sống thường ngày mà ngươi không hiểu. Nhưng nếu ngươi không thực hành lẽ thật, không thuận phục Đức Chúa Trời và không sẵn lòng mưu cầu lẽ thật, thì những gì người đạt được sẽ rất hạn chế. Đây là sự khác biệt hoàn toàn giữa hai chuyện này. Đức Chúa Trời không thiên vị; Ngài công bằng với tất cả mọi người. Có những người nói: “Nếu Đức Chúa Trời không ép buộc tôi, chẳng phải tôi sẽ không thực hành sao?”. Đức Chúa Trời không ép buộc con người; đó là việc Sa-tan làm. Đức Chúa Trời không làm theo cách đó. Nếu ngươi chỉ có thể thuận phục Đức Chúa Trời khi bị ép buộc, thì ngươi là thứ gì? Ngươi có đang thực sự thuận phục Đức Chúa Trời không? Đó không phải là kiểu thuận phục mà Đức Chúa Trời mong muốn. Sự thuận phục mà Đức Chúa Trời nói đến chính là con người lấy nền tảng là hiểu lẽ thật mà dựa vào lương tâm, lý trí để cam lòng thực hành lời Đức Chúa Trời. Đây là ý nghĩa vốn có của thuận phục. Nó không bao hàm sự ép buộc, quản chế, đe dọa hoặc bất kỳ hình thức trói buộc hay khống chế nào. Cho nên, khi ngươi cảm thấy bị trói buộc hoặc kìm kẹp vô cùng trong một sự việc, thì chắc chắn đó không phải là công tác của Đức Chúa Trời. Một mặt, nó có thể bắt nguồn từ tư tưởng của con người, cũng có thể là do ngươi lĩnh hội sai lệch, tự mình kìm kẹp mình. Mặt khác, có thể là ai khác đang cố kìm kẹp ngươi, dùng quy định, dùng một dạng câu nói hay lý luận đúng nào đó để kìm kẹp ngươi, khiến ngươi hình thành một số thứ sai lệch trong tư tưởng. Như vậy là nhận thức của ngươi có vấn đề. Nếu ngươi cảm thấy mình cam lòng và vui vẻ thuận phục, thì điều này đến từ công tác của Đức Thánh Linh, cũng như từ nhân tính đích thực, từ lương tâm và lý trí.

Trong nhà Đức Chúa Trời, có những người không thuận phục lẽ thật, không thuận phục sự sắp xếp công tác của nhà Đức Chúa Trời và không thuận phục sự sắp xếp của hội thánh. Nhà Đức Chúa Trời xử lý chuyện này như thế nào? Có sử dụng bất kỳ biện pháp cưỡng chế chấp hành nào không? Chẳng hạn như nếu một lãnh đạo không làm công tác thực tế, không làm việc theo sự sắp xếp công tác, cũng không thực hành lẽ thật, hoặc không làm được công tác thực tế, thì nhà Đức Chúa Trời xử lý như thế nào? (Thưa, cách chức họ.) Cách chức họ ngay, nhưng họ có bị khai trừ không? (Thưa, không.) Ai không hành ác thì không bị khai trừ. Đối với các anh chị em bình thường, nếu sắp xếp họ làm một bổn phận nào đó mà họ từ chối, thì có tính là không thuận phục không? Nếu họ không làm thì có thể tìm người khác; có ai bị ép buộc làm bổn phận không? (Thưa, không.) Không có sự ép buộc. Nếu thông công về lẽ thật cho họ mà họ sẵn lòng tiếp nhận và thuận phục thì tốt. Đây không coi là ép buộc, mà là sắp xếp cho họ làm bổn phận này trong trường hợp cá nhân họ đồng ý và sẵn lòng. Chẳng hạn như, có những người thích nấu ăn, nhưng lại được sắp xếp quét dọn vệ sinh, và họ nói: “Bảo tôi quét dọn vệ sinh, thì tôi sẽ quét dọn vệ sinh. Tôi thuận phục sự sắp xếp của nhà Đức Chúa Trời”. Ở đây có ép buộc gì không? Có làm khó người ta không? (Thưa, không.) Việc này được sắp xếp với sự sẵn lòng và thuận phục của họ, chứ không làm khó, cũng không ép buộc chấp hành. Cũng có thể có những trường hợp mà đối với một bổn phận nào đó, tạm thời chưa tìm được ai, và ngươi được sắp xếp tạm thời lấp chỗ trống; cá nhân ngươi có thể không sẵn lòng, nhưng đây là nhu cầu công tác, nó là trường hợp đặc biệt. Ngươi là người nhà Đức Chúa Trời, ăn cơm nhà Đức Chúa Trời và làm bổn phận của mình ở nhà Đức Chúa Trời – vì ngươi thừa nhận mình là người tin và đi theo Đức Chúa Trời, vậy chút chuyện nhỏ này mà ngươi còn không thể chống lại xác thịt của mình được sao? Thậm chí chuyện này còn chưa đến mức được xem là thuận phục hay chịu khổ; nó chỉ là chuyện tạm thời, đâu phải bảo ngươi làm bổn phận này lâu dài. Có những người nói mình bị bắt làm những việc dơ dáy và mệt mỏi, họ không sẵn lòng làm. Nếu họ nêu ra thì sẽ được phân công lại ngay thôi. Nhưng nếu họ chỉ nói ngoài miệng như vậy, nhưng thực ra trong lòng vẫn sẵn lòng thuận phục và sẵn lòng chịu khổ, thì nên để họ tiếp tục làm bổn phận đó. Làm như vậy có thích hợp không? (Thưa, có.) Nguyên tắc này có đúng không? (Thưa, đúng.) Nhà Đức Chúa Trời tuyệt đối không làm khó mọi người. Còn có tình huống mà một số người, bất kể làm bổn phận nào cũng lười biếng, vô trách nhiệm và không trung thành, thậm chí đôi khi còn lén làm chuyện xấu. Khi không làm tốt bổn phận thì họ viện cớ, nói bổn phận này không hợp với họ, không phải là điểm mạnh của họ, hoặc họ không hiểu nghiệp vụ liên quan. Nhưng thực ra, mọi người đều thấy rõ họ không làm tốt bổn phận đâu phải vì những lý do này. Nên xử lý dạng người này thế nào? Nếu họ xin làm bổn phận ở nơi khác thì có nên đồng ý không? (Thưa, không.) Vậy nên làm gì? Dạng người này không phù hợp để làm bổn phận; họ làm miễn cưỡng và không có thái độ đúng đắn, vì vậy nên đuổi đi. Còn một dạng người khác, hễ bảo làm bổn phận là bắt đầu khó khăn, chống đối. Họ hoàn toàn không sẵn lòng, đầy miễn cưỡng, bấm bụng nuốt giận, cho rằng: “Mình cứ nằm im ở đây, chịu đựng vài năm, sau đó cuối cùng đi đâu cũng không biết được!”. Người có những ý định như thế thì không nên cho làm bổn phận, dù họ có muốn làm những bổn phận khác cũng không được. Những trường hợp như thế phải xử lý mạnh. Tại sao vậy? Bởi vì đã nhìn thấu được thực chất của họ – những người hiểu họ đều nói rằng họ là kẻ chẳng tin; những người xung quanh họ cũng nói rằng họ không hợp để làm bổn phận. Dạng người này là người ngoại đạo và phải thanh lọc. Nếu không, họ chỉ có thể gây nhiễu loạn, làm chuyện xấu và làm hại dân được chọn của Đức Chúa Trời trong hội thánh, mà chuyện đó tuyệt đối không chấp nhận được. Trong những trường hợp như thế, nên xử lý theo các nguyên tắc đối với người làm bổn phận trong hội thánh; họ không sẵn lòng cũng không được. Đây có phải là ép buộc không? Đây không phải là ép buộc, mà là làm theo nguyên tắc, bảo vệ lợi ích và công tác của nhà Đức Chúa Trời. Đó là việc thanh lọc những kẻ chẳng tin và những kẻ ăn bám trong nhà Đức Chúa Trời. Nếu ngươi muốn ăn bám thì đi chỗ khác, chứ không phải ở đây. Nhà Đức Chúa Trời không phải là viện dưỡng lão, không nuôi kẻ nhàn rỗi. Hiểu chưa?

Có những kẻ địch lại Đấng Christ thâm tàng bất lộ, trông thấy chuyện gì cũng chỉ mỉm cười không nói, giữ im lặng về nhiều chuyện, giả vờ thâm trầm, không tỏ thái độ nào. Khi mới tiếp xúc, ngươi không dễ nhìn thấu được họ; thậm chí còn nghĩ họ có trọng lượng và không đơn giản. Làm sao để phân định dạng kẻ địch lại Đấng Christ này? Ngươi phải chú ý quan sát kỹ xem rốt cuộc họ thích điều gì, họ chú trọng điều gì, họ hứng thú với điều gì và họ tiếp xúc với ai. Bằng cách quan sát những khía cạnh này, ngươi có thể hiểu được họ. Ngoài ra, có một điều mà tất cả các ngươi phải chú ý: Bất kể cấp bậc của người lãnh đạo hay người làm công, nếu các ngươi vì họ hiểu được một chút lẽ thật và có một vài ân tứ mà sùng bái họ, cho rằng họ có thực tế lẽ thật và có thể giúp các ngươi, rồi chuyện gì các ngươi cũng ngưỡng vọng họ, dựa vào họ, còn muốn nhờ vậy mà đạt được sự cứu rỗi, thì đây chính là ngu muội và vô tri. Cuối cùng, tất cả sẽ chẳng đi đến đâu, bởi vì xuất phát điểm của các ngươi vốn dĩ đã sai. Bất kể ai hiểu được bao nhiêu lẽ thật đi chăng nữa thì cũng không thể thay thế được Đấng Christ, bất kể ai có nhiều ân tứ đến đâu cũng không có nghĩa là họ có lẽ thật – vì vậy những ai sùng bái, ngưỡng vọng và đi theo con người cuối cùng đều sẽ bị đào thải và định tội. Người tin Đức Chúa Trời chỉ có thể ngưỡng vọng và đi theo Đức Chúa Trời. Các lãnh đạo và người làm công, bất kỳ ở cấp bậc nào, thì vẫn là người thường. Nếu ngươi xem họ như cấp trên trực tiếp của mình, nếu ngươi cảm thấy rằng họ cao hơn ngươi, có bản lĩnh hơn ngươi, nên dẫn dắt ngươi, nên vượt trội hơn hết thảy mọi người khác về mọi mặt, thì ngươi lầm rồi – đó là sự ảo tưởng. Và những hậu quả nào mà sự ảo tưởng này sẽ gây ra cho ngươi? Một mặt sẽ khiến ngươi vô thức đánh giá các lãnh đạo của mình theo những yêu cầu không phù hợp với thực tế, không tiếp cận đúng đắn những vấn đề và khiếm khuyết của họ; mặt khác, ngươi sẽ vô thức bị thu hút sâu sắc bởi khí chất, ân tứ và tài năng của họ, cuối cùng ngươi sùng bái họ từ lúc nào không hay, và họ đã thành đức chúa trời của ngươi. Từ lúc họ bắt đầu trở thành hình mẫu của ngươi, đối tượng sùng bái của ngươi, cho đến lúc trở thành đối tượng để ngươi đi theo, con đường này sẽ dẫn dắt ngươi đi xa khỏi Đức Chúa Trời từ lúc nào không hay. Trong khi dần rời xa Đức Chúa Trời, ngươi vẫn tin rằng ngươi đang đi theo Đức Chúa Trời, đang ở trong nhà Ngài, đang ở trước mặt Ngài, trong khi thực ra, ngươi đã bị tay sai của Sa-tan, bị kẻ địch lại Đấng Christ bắt đi rồi, vậy mà ngươi vẫn không nhận ra. Như vậy là rất nguy hiểm. Để giải quyết vấn đề này thì một mặt, cần biết phân định thực chất bản tính của những kẻ địch lại Đấng Christ, có thể nhìn thấu bộ mặt xấu xa thù hận lẽ thật và chống đối Đức Chúa Trời của những kẻ địch lại Đấng Christ; còn phải nắm rõ các thủ đoạn mê hoặc và lung lạc mọi người mà những kẻ địch lại Đấng Christ thường sử dụng, cũng như phương thức hành động của họ. Mặt khác, các ngươi phải mưu cầu nhận thức tâm tính và thực chất của Đức Chúa Trời, thấy rõ rằng chỉ có Đấng Christ mới là lẽ thật, đường đi và sự sống, rằng việc sùng bái bất kỳ người nào cũng sẽ mang lại tai họa và bất hạnh cho ngươi. Ngươi phải tin rằng chỉ có Đấng Christ mới có thể cứu rỗi con người, và ngươi phải đi theo và vâng phục Đấng Christ với đức tin tuyệt đối. Chỉ có như vậy mới là con đường đúng đắn trong đời. Có những người nói: “Hừm, tôi quả thật có lý do để sùng bái các lãnh đạo – hễ ai có tài cán thì trong lòng tôi tự nhiên sùng bái người đó. Tôi sùng bái bất kỳ lãnh đạo nào phù hợp với những quan niệm của tôi”. Ngươi tin Đức Chúa Trời, tại sao lại nhất quyết sùng bái con người? Suy cho cùng, ai có thể cứu rỗi ngươi? Ai thực sự yêu thương ngươi và bảo vệ ngươi – chẳng lẽ ngươi không thấy rõ sao? Nếu ngươi tin Đức Chúa Trời và đi theo Đức Chúa Trời, thì ngươi phải nghe lời Ngài, và nếu có ai đó nói và hành động một cách đúng đắn, hợp nguyên tắc lẽ thật, thì chẳng phải ngươi vâng phục lẽ thật là được rồi hay sao? Tại sao ngươi lại thấp hèn như vậy? Tại sao ngươi nhất quyết phải tìm một người mà ngươi sùng bái để đi theo? Tại sao ngươi thích làm nô tài của Sa-tan? Tại sao lại không làm tôi tớ của lẽ thật? Từ trong chuyện này có thể thấy ra liệu một người có lý trí và tôn nghiêm hay không. Ngươi nên bắt đầu với chính mình: hãy trang bị cho mình các phương diện lẽ thật, đạt đến có thể phân định về các loại biểu hiện của các loại người, biết được biểu hiện của các loại người có tính chất gì, là sự bộc lộ tâm tính nào, đạt đến phân định thực chất của các loại người, có thể thấy rõ về những loại người xung quanh mình, biết mình thuộc loại người nào, và lãnh đạo của mình thuộc loại người nào. Một khi thấy rõ những điều này rồi, ngươi sẽ có thể tiếp cận mọi người một cách đúng đắn và hợp các nguyên tắc lẽ thật: Nếu họ là anh chị em thì đối đãi bằng tình yêu thương; nếu họ không phải là anh chị em, mà là kẻ ác, kẻ địch lại Đấng Christ hoặc kẻ chẳng tin, thì tránh xa và vứt bỏ. Còn nếu họ là người có thực tế lẽ thật, thì dù ngươi có thể khâm phục, nhưng không được sùng bái họ. Không một con người nào có thể thay thế Đấng Christ; chỉ Đấng Christ mới là Đức Chúa Trời thực tế. Chỉ Đấng Christ mới có thể cứu rỗi con người, và chỉ khi đi theo Đấng Christ, ngươi mới có thể có được lẽ thật và sự sống. Nếu có thể nhìn thấu những điều này, thì ngươi đã có vóc giạc và không dễ bị kẻ địch lại Đấng Christ mê hoặc, cũng không cần phải sợ bị kẻ địch lại Đấng Christ mê hoặc.

Có những người, khi thấy một số kẻ địch lại Đấng Christ bị tỏ lộ và đào thải thì bắt đầu lo lắng, nói: “Mặc dù bề ngoài kẻ địch lại Đấng Christ trông không giống kẻ ác, nhưng tại sao sau khi phân định những việc họ làm, hóa ra họ lại ác đến vậy? Có vẻ như kẻ địch lại Đấng Christ quả thực rất quỷ dị. Nhưng tố chất của tôi kém, nếu gặp lại dạng kẻ địch lại Đấng Christ này, chỉ sợ cũng không phân định được. Vậy tôi nên đề phòng kẻ địch lại Đấng Christ như thế nào?”. Dù ngươi có tố chất kém, thì cũng không cần lúc nào cũng lo bị mê hoặc hay luôn phải tính cách đề phòng họ. Ngươi chỉ cần chú trọng hiểu lẽ thật, đọc nhiều lời Đức Chúa Trời hơn, và khi có thời gian thì suy ngẫm nghiêm túc về những việc ác mà kẻ địch lại Đấng Christ làm, tự hỏi: “Họ ác ở chỗ nào? Điều gì thúc đẩy họ làm việc ác như vậy? Người bình thường có thể làm việc ác như vậy không? Những người hiểu được lẽ thật làm cách nào để phân định được họ? Làm cách nào để mình phân định được họ?”. Một khi dựa vào lời Đức Chúa Trời mà nhìn thấu được thực chất của mọi người, ngươi sẽ hiểu tất cả. Khi không ngừng suy ngẫm về những điều này, chẳng biết từ lúc nào, ngươi sẽ biết phân định, và tự nhiên ngươi sẽ có thể phân định được khi lại gặp phải kẻ địch lại Đấng Christ cố gắng mê hoặc mọi người. Việc này đòi hỏi phải trải nghiệm nhiều chuyện, chứ không phải cứ nghe giảng nhiều là có thể học được. Nó cũng giống như chuyện con người ở trong xã hội, bị thiệt thòi, mắc lừa nhiều, thì sẽ có kinh nghiệm – “vấp ngã một lần, khôn lên một chút”. Nó chính là đạo lý này. Trong đức tin nơi Đức Chúa Trời của chúng ta, cái chính là hiểu được lẽ thật. Ngươi hiểu được lẽ thật càng nhiều, thì càng nhìn thấu được nhiều chuyện. Nếu ngươi không hiểu được bất kỳ lẽ thật nào, thì dù có tri thức cũng vô ích. Chỉ có tri thức không thôi thì không thể nhìn thấu được gì cả; quan điểm của ngươi giống như của người thế tục, có bình luận về điều gì cũng đều vô vị, sai lầm. Nếu hiện giờ có một số người ngươi chưa thể nhìn thấu được thì cũng không cần phải lo. Một khi hiểu được lẽ thật, ngươi sẽ tự nhiên có sự phân định. Trước mắt, ngươi chỉ cần tập trung làm tốt bổn phận của chính mình, ăn uống nhiều lời Đức Chúa Trời hơn, và suy ngẫm nhiều hơn về lẽ thật. Đến ngày nào đó hiểu được lẽ thật, ngươi sẽ có thể phân định được mọi người. Chỉ cần nhìn thấy hành vi của họ, trong lòng ngươi sẽ biết chuyện của họ là thế nào; chỉ cần nghe ai phản ánh về một vấn đề, ngươi sẽ có thể nhìn thấu thực chất của vấn đề; và chỉ cần nghe tư tưởng, quan điểm của ai đó, ngươi sẽ biết được vóc giạc của họ. Ngươi sẽ có thể dễ dàng hiểu hết về bất kỳ sự việc hoặc con người nào, mà không cần tốn nhiều công sức. Đây chính là hiệu quả của việc hiểu lẽ thật. Nhưng nếu ngươi không mưu cầu lẽ thật, mà thay vào đó chỉ dựa vào tưởng tượng của mình để nhìn nhận người ta, sùng bái họ, nương cậy vào họ, còn mù quáng nịnh nọt họ, nếu ngươi không đi theo con đường mưu cầu lẽ thật, thì kết quả cuối cùng sẽ là gì? Ai cũng có thể mê hoặc ngươi; ai ngươi cũng không thể nhìn thấu, dù là kẻ địch lại Đấng Christ rõ ràng nhất, ngươi cũng nhìn không thấu. Họ sẽ đùa bỡn ngươi đến đầu óc choáng váng, mà ngươi còn khâm phục bản lĩnh của họ, ngày ngày quay quanh họ. Vậy thì ngươi đúng là kẻ hồ đồ, và chắc chắn có thể nói rằng ngươi tin vị đức chúa trời mơ hồ, chứ không phải Đức Chúa Trời thực tế, chắc chắn ngươi không phải là người mưu cầu lẽ thật.

Có những người, dù nghe giảng mấy lần về việc phân định kẻ địch lại Đấng Christ, vẫn không phân định được. Họ chỉ hiểu một chút về cách phân định, nhưng lại thiếu trải nghiệm thực tế. Khi thực sự đối mặt với việc ác của kẻ địch lại Đấng Christ, họ lại không thể phân định được. Mặc dù sau khi nghe giảng, họ không thể phân định được kẻ địch lại Đấng Christ, nhưng họ soi mình vào những điều nghe được và ngày càng bắt đầu cảm thấy mình giống kẻ địch lại Đấng Christ. Cuối cùng, họ nhận định rằng chính họ là kẻ địch lại Đấng Christ. Kiểu phân định này không có gì sai. Họ hoàn toàn rõ ràng về các chi tiết trong việc phân định kẻ địch lại Đấng Christ, chỉ thiếu các nguyên tắc để xác định tính chất mà thôi. Đây không phải là vấn đề lớn; nó cho thấy việc nghe giảng của họ có hiệu quả. Mặc dù họ chưa phân định được kẻ địch lại Đấng Christ thực sự, nhưng họ đã phân định được chính mình, đó cũng là một điều tốt. Họ cứu rỗi chính mình và tránh trở thành kẻ địch lại Đấng Christ trước đã, đó là thành quả của việc nghe những bài giảng vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ này. Có thể phân định chính mình là kẻ địch lại Đấng Christ là chuyện không đơn giản; sự phân định như thế đòi hỏi quan sát chi tiết, và Ta thấy như vậy cũng tính là có sự phân định rồi. Phân định chính mình hiện tại là một điều tốt; còn chưa quá muộn. Nếu ngươi hành ác và gây họa, rồi bị xác định tính chất là kẻ địch lại Đấng Christ, thì đã quá muộn rồi. Nếu ngươi có sự phân định về bản thân mình hiện tại, thì cùng lắm cũng chỉ có nghĩa rằng ngươi có những biểu hiện mang tính chất giống như của kẻ địch lại Đấng Christ, ngươi đang đi con đường của kẻ địch lại Đấng Christ và ngươi chọn sai đường – chỉ có thể xác định tính chất ngươi như vậy. Vẫn còn kịp đổi hướng, nhưng nếu ngươi chọn không đổi hướng thì nguy hiểm rồi. Chủ đề phân định kẻ địch lại Đấng Christ đã được thông công nhiều lần, và đến nay, một số người đã thực sự có thể phân định. Họ có thể xác định được những tâm tính địch lại Đấng Christ của chính mình mà họ bộc lộ, đây chính là thành quả, và nó chứng tỏ họ đã có sự phân định. Nếu họ lại có thể phân biệt giữa người có thực chất bản tính của kẻ địch lại Đấng Christ và người chỉ có tâm tính địch lại Đấng Christ, thì họ đã hoàn toàn biết phân định. Đây là việc trong tầm tay, không cần phải ưu lo. Nếu người ta có thể phân định được những tâm tính địch lại Đấng Christ của chính mình, thấy rõ mình có đang đi con đường địch lại Đấng Christ hay không, ngoài ra còn biết thực chất bản tính của kẻ địch lại Đấng Christ là gì, thì họ đã học được cách phân định kẻ địch lại Đấng Christ rồi. Việc có thể phân định kẻ địch lại Đấng Christ không nằm ở chỗ tin Đức Chúa Trời được bao nhiêu năm, mà ở chỗ người ta có nỗ lực vươn tới lẽ thật hay không, có thể đạt đến hiểu lẽ thật hay không. Có những người tin Đức Chúa Trời trong nhiều năm, đã nghe nhiều bài giảng về việc vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ, nhưng những tâm tính và biểu hiện địch lại Đấng Christ của họ vẫn chưa hề thay đổi. Dù Ta có thông công về lẽ thật như thế nào, họ vẫn không ý thức được. Lúc đó, họ có thể đối chiếu bản thân với nội dung thông công, nhưng đến khi hành động hoặc làm bổn phận, họ lại quay về lối cũ. Như vậy chẳng phải là phiền phức và nguy hiểm rồi sao? Như vậy là rất nguy hiểm! Dù Ta có thông công cách nào, dù lúc nghe Ta phán, họ có cảm thấy tự trách mình hay khổ sở thế nào đi nữa, thì sau đó họ cũng không hề thay đổi. Họ không phản tỉnh tại sao mình lại luôn đề bạt và bồi dưỡng những người bợ đỡ, xu nịnh, cũng không phản tỉnh tại sao họ lại đối xử với người khác không dựa trên nguyên tắc, mà toàn theo ý riêng. Ngay cả khi những người mà họ thích là kẻ ác hay kẻ xấu, thì họ vẫn không thấy chán ghét, mà cứ tiếp tục đề bạt và sử dụng. Thậm chí họ còn không phản tỉnh tại sao mình không hề mưu cầu lẽ thật, mà lại bước vào con đường địch lại Đấng Christ. Họ làm nhiều việc ác như thế mà không hề có bất kỳ sự phản tỉnh thực sự nào, không có chút thay đổi nào, thì nguy hiểm rồi. Trong khoảng thời gian này, nhóm họp và thông công đều là nói về việc vạch rõ những tâm tính và thực chất của kẻ địch lại Đấng Christ. Tâm tính của kẻ địch lại Đấng Christ ẩn tàng hơn và tà ác hơn những tâm tính bại hoại thường thấy của người bình thường. Kẻ địch lại Đấng Christ chán ghét lẽ thật, thù hận lẽ thật, và tuyệt đối không thể tiếp nhận lẽ thật hay sự phán xét và hình phạt của Đức Chúa Trời. Vậy thì kết cục, cái kết của kẻ địch lại Đấng Christ là gì? Họ chắc chắn sẽ bị đào thải. Đức Chúa Trời xác định tính chất kẻ địch lại Đấng Christ như thế nào? Là những người thù hận lẽ thật và đối địch với Đức Chúa Trời – là kẻ thù của Đức Chúa Trời! Việc đối địch với lẽ thật, thù hận Đức Chúa Trời, và thù hận mọi điều tích cực – đây không phải là sự yếu đuối hay ngu muội nhất thời ở người bình thường, cũng không phải là sự bộc lộ của những tư tưởng, quan điểm sai lầm sinh ra do nhận thức lệch lạc nhất thời; không phải là vấn đề này. Mà vấn đề chính là họ là kẻ địch lại Đấng Christ, kẻ thù của Đức Chúa Trời, thù hận hết thảy những điều tích cực và hết thảy lẽ thật; họ đóng vai trò thù hận và đối địch Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời nhìn nhận những vai trò như vậy thế nào? Đức Chúa Trời không cứu rỗi họ! Những người này xem thường và thù hận lẽ thật, họ có thực chất bản tính của kẻ địch lại Đấng Christ. Các ngươi có hiểu điều này không? Cái đang vạch trần ở đây là sự tà ác, sự hung ác và sự thù hận lẽ thật. Đó là những tâm tính Sa-tan nghiêm trọng nhất trong số các tâm tính bại hoại, là những thứ điển hình nhất, thực chất nhất của Sa-tan, chứ không phải là những tâm tính bại hoại mà nhân loại bại hoại thông thường bộc lộ. Những kẻ địch lại Đấng Christ là một thế lực thù địch Đức Chúa Trời. Họ có thể làm nhiễu loạn và khống chế hội thánh, có thể hủy hoại và làm gián đoạn công tác quản lý của Đức Chúa Trời. Đây không phải là việc mà người bình thường có tâm tính bại hoại có thể làm; chỉ những kẻ địch lại Đấng Christ mới có thể có những hành động như vậy. Đừng xem nhẹ việc này.

Tất cả những kẻ ác đều có tâm tính tà ác. Có những cái tà ác biểu hiện nơi tâm tính độc ác, như thường xuyên ức hiếp, giễu cợt và mỉa mai người hiền lành, luôn lấy họ ra làm trò đùa, còn chiếm lợi của họ. Kẻ ác khi thấy kẻ ác khác thì cúi mình phục tùng, nhưng khi thấy kẻ yếu thì họ chà đạp và tác oai tác quái. Đây là những kẻ cực kỳ hung ác. Bất kỳ ai ức hiếp hoặc bách hại Cơ Đốc nhân thì đều là người đội lốt quỷ; bọn chúng là dã thú không có linh hồn và là quỷ đầu thai. Nếu trong đám kẻ ác có người không ức hiếp người thật thà, không tàn hại Cơ Đốc nhân, mà chỉ trút thịnh nộ lên những ai làm hại đến lợi ích của họ, thì những người này được coi là người tốt giữa những người ngoại đạo. Nhưng sự tà ác của những kẻ địch lại Đấng Christ khác như thế nào? Sự tà ác của những kẻ địch lại Đấng Christ chủ yếu biểu hiện ở khuynh hướng tranh đấu đặc biệt của chúng. Chúng dám đấu với Trời, đấu với đất và đấu với người. Chúng không những không cho người khác ức hiếp mình mà còn có thể ức hiếp và trừng trị người khác. Hàng ngày, chúng nghĩ cách trừng trị người ta. Nếu chúng đố kỵ với ai hay ghét ai thì chúng sẽ không bao giờ bỏ qua. Đây là chỗ tà ác của những kẻ địch lại Đấng Christ. Sự tà ác này của kẻ địch lại Đấng Christ còn biểu hiện ở đâu nữa? Có thể thấy được trong cách hành động quỷ dị của chúng, mà những người có chút trí óc, chút tri thức văn hóa và chút kinh nghiệm xã hội cũng khó mà phát hiện ra được. Họ làm việc đặc biệt quỷ dị, và nó sẽ lên đến mức tà ác, chứ không phải là sự giả dối thông thường. Nghĩa là họ có thể dùng âm mưu và thủ đoạn, và làm vậy ở cấp độ cao hơn những người bình thường. Người bình thường không phải là đối thủ của họ và không thể đối phó được với họ. Kẻ địch lại Đấng Christ là vậy. Tại sao Ta lại phán rằng người thường không thể đối phó được với họ? Bởi vì họ tà ác đến mức quá lợi hại rồi, cực kỳ giỏi mê hoặc mọi người. Họ có thể nghĩ ra đủ mọi cách để khiến mọi người sùng bái và đi theo họ, còn có thể lợi dụng đủ mọi loại người để làm nhiễu loạn và phá hoại công tác của hội thánh. Trong những hoàn cảnh như vậy, nhà Đức Chúa Trời liên tục thông công về đủ mọi dạng biểu hiện, tâm tính và thực chất của những kẻ địch lại Đấng Christ để mọi người có thể phân định được họ. Đây là việc tất yếu. Một số người không hiểu và nói: “Tại sao cứ thông công mãi về chuyện phân định những kẻ địch lại Đấng Christ vậy?”. Bởi vì những kẻ địch lại Đấng Christ quá giỏi mê hoặc mọi người. Chúng có thể mê hoặc nhiều người, giống như ôn dịch vậy, gây hại cực kỳ, hễ truyền nhiễm là thành đợt dịch, tốc độ truyền nhiễm nhanh, phạm vi truyền nhiễm rộng, tỷ lệ tử vong đều tương đối cao. Đây chẳng phải là những hậu quả nghiêm trọng sao? Nếu Ta không thông công như thế này với các ngươi, liệu các ngươi có thể thoát khỏi sự mê hoặc và kìm kẹp của kẻ địch lại Đấng Christ không? Liệu các ngươi có thể thực sự quy hướng về Đức Chúa Trời và thuận phục Ngài không? Rất khó. Khi người bình thường bộc lộ tâm tính kiêu ngạo, thì cùng lắm là khiến người khác thấy được tình trạng kiêu ngạo xấu xí của họ. Có lúc họ khoác lác, có lúc họ phô trương và thể hiện, có lúc họ thích đứng từ địa vị mà lên lớp người khác. Nhưng kẻ địch lại Đấng Christ có như vậy không? Có thể bề ngoài, họ có thể không khẳng định địa vị hay yêu thích địa vị, chẳng bao giờ có vẻ hứng thú với địa vị, nhưng trong sâu thẳm nội tâm, họ có dục vọng mãnh liệt về địa vị. Cũng giống như một số hoàng đế và lãnh chúa trong dân ngoại đạo: khi đấu tranh giành thiên hạ, họ đồng cam cộng khổ cùng anh em, trông khiêm nhường và không có dã tâm. Nhưng dục vọng nơi sâu thẳm nội tâm họ, ngươi có thấy được không? Tại sao họ lại có thể chịu những khổ cực như vậy? Chính là dục vọng của họ đang chống đỡ. Trong sâu thẳm nội tâm họ ẩn giấu một dã tâm cực lớn, để một ngày nào đó có thể leo lên ngai vàng mà họ sẵn sàng chịu đựng bất kỳ khổ cực nào, sẵn sàng nhịn nhục bất kỳ sự vu khống, phỉ báng, lời khó nghe và sự sỉ nhục nào. Đây chẳng phải là quỷ dị sao? Liệu họ có thể để cho bất kỳ ai biết về dã tâm này không? (Thưa, không.) Họ che giấu và bao bọc nó. Những gì có thể thấy bề ngoài là một người có thể chịu đựng những gì người khác không chịu đựng nổi, có thể chịu những khổ cực người khác không thể chịu nổi, trông bền bỉ, không có dã tâm, giản dị và đối tốt với mọi người xung quanh. Nhưng ngày mà họ lên ngôi và có được thực quyền rồi, thì để củng cố quyền lực của mình và phòng người khác soán vị, họ giết hết thảy những công thần đã từng đồng cam cộng khổ giành giang sơn cùng họ. Chỉ khi chân tướng phơi bày rõ ràng, mọi người mới nhận ra lòng dạ họ sâu xa đến mức nào. Khi nhìn lại và thấy mọi việc họ làm đều do dã tâm chi phối, ngươi mới phát hiện ra tâm tính của họ quá tà ác. Đây là thủ đoạn gì? Chính là quỷ dị. Đây là tâm tính trong cách hoạt động của kẻ địch lại Đấng Christ. Kẻ địch lại Đấng Christ và ma vương chấp chính nắm quyền đều cùng một giuộc; họ tuyệt đối sẽ không vô cớ chịu khổ và chịu đựng trong hội thánh nếu không có được quyền lực và địa vị. Nói cách khác, những người này tuyệt đối không cam tâm làm người đi theo bình thường, không ở trong nhà Đức Chúa Trời mà bấm bụng cầu toàn làm người thờ phượng Đức Chúa Trời bình thường, hoặc làm bổn phận nào đó thầm lặng, vô danh; chắc chắn họ sẽ không cam tâm làm vậy. Nếu thấy ai đó sau khi có địa vị thì bị cách chức do đi con đường địch lại Đấng Christ, thì họ cảm thấy: “Bây giờ không có địa vị thì mình cứ thật thà làm người bình thường, làm được bổn phận nào thì làm; không có địa vị, mình vẫn chuyên tâm tin Đức Chúa Trời cho tốt”, thì họ có phải là một kẻ địch lại Đấng Christ không? Không, người này đã từng đi con đường địch lại Đấng Christ, từng đi sai đường do nhất thời ngu muội, nhưng họ không phải là kẻ địch lại Đấng Christ. Kẻ địch lại Đấng Christ thực sự sẽ làm gì? Nếu mất địa vị, họ sẽ không tin nữa. Không những vậy, họ còn nghĩ trăm phương ngàn kế để mê hoặc người khác, khiến người khác sùng bái và đi theo họ, để đạt được dã tâm và dục vọng nắm quyền của mình. Đây chính là sự khác biệt giữa người đi con đường địch lại Đấng Christ và kẻ địch lại Đấng Christ thực sự. Chúng ta phân định và mổ xẻ những thực chất tâm tính và biểu hiện này của kẻ địch lại Đấng Christ bởi vì tính chất của vấn đề này rất nghiêm trọng. Hầu hết mọi người không thể phân định được kẻ địch lại Đấng Christ. Chưa nói đến các anh chị em bình thường, ngay cả một số lãnh đạo và người làm công cảm thấy mình hiểu được chút lẽ thật, cũng chưa hoàn toàn nắm vững việc phân định kẻ địch lại Đấng Christ. Khó mà nói được họ nắm vững đến đâu, điều này cho thấy vóc giạc của họ quá nhỏ bé. Chỉ những người có thể phân định chính xác kẻ địch lại Đấng Christ mới là người có vóc giạc thực sự.

Vấn đề chính mà hiện nay tất cả các ngươi đều đang đối mặt là gì? Hầu hết mọi người không biết phân định và dễ dàng bị lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ mê hoặc, vấn đề này nếu không giải quyết thì sẽ rất nguy hiểm. Cho nên, Ta yêu cầu các ngươi phải học biết phân định các loại người khác nhau. Phân định xem các hành vi và phát ngôn khác nhau của người ta đại diện cho tâm tính nào, và dựa trên đó mà phân định thực chất của người ta. Ngoài ra, các ngươi cần phải biết phân biệt cái gì là thực tế lẽ thật và cái gì chỉ là câu chữ, đạo lý. Nếu không thể phân định được những điều này, thì các ngươi sẽ chẳng có cách nào bước vào thực tế lẽ thật. Không biết phân định, làm sao có con đường bước vào thực tế được? Có những lãnh đạo và người làm công chỉ toàn giảng câu chữ và đạo lý, cho rằng hiểu câu chữ và đạo lý có nghĩa là họ có thực tế rồi. Vì thế, trong khi giảng câu chữ và đạo lý, họ cảm thấy yên tâm thoải mái, càng giảng càng hăng. Nhưng khi cám dỗ đến thì họ vấp ngã, và thậm chí còn không biết tại sao mình lại vấp ngã, vẫn còn nói: “Tại sao Đức Chúa Trời không bảo vệ con?”. Đây chẳng phải là một thất bại đáng hổ thẹn sao? Vậy có những lãnh đạo và người làm công luôn giảng câu chữ và đạo lý – các ngươi có thể phân định được điều này không? (Thưa, không.) Có lúc, Ta nghe một số anh chị em phản ánh rằng một số lãnh đạo chỉ nói câu chữ và đạo lý và không hợp làm lãnh đạo, và họ xin cách chức người đó. Nhưng sau khi yêu cầu họ bầu chọn lãnh đạo mới, thì hầu hết mọi người không có sự phân định, và lãnh đạo, người làm công được bầu chọn cũng lại là người chỉ nói câu chữ và đạo lý mà không có nhiều thực tế. Đây là một chuyện rất nghiêm trọng, rất nan giải. Khi nghe Ta thông công những lời này, về những việc này, các ngươi có thể nghe ra bất kỳ sự khác biệt nào so với những gì mà lãnh đạo bình thường nói không? Nếu có thể phân định được sự khác biệt, thì ngươi sẽ biết thực tế lẽ thật là gì. Nếu ngươi không thể phân định được, cảm thấy đều như nhau và cho rằng: “Chúng con cũng đã học được cách nói lời Đức Chúa Trời, và những gì chúng con nói giống như những gì Đức Chúa Trời phán”, thì phiền phức rồi. Nó chứng tỏ ngươi không hiểu được chút lẽ thật nào, chỉ biết học cách nói lời Đức Chúa Trời và đọc thuộc lòng một chút lời Ngài, mà căn bản không hiểu được lẽ thật. Hầu hết kẻ địch lại Đấng Christ đều có ân tứ và tài hùng biện nhất định, cho họ vốn liếng để mê hoặc mọi người. Kết hợp với tâm tính tà ác và những thủ đoạn trong lời nói và hành động, họ sẽ biết cách mê hoặc mọi người. Nếu ngươi chỉ có thể giảng câu chữ, đạo lý, mà không thể phân định thực tế lẽ thật là gì, thì ngươi chỉ có thể bị kẻ địch lại Đấng Christ mê hoặc. Đây là điều nằm ngoài tầm kiểm soát của ngươi! Đối với những người không hiểu lẽ thật thì dù có muốn cũng không thể không bị kẻ địch lại Đấng Christ mê hoặc. Thoát khỏi quyền thế của Sa-tan không phải là chuyện đơn giản, phải không?

Ngày 11 tháng 6 năm 2019

Trước: Mục 5. Họ mê hoặc, lôi kéo, đe dọa và khống chế mọi người

Tiếp theo: Mục 7. Họ tà ác, nham hiểm và giả dối (Phần 1)

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời Về việc biết Đức Chúa Trời Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Vạch rõ kẻ địch lại Đấng Christ Chức trách của lãnh đạo và người làm công Về việc mưu cầu lẽ thật Về việc mưu cầu lẽ thật Sự phán xét khởi từ nhà Đức Chúa Trời Những lời trọng yếu từ Đức Chúa Trời Toàn Năng, Đấng Christ của thời kỳ sau rốt Lời Đức Chúa Trời hằng ngày Các thực tế lẽ thật mà người tin Đức Chúa Trời phải bước vào Theo Chiên Con và hát những bài ca mới Những chỉ dẫn cho việc truyền bá Phúc Âm của vương quốc Chiên của Đức Chúa Trời nghe tiếng của Đức Chúa Trời Lắng nghe tiếng Đức Chúa Trời thấy được sự xuất hiện của Đức Chúa Trời Những câu hỏi và câu trả lời thiết yếu về Phúc Âm của Vương quốc Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 1) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 2) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 3) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 4) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 5) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 6) Chứng ngôn trải nghiệm trước tòa phán xét của Đấng Christ (Tập 7) Tôi đã quay về với Đức Chúa Trời Toàn Năng như thế nào

Cài đặt

  • Văn bản
  • Chủ đề

Màu Đồng nhất

Chủ đề

Phông

Kích cỡ Phông

Khoảng cách Dòng

Khoảng cách Dòng

Chiều rộng Trang

Mục lục

Tìm kiếm

  • Tìm kiếm văn bản này
  • Tìm kiếm cuốn sách này

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger