Cách mưu cầu lẽ thật (20)
Hôm nay, chúng ta tiếp tục thông công về chủ đề lần trước. Lần trước, chúng ta thông công về nguồn gốc của các loại người, và đã nói đến ba loại. Các ngươi có nhớ được là ba loại nào không? (Thưa, một loại là do động vật đầu thai, một loại là do ma quỷ đầu thai, và một loại khác nữa là do con người đầu thai.) Chúng ta đã nói đến đâu rồi? (Thưa, đã nói đến chuyện loại người do con người đầu thai thì có nhân tính bình thường, trong nhân tính của họ có lương tâm và lý trí. Chuyện này liên quan đến hai đặc trưng là rõ phải trái và biết đúng sai.) Một là rõ phải trái, hai là biết đúng sai, chúng là những đặc trưng của con người. Người ta có hai đặc trưng này chủ yếu là vì họ có lương tâm và lý trí, do đó, người có lương tâm và lý trí thì có thể đạt đến rõ phải trái và biết đúng sai. Chúng ta cũng đã thông công chi tiết phần nào về phương diện này, chủ yếu là thông công một vài nội dung nhắm vào những biểu hiện của những người không rõ phải trái và không biết đúng sai, vạch trần một vài biểu hiện của họ từ góc độ tiêu cực, sau đó nói về chuyện những điều tích cực là gì, phải vậy không? (Thưa, phải.) Hôm nay, chúng ta sẽ tiếp tục thông công về chủ đề “do con người đầu thai”. Loại người do con người đầu thai, thì ngoài rõ phải trái ra, họ còn biết đúng sai. Rõ phải trái chủ yếu nghĩa là biết đâu là điều tích cực và đâu là điều tiêu cực, tức là biết phân định các loại con người, sự việc và sự vật, ngay cả đối với một vài điều mà bản thân chưa từng tiếp xúc, thì họ cũng biết dùng lương tâm và lý trí để đánh giá đơn giản về chúng. Nếu tiếp xúc với điều gì đó mà họ cảm thấy lương tâm bất an hoặc không chấp nhận được về mặt lý trí, thì họ sẽ đưa ra sự lựa chọn cơ bản, trong tiềm thức họ sẽ cảm nhận được loại sự vật đó đúng hoặc sai, tích cực hoặc tiêu cực. Cũng có nghĩa là, con người đích thực thì sẽ dùng cảm giác cơ bản của lương tâm hoặc lý trí để đánh giá những điều xa lạ mà họ gặp phải, để phân định xem nó là điều tích cực hay tiêu cực, đúng hay sai. Nhưng những người không có lương tâm và lý trí thì bất kể là đối với những điều xa lạ hay những điều đã quen thuộc, họ đều khó có thể rõ phải trái và biết đúng sai, nhất là đối với một vài điều mới nảy sinh trong xã hội thì họ càng không biết chúng đúng hay sai. Họ không biết phân định chúng là điều tích cực hay tiêu cực. Nếu trong xã hội xuất hiện điều tích cực, thì họ còn chạy theo trào lưu của thế gian mà đối đãi với nó, lên án nó và vứt bỏ nó. Đây chính là sự khác biệt giữa nhân loại và thứ phi nhân. Ngươi xem, cùng là con người, có người cũng chưa từng nghe qua lẽ thật, chưa từng tiếp nhận sự cung ứng của lời Đức Chúa Trời, nhưng bất kể trong hoàn cảnh nào, trong hành động của họ cũng đều có ranh giới tối thiểu, ít nhất là ranh giới tối thiểu của lương tâm. Họ tuyệt đối sẽ không làm những việc trái với lương tâm, trái với đạo đức. Bởi vì trong sâu thẳm nội tâm, họ thấy ác cảm với những điều tiêu cực, vì họ có lương tâm và lý trí của con người, cho nên trong cách làm người và hành động, họ có một ranh giới tối thiểu cơ bản về đạo đức. Còn những thứ phi nhân, xét từ đặc tính trong thuộc tính thì họ không có lương tâm và lý trí. Một mặt, họ không biết phân định giữa điều tích cực và tiêu cực. Mặt khác, đối với những điều tiêu cực này, thậm chí là những chuyện rõ ràng là sai lầm, mà họ cũng không thấy phản cảm hay ghê tởm, cũng chẳng có năng lực chống cự với chúng, lại còn có thể yêu thích những điều tiêu cực và chạy theo trào lưu tà ác. Đáng buồn hơn nữa, có một vài người tin Đức Chúa Trời và tự nhận mình là người đi theo Đức Chúa Trời mà vẫn có thể chạy theo trào lưu tà ác và làm những việc ác hệt như những người ngoại đạo, hơn nữa còn chẳng có cảm giác xấu hổ gì, thậm chí còn chẳng thấy bất kỳ sự khiển trách nào của lương tâm.
Ngày nay, nhiều người dùng điện thoại để chụp hình selfie. Người có nhân tính bình thường thì chụp dạng ảnh như thế nào? Họ chụp những bức ảnh có ý nghĩa và đáng để ghi nhớ, mục đích của họ khi chụp là để lưu lại một hồi ức tốt đẹp. Ngay cả khi tự chụp mình thì họ cũng chụp những bức trông tao nhã, đàng hoàng, đoan trang, đứng đắn. Khi làm những việc này, họ đều làm trong phạm vi của lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường. Còn những người không có lương tâm và lý trí thì khác, cũng là chụp ảnh selfie đấy, nhưng ảnh họ chụp lại có vấn đề. Có phụ nữ chụp kiểu ảnh như thế nào? Họ chẳng chụp những tấm ảnh đoan trang, đứng đắn và đàng hoàng. Khi thấy những phụ nữ ngoại đạo trên mạng chụp ảnh khiêu gợi, gợi cảm, hoặc đặc biệt quái dị, họ liền bắt chước theo, cũng chụp những tấm ảnh khiến đàn ông thèm rỏ dãi và nảy sinh ý nghĩ dâm dục, nghĩa là họ chuyên chụp ảnh trông như dâm phụ, gái lẳng lơ hoặc ảnh gợi cảm. Có phụ nữ thích trang điểm thật đậm, đánh phấn trắng cả mặt, tô son đỏ cả môi, vẽ mắt đến mức trông như quái vật, khi đứng trước ống kính còn cố tạo dáng thật quyến rũ, đôi mắt trông thật mê hồn và dâm đãng, khiến cho người khác giới nhìn vào liền nảy sinh ý nghĩ dâm dục. Còn có những phụ nữ thả tóc dài che mặt, nghiêng nhẹ đầu và để lộ ánh mắt quyến rũ, dâm đãng qua khe tóc. Tóm lại, họ cảm thấy thần thái và cử chỉ nào quyến rũ và gợi cảm, thì sẽ chụp ảnh kiểu đó. Chụp xong rồi, họ còn đặc biệt ái kỷ, thường xuyên tán thưởng những tấm ảnh khiêu gợi của mình, còn lấy những tấm ảnh selfie mà mình vừa ý nhất và thích nhất làm hình nền máy tính hoặc điện thoại, thậm chí có người còn đăng lên mạng. Hễ nhìn thấy mấy tấm ảnh đó là họ cảm thấy bản thân có mị lực vô cùng, bẩm sinh đã có tố chất làm ngôi sao, nếu không tin Đức Chúa Trời thì nhất định họ đã trở thành ngôi sao lớn rồi. Ngươi xem, họ đi con đường nào vậy? Chẳng những bản thân họ tán thưởng những tấm ảnh đó suốt, mà họ còn mang cho những người xung quanh xem. Nếu có ai xem xong mà không khen họ, thì trong lòng họ chẳng thấy thỏa mãn. Nếu gặp được người cùng loại với mình, đặc biệt tán thưởng những tấm ảnh đó, nói rằng: “Ảnh này chụp đẹp quá, đây đúng là ảnh của ngôi sao! Giống hệt ngôi sao kia!”, thì lòng họ sẽ nở hoa, và họ ngày ngày chìm đắm trong đó. Còn có những người thích trang trí ảnh của mình, gắn tai thỏ lên đầu, còn gắn thêm cả ria mèo, cảm thấy bản thân đáng yêu hơn cả thỏ con và mèo con. Gặp ai, họ cũng hỏi: “Chị xem, trông tôi giống thỏ hay là giống mèo con?” Người ta mà nói: “Chị chẳng giống thể loại nào cả”, thì họ giận lắm. Các ngươi nói xem, người này chẳng làm người cho đàng hoàng, mà lại muốn làm động vật, vậy chẳng phải là biến thái sao? Họ còn đem những “kiệt tác” đó của mình đăng lên mạng để cố kiếm thêm người khen ngợi. Còn có những người lúc chụp ảnh selfie thì hóa trang thành kiếm khách, hiệp khách, hoặc Người Nhện, Người Dơi trong phim ảnh phương Tây, hoặc hóa trang thành hình tượng nhân vật vừa ngầu, vừa lạnh lùng và bí hiểm. Họ làm vậy với hy vọng người khác xem xong thì thích thú và tán thành. Ngày ngày, họ cứ đắm mình trong đó suốt. Các ngươi nói xem, đây là loại người gì? Là người bình thường sao? Tuyệt đối không phải, họ là thứ phi nhân. Mặc dù trong trào lưu tà ác thì ảnh selfie chỉ là một chuyện nhỏ và đơn giản thôi, nhưng nó lại tỏ lộ ý thích và sự mưu cầu của người ta, tỏ lộ phẩm chất nhân tính, nhu cầu nhân tính và những thứ trong sâu thẳm linh hồn của người ta. Người đoan trang đứng đắn thì dùng điện thoại làm công cụ chụp những tấm ảnh tích cực, có giá trị và ý nghĩa, còn người không có đặc tính của nhân tính thì chụp những tấm ảnh tiêu cực và tà ác, những thứ họ cần trong thực chất bản tính của mình. Có thể nói là loại người nào thì có loại nhu cầu nấy, là loại người nào thì chụp dạng ảnh nấy, là loại người nào thì chọn phương thức trang điểm và định vị hình tượng bản thân nấy. Người có nhân tính bình thường thì sẽ chọn chụp những tấm ảnh đoan trang đứng đắn, tao nhã, có ý nghĩa và giá trị để làm kỷ niệm, còn người không có nhân tính bình thường thì sẽ chạy theo trào lưu tà ác của thế gian mà làm những việc bản thân họ thích. Mặc dù là chuyện nhỏ thôi, nhưng từ chuyện này cũng đủ để thấy được những sở thích và sự mưu cầu trong sâu thẳm nội tâm của người ta. Bất kể trong chuyện gì, người có nhân tính bình thường, cho dù không biết rõ lắm đâu là điều tích cực và đâu là điều tiêu cực, nhưng vì có sự ràng buộc của lương tâm và lý trí, nên họ sẽ tự nhiên chọn những điều tích cực. Nếu có lúc nào đó vì nhất thời không có sự phân định mà chọn phải điều tiêu cực hoặc là vô tình làm ra một việc tiêu cực, thì trong lòng họ sẽ rất nhanh có một cảm giác nào đó, lương tâm họ sẽ cắn rứt, hoặc họ không chấp thuận nổi việc đó về mặt lý tính. Người không có nhân tính mà đối mặt với những điều tích cực thì sẽ cảm thấy những điều tích cực quá đỗi nhạt nhẽo, vô vị, chẳng có gì đáng để nhắc đến, và là thứ bị người ta xem thường, nhưng đối với những điều tiêu cực, nhất là những thứ đặc biệt gây sốt trong trào lưu tà ác, thì lòng họ đặc biệt thích thú và sùng bái. Ngươi mà chụp cho họ tấm ảnh đoan trang và đứng đắn thì họ sẽ thấy phản cảm, sẽ khịt mũi chế nhạo và nói rằng: “Ai còn chụp ảnh kiểu này chứ? Chụp kiểu này lỗi thời rồi!” Họ tự mình chọn chụp những tấm ảnh gợi cảm. Người bình thường mà thấy loại ảnh như vậy thì cảm thấy kinh tởm và khó coi, thế mà họ lại bảo: “Như vậy là gợi cảm, chị không hiểu gợi cảm là gì à? Là thời thượng, là nghệ thuật tao nhã. Chị không hiểu nghệ thuật rồi!” Họ chẳng những không thấy kinh tởm khi tự chụp ảnh gợi cảm cho mình, mà còn đặc biệt thích thú chạy theo những thứ gợi cảm và thời thượng này.
Thứ phi nhân thì cực kỳ hăm hở với những điều tiêu cực. Khi trong trào lưu tà ác xuất hiện một thứ tiêu cực nào đó, thì họ sẽ nắm bắt thông tin về chúng rất nhanh, lại còn có mức độ tiếp nhận rất cao đối với chúng. Nếu có cơ hội và điều kiện, họ nhất định sẽ làm những thứ mà họ thích và công nhận trong trào lưu tà ác. Họ tuyệt đối sẽ không cự tuyệt, cũng tuyệt đối không làm người ngoài cuộc, càng không ghê tởm và xa lánh chúng, thay vào đó, họ lao mình vào chúng. Nhất là, có một vài người tin Đức Chúa Trời lại đặc biệt chạy theo một vài câu nói và cách làm mang tính trào lưu mà họ nghe được từ phương Tây. Chẳng hạn như, phương Tây có lễ Halloween, nghe như là lễ của thánh, nhưng thực ra nó là lễ của quỷ. Đến ngày lễ này, người lớn, trẻ con đều mặc đủ loại trang phục như kiểu để diễn xuất trên sân khấu hoặc trong các vở kịch. Có người hóa trang thành phù thủy, có người hóa trang thành hoàng tử, công chúa, còn có người thì hóa trang thành ếch xanh, rắn, khủng long, v.v.. Sau đó, họ cầm giỏ hoặc túi đi đến các siêu thị, cửa hàng và nhà dân để xin kẹo. Một số người tin Đức Chúa Trời cũng mừng lễ này, còn mặc áo quần ma quỷ và cảm thấy rất vui, cho rằng đây là cơ hội tốt để họ vào các vai khác nhau. Họ chọn mặc những thứ gì? Những trang phục thể hiện hình tượng của các nhân vật được xem là tích cực như sĩ quan, tướng quân hay anh hùng thì họ không mặc, thay vào đó, họ cứ đòi mặc trang phục phù thủy và pháp sư. Khi hóa trang thành đủ loại ma quỷ để mừng lễ của quỷ này, họ cảm thấy vui vẻ và thú vị, trong lòng chẳng ý thức được rằng đây là chuyện mà Đức Chúa Trời ghê tởm, cũng chẳng biết được rằng đây là những thứ tiêu cực trong nhân gian. Trong sâu thẳm nội tâm, loại người này chẳng có nhận thức rõ ràng về những điều tiêu cực như vậy, chẳng biết mình nên tiếp cận những thứ văn hóa truyền thống và trào lưu thế tục này như thế nào. Họ cũng chẳng có nhận thức thực sự về chuyện rốt cuộc mình là gì, không biết rốt cuộc mình là người hay ma. Họ chẳng biết mình là người hay ma, nhưng rất khó để bảo họ làm người, còn khi ngươi bảo họ làm quỷ hoặc động vật, thì họ làm không biết mệt và chẳng bao giờ từ chối. Vậy ngươi nói xem, loại người này rốt cuộc là gì? Ngươi mà bảo họ làm người có lương tâm và lý trí, thì họ sẽ thường nói rằng: “Lương tâm đáng bao nhiêu tiền chứ? Thời nay, ai còn nói đến lương tâm chứ? Ai còn nói đến tình nghĩa chứ? Ai còn nói đến đạo đức chứ?” Nhưng ngươi bảo họ mặc đồ đóng vai pháp sư, hoặc mặc bộ đồ khủng long để vào vai khủng long, thì họ không phản đối hay từ chối. Ngươi nói xem, họ là loại người gì? Trong thực chất bản tính của họ, rốt cuộc có chút gì là yêu thích những điều tích cực không? Rốt cuộc họ có thấy phản cảm với những điều tiêu cực không? Xét từ những con người, sự việc và sự vật mà họ chọn, thì quá rõ ràng là họ chẳng yêu thích những điều tích cực chút nào, cũng chẳng thấy phản cảm với những điều tiêu cực chút nào. Ngược lại, họ đặc biệt thấy phản cảm với những điều tích cực, còn có ý cười nhạo và xem thường những điều tích cực. Trong khi đó, họ lại vô cùng tán thưởng và đặc biệt công nhận những điều tiêu cực, nhất là những thứ đặc biệt thịnh hành và gây sốt trong trào lưu tà ác. Đặc biệt, có một số người cho rằng mình có thể theo kịp trào lưu tà ác, có thể vào vai ma quỷ, tà linh và dã thú là chuyện đáng tự hào, họ cảm thấy mình khác với người thường. Quá rõ ràng là loại người này chẳng có lương tâm và lý trí, thứ gì càng đến từ trào lưu tà ác thì họ càng thích. Nhất là có một số người phương Đông, hễ nghe người ta bảo ở phương Tây đang phổ biến thứ gì, người phương Tây thích thứ gì, mặc thứ gì, dùng thứ gì là họ tiếp nhận hết mà chẳng phân định chút nào, lại còn cố bắt chước theo. Ngay cả khi chúng là những thứ tà ác, trái với lương tâm và lý trí, cũng như trái với lẽ thật, thì họ cũng tiếp nhận hết. Có người nói: “Như vậy chẳng phải là sính ngoại, sùng ngoại sao?” Có phải là vậy không? (Thưa, không phải, trong thực chất bản tính của mình, họ thích những thứ tà ác này.) Đúng rồi. Họ cảm thấy những thứ thịnh hành giữa người phương Đông thì không đủ tao nhã, thế là họ chạy theo những thứ thịnh hành của phương Tây, muốn một mình một kiểu, khác với người thường, và được người khác đánh giá cao. Dù nói thế nào đi nữa, thì loại người này cũng không có đặc tính của nhân tính. Xét theo những sở thích và sự mưu cầu của họ, cũng xét theo tư tưởng, quan điểm và sự bộc lộ của họ trong mỗi một sự việc, thì họ chẳng có lương tâm và lý trí. Tư tưởng và quan điểm của họ giống hệt tư tưởng và quan điểm của thứ phi nhân, thậm chí là của ma quỷ và Sa-tan. Khi nhìn nhận một chuyện nào đó, lập trường và góc độ của họ hoàn toàn trái ngược và đối lập với lập trường và góc độ mà Đức Chúa Trời yêu cầu nơi những người bình thường. Còn con người đích thực thì bởi vì bẩm sinh đã có lương tâm và lý trí của con người, cho nên sẽ biết dựa vào cảm giác của lương tâm và lý trí của mình mà phán đoán về bất kỳ con người, sự việc hay sự vật nào, từ đó chọn những điều tích cực, phân định chuyện gì đúng và chuyện gì sai.
Có người ở trong môi trường của xã hội phương Đông và chịu sự hạn chế của văn hóa truyền thống phương Đông, thì có thể tuân thủ một vài truyền thống của phương Đông. Mặc dù họ không làm những việc trái lương tâm và trái đạo đức, nhưng trong sâu thẳm nội tâm, họ lại thích những việc đó. Cho nên, một khi môi trường thay đổi, một khi có cơ hội, thì họ sẽ biểu hiện ra mặt thật trong nhân tính của mình, sẽ trưng ra một bộ mặt khác và bộc lộ một dạng đặc tính phi nhân tính. Nên giải thích thế nào về đặc tính phi nhân tính này? Nó chính là không rõ phải trái, không biết đúng sai, không có lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường. Có người khi ở phương Đông thì có vẻ có tác phong đứng đắn, đoan trang, hiền lành, thanh tao, đặc biệt chăm lo cho gia đình, và chẳng hề mang tiếng xấu nào. Nhưng khi đến phương Tây rồi thì họ không còn như vậy nữa. Họ nghe có người nói: “Người phương Tây đặc biệt cởi mở, đặc biệt tự do về chuyện nam nữ”. Thực ra, nói như vậy là không đúng sự thật, nhưng trong tư tưởng và quan niệm của mình, họ cho rằng đến phương Tây là được tự do rồi, không cần suy xét về thanh danh hay danh tiết gì nữa, cũng không cần suy xét về những câu nói trong văn hóa truyền thống phương Đông nữa. Họ cho rằng phụ nữ không cần đề cao đức hạnh của nữ giới nữa, đàn ông cũng không cần tuân giữ chế độ một vợ một chồng nữa, khi đến phương Tây rồi thì có thể buông thả trong chuyện nam nữ mà chẳng bị ai chê cười hay chỉ trích. Họ cho rằng văn hóa phương Tây chính là vậy, cho rằng đây là trào lưu xã hội và sẽ chẳng có ai phản đối. Một khi đã nghĩ như vậy thì họ sẽ không còn đi trên con đường tốt đẹp nữa, phải không? Những thứ họ thực sự yêu thích trong nhân tính mình sẽ bại lộ, và chân tướng nhân tính của họ sẽ bại lộ. Sau khi người phương Đông —nhất là người Trung Quốc—đến phương Tây, thì vì vợ chồng mình đang còn ở trong nước, bản thân một mình ở nước ngoài, nơi mảnh đất xa lạ và giữa những người xa lạ, vừa phải làm việc và sinh sống, còn phải xử lý một vài việc phức tạp, cuộc sống khá khó khăn, và cảm thấy một thân một mình thì quá cô đơn. Vì vậy giữa những người Hoa ở Hoa Kỳ thịnh hành một dạng “vợ chồng kháng chiến”, nghĩa là tìm một người phối ngẫu tạm thời và lập một gia đình tạm thời để sống chung, giúp đỡ và hỗ trợ nhau cùng đối phó với những khó khăn trong cuộc sống, đồng thời cũng thỏa mãn nhu cầu sinh lý của xác thịt. Bởi vì chỉ có một thân một mình tha hương nước ngoài thì cuộc sống khó khăn, nên rất nhiều người tìm một người khác giới để làm vợ chồng kháng chiến hòng thỏa mãn nhu cầu nhiều mặt của mình. Nghe nói có cặp vợ chồng kháng chiến sống chung với nhau nhiều năm rồi, sau đó vợ chồng của cả hai người cũng đến, thế là hai nhà còn trở thành bạn bè và qua lại với nhau. Đây là một cách làm đã trở nên thịnh hành giữa những người ngoại đạo để đối phó với những khó khăn trong cuộc sống. Các ngươi nói xem, giữa những người tin Đức Chúa Trời có chuyện như vậy không? (Thưa, một số người không tin cũng có thể làm như vậy.) Trong số những người tin Đức Chúa Trời, có nhiều người không mưu cầu lẽ thật, còn có một vài người rõ ràng là kẻ chẳng tin và chẳng có chút hứng thú nào với lẽ thật, một số người thậm chí còn không có lương tâm và lý trí. Khi những người này nghe được những điều tiêu cực này, thì trong sâu thẳm nội tâm họ thực sự không thấy phản cảm. Họ cảm thấy đây là chuyện chấp nhận được, thậm chí có người còn đắm chìm trong đó. Họ chẳng kinh tởm những chuyện này, còn cảm thấy: “Như vậy là quá bình thường. Người ngoại đạo đều làm như vậy, đây là trào lưu, đâu phải tội lỗi. Thứ nhất, làm vậy không phạm pháp, thứ hai, làm vậy đâu làm mất thuần phong mỹ tục, thứ ba, đây là nhu cầu sinh lý của con người. Làm vậy là hợp tình, hợp lý và hợp pháp. Có gì mà không đúng chứ?” Họ cho rằng làm vậy là bình thường. Người ngoại đạo thì chúng ta không nói, nhưng người tin Đức Chúa Trời mà còn có thể làm như vậy, thì là loại người gì chứ? Như vậy chẳng phải là nhân tính họ có vấn đề hay sao? (Thưa, phải, loại người này không có nhân tính.) Người không có nhân tính thì có thể làm ra những chuyện đáng kinh tởm như vậy. Người có nhân tính, thì khỏi nói đến việc làm ra những chuyện như vậy, ngay cả đối với dạng tư tưởng và quan điểm của trào lưu tà ác này, họ đều không tiếp nhận nổi, trong sâu thẳm nội tâm thì đều cảm thấy phản cảm và ghê tởm chúng. Bất kể là để chăm sóc lẫn nhau, hay là vì mục đích gì đi nữa, nếu xét từ góc độ lương tâm và lý trí của nhân tính, thì chuyện kết thành “vợ chồng kháng chiến” không phải là điều tích cực. Người tin Đức Chúa Trời mà còn không biết chuyện này có tích cực không, có phù hợp lẽ thật không, vậy người đó còn có lương tâm, còn có nhân tính nữa không? Có người nói: “Mặc dù tôi không hiểu chuyện này có phải là điều tích cực hay không, nhưng tôi tin Đức Chúa Trời, nên không thể làm chuyện này. Người ngoại đạo không tin Đức Chúa Trời hoặc không kính sợ Đức Chúa Trời, nên họ làm chuyện này mà chẳng có ý thức gì. Nhưng tôi tin Đức Chúa Trời thì không thể làm chuyện này”. Nếu họ nghĩ như vậy thì chứng tỏ họ có lương tâm và lý trí của con người. Mặc dù họ không biết chuyện này đúng hay sai, cũng không biết chuyện này có phải là điều tích cực không, hay Đức Chúa Trời có nói gì về chuyện này không, nhưng họ biết dùng lương tâm và lý trí cơ bản của nhân tính mà đánh giá. Ngay cả khi không thể biết rõ ràng đây là điều tích cực hay tiêu cực, thì họ cũng có thể thấy được rằng chuyện này trái với đạo đức, trái với nhân tính, và là chuyện không nên làm. Họ có sự phân định nhất định đối với loại chuyện này, cho nên khi gặp phải loại chuyện này thì họ sẽ cự tuyệt. Đối với những người không cự tuyệt, mà còn có thể tiếp nhận hoàn toàn, thì có thể nói rằng họ không phải là người, họ chẳng có nhân tính bình thường, chẳng có lương tâm và lý trí. Họ có thể tiếp nhận những chuyện tiêu cực này thì cho thấy lương tâm và lý trí của họ về căn bản chẳng có tác dụng gì. Họ không dùng tiêu chuẩn tối thiểu là lương tâm và lý trí mà phân định, chống lại hoặc cự tuyệt loại chuyện này, cho nên, quá rõ ràng là nhân tính của loại người này có vấn đề. Một số người nói: “Nhân tính của loại người này có vấn đề, vậy rốt cuộc họ thuộc về động vật hay là ma quỷ?” Bất kể họ thuộc về động vật hay ma quỷ, tóm lại, họ đều bị gọi chung là thứ phi nhân. Khi đến phương Tây, họ thấy các nước phương Tây phát đạt, giàu có, tự do, chế độ xã hội thì tiên tiến hơn các nước phương Đông, thế là họ cho rằng cái gì của phương Tây cũng đúng, cũng tốt hơn của phương Đông. Họ cho rằng người phương Đông khép kín, bảo thủ, không hiểu biết, còn người phương Tây thì cởi mở, tự do và hiểu biết, nhất là rất cởi mở về chuyện hôn nhân hoặc quan hệ nam nữ. Họ cho rằng nam nữ gặp nhau trên đường mà ôm nhau, hôn nhau, là chuyện rất bình thường. Nhưng trên thực tế, người phương Tây cũng có nguyên tắc trong chuyện ôm nhau khi gặp mặt, chứ không phải gặp ai cũng tùy tiện ôm. Nhất là những người trưởng thành không mấy khi làm chuyện như vậy, chủ yếu là những người trẻ tuổi thích làm vậy thôi. Ngược lại, những nơi mà người châu Á tụ tập, lại thường thấy có cảnh một nam một nữ làm đủ loại cử chỉ thân mật nơi công cộng, nhất là ở những khu vực đông người trên đường phố. Thậm chí còn có thể thấy một vài người tuổi đã cao mà lại làm những việc như vậy, khiến người khác nhìn vào thì thấy ghê tởm. Có lẽ có những người châu Á đến phương Tây du lịch và thấy cuộc sống văn hóa cùng phép xã giao của người phương Tây rồi thì nói rằng người phương Tây tự do, cởi mở và giải phóng tình dục. Nhiều người châu Á dựa vào những tuyên bố này mà chủ tâm tưởng tượng ra trong đầu đủ loại chuyện tà ác. Thực ra, khi đã thực sự đi sâu vào xã hội phương Tây hoặc đã tiếp xúc và qua lại sâu sắc với người phương Tây rồi, thì ngươi sẽ phát hiện ra có rất nhiều chuyện hoàn toàn khác với những gì mà người châu Á tưởng tượng và nói đến. Nhất là có những cộng đồng có bối cảnh tôn giáo hoặc ở nơi hẻo lánh hơn, thì đặc biệt bảo thủ, đặc biệt theo truyền thống, căn bản không giống những gì mà người châu Á rêu rao. Những tuyên bố rằng người phương Tây rất cởi mở với chuyện quan hệ nam nữ chỉ là thứ do người ta tưởng tượng ra, chứ không phải là sự thật. Nếu thực sự có người nghĩ như vậy, còn đem áp dụng lên chính mình cái gọi là cởi mở mà họ cho là thật, mặc ý buông thả dục vọng xác thịt, vậy thì đó là vấn đề của họ, chứ chẳng có liên quan gì đến trào lưu hoặc văn hóa, truyền thống của bất kỳ xã hội nào cả. Đâu phải văn hóa và truyền thống phương Tây dẫn họ đi nhầm đường, mà là chính bản thân họ có vấn đề. Có phải vậy không? (Thưa, phải.) Người phương Đông mà nhắc đến người phương Tây thì trước hết sẽ nói: “Người phương Tây tự do, cởi mở và giải phóng tình dục”. Ngụ ý của họ là khi ở phương Tây thì người ta có thể buông thả về tình dục, thậm chí là loạn luân. Dưới sự chi phối của dạng tư tưởng và quan điểm này, người phương Đông mà đến phương Tây là bắt đầu buông thả. Họ buông thả không phải vì họ thực sự nhìn thấy những hiện tượng đó nên bắt chước, mà vì bản tính họ đơn thuần là thích sự tà ác, chỉ là họ viện cái gọi là văn hóa phương Tây hoặc truyền thống phương Tây làm cái cớ mà buông thả xác thịt của mình. Trên thực tế, bởi vì loại người này không phải là nhân vật tích cực, không có đặc tính của nhân tính, bản tính bẩm sinh của họ là thích những điều tiêu cực và mọi điều sai trái, cho nên họ viện đủ loại cớ, mượn đủ loại danh nghĩa để làm những việc trái ngược, thậm chí là đối địch, với những điều tích cực. Thế mà họ còn cảm thấy mình có lý lắm, cho rằng người phương Tây hiện nay đều như vậy mà. Sự thật có phải vậy không? Họ chỉ toàn nói xằng nói bậy, tùy tiện gán ghép! Quá rõ ràng, khi loại người này nói: “Người phương Tây tự do, cởi mở và giải phóng tình dục” thì thực ra họ có ý đồ khác, chính là để đạt được mục đích buông thả tình dục của mình. Tại sao loại người này có thể “cây ngay không sợ chết đứng” mà chạy theo những điều tiêu cực này? Một mặt, họ không có nhận thức đúng đắn về những điều tích cực và tiêu cực, khi gặp phải một vài chuyện xa lạ thì họ không thể dùng tiêu chuẩn tối thiểu là lương tâm và lý trí mà đánh giá. Quá rõ ràng là loại người này chẳng có đặc tính của nhân tính. Nếu đối với một số điều rõ ràng tích cực mà họ còn không thể lĩnh hội được rằng đó là điều tích cực, cũng không thể tiếp nhận chúng như điều tích cực, thì chắc chắn loại người này không có lương tâm và lý trí của con người bình thường. Mặt khác, nếu một người nào đó không biết điều gì là tích cực, cũng không biết điều gì là tiêu cực, vậy thì quá rõ ràng là họ không biết phân định phải trái, đúng sai. Bởi vì bám giữ những tư tưởng và quan điểm sai lầm của mình, nên ngay cả khi làm ra một vài việc sai trái, một vài việc trái với lương tâm và lý trí, thì họ cũng chẳng có ý thức gì. Quá rõ ràng, loại người này chẳng phân biệt được phải trái, đúng sai. Bởi vì họ không có lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường, cũng không biết một vài chuyện trong cuộc sống và quá trình sinh tồn là đúng hay sai, không thể dùng lương tâm mà đánh giá và phán định chuyện nào đó là đúng hay sai, cho nên họ thường làm một vài việc sai trái và đi ngược lương tâm, lý trí. Sau khi làm vậy rồi, họ cũng chẳng có ý thức gì, còn cảm thấy bản thân có lý lắm và làm đúng lắm, cảm thấy mình là người chính trực. Vậy có phải là đổi trắng thay đen không? (Thưa, phải.)
Có người thấy con cái người khác đặc biệt nghịch ngợm thì nói: “Đứa bé này quá đỗi nghịch ngợm, vừa nhìn là đã biết chẳng phải là thứ tốt đẹp gì. Lớn lên, chắc chắn nó chẳng chuyên tâm vào việc chính đáng. Nó có thể có tiền đồ gì chứ?” Nhưng người ta mà nói về con của anh ta như vậy, thì anh ta nói: “Nghịch ngợm thì sao chứ? Con tôi nghịch ngợm là biểu hiện cho thấy nó có tiền đồ hứa hẹn. Lớn lên, nó có thể nên người xuất chúng, chưa biết chừng còn làm quan lớn đấy!” Con người khác nghịch ngợm thì anh ta bảo là lớn lên chẳng có tiền đồ, còn con mình nghịch ngợm thì anh ta bảo là lớn lên có thể nên người xuất chúng. Lời nào anh ta nói là đúng? (Thưa, chẳng lời nào đúng cả.) Vậy tại sao anh ta lại nói như vậy? Anh ta nói như vậy có phải xuất phát từ sự công bằng không? (Thưa, không.) Anh ta có thể nói ra những lời như vậy thì cho thấy anh ta chẳng có tri giác của lương tâm. Con người ta còn chưa trưởng thành, sao anh ta nhìn ra được nó lớn lên chẳng có tiền đồ chứ? Khi trưởng thành, người ta có tiền đồ hay không là do Đức Chúa Trời ấn định và do con đường người ta đi, chứ đâu phải do một câu nói của anh ta! Anh ta có thể nói ra những lời như vậy thì chứng tỏ anh ta chẳng có tri giác của lương tâm. Cũng nghịch ngợm như nhau, nhưng khi nói về con mình thì anh ta dùng cách nói tích cực, nói về con người khác thì dùng cách nói tiêu cực. Lời anh ta nói có công bằng không? (Thưa, không.) Vậy dạng người nào thì công bằng? (Thưa, người có lương tâm.) Người có lương tâm thì có đặc tính gì? Người có lương tâm thì có hai đặc tính, là chính trực và lương thiện. Là người chính trực thì tối thiểu phải có lòng dạ ngay thẳng khi nói năng và hành động, lời nói ra thì công bằng, khách quan và đúng sự thật, không thiên vị, không che đậy thiếu sót, và không phát xuất từ tình cảm. Con người ta nghịch ngợm thì anh ta bảo là lớn lên chẳng phải là thứ tốt lành gì, còn con mình nghịch ngợm thì anh ta bảo là lớn lên có tiền đồ hứa hẹn. Cùng biểu hiện nghịch ngợm như nhau, mà anh ta nói ra thành hai kiểu. Ngươi nói xem, người này có chính trực không? (Thưa, không chính trực.) Người chỉ toàn nói năng dựa theo tình cảm thì có lương tâm không? (Thưa, không có lương tâm.) Nội một điểm này thôi đã đủ để chứng tỏ anh ta không có lương tâm. Nói về con mình, thì anh ta toàn nói những lời dễ nghe, mang theo sự chúc phúc và cầu phúc, còn nói về con người khác, thì lời nói của anh ta kèm theo sự nguyền rủa. Như vậy chính là không lương thiện và không chính trực. Anh ta chẳng có lương tâm nên có thể nói ra những lời ác độc đến vậy. Loại người này nói năng chẳng công bằng, chỉ toàn nói lý lẽ méo mó. Điều này, một mặt cho thấy họ không chính trực, mặt khác cho thấy tâm địa của họ bất lương. Người có tâm địa bất lương, thì bất kể tình hình của người khác thế nào, họ cũng nói ra thành chuyện xấu. Lời họ nói có ý đồ, chỉ mong sao người khác chẳng được tốt đẹp. Trong lời họ nói có ác ý và sự nguyền rủa. Họ luôn nói kiểu như vậy mà chẳng bao giờ cảm thấy bất an trong lương tâm. Họ toàn nói kiểu như vậy về chuyện của người khác, và cũng đối đãi với người khác theo kiểu như vậy. Chẳng hạn, một người phụ nữ có chồng ngoại tình, cô ta sợ người khác bàn tán, nên bảo người ta rằng: “Chồng tôi có tình nhân là vì anh ấy quá ưu tú. Anh ấy có tướng mạo đẹp, lại có bản lĩnh. Trong xã hội tà ác hiện nay, phụ nữ mặt dày quá, họ cứ xáp vào anh ấy. Chỉ vì anh ấy quá ưu tú mà thôi. Điều này cũng chứng tỏ tôi không nhìn nhầm người. Con mắt tôi tinh tường quá mà!” Nhưng nếu chồng người khác ngoại tình, thì cô ta nói: “Nhìn là biết anh ta chẳng phải người đứng đắn. Tiền chẳng có, tướng mạo cũng chẳng ra gì, thế mà còn ra ngoài tìm tình nhân. Cô nào đi theo anh ta thì cũng đui mù rồi!” Cô ta còn khuyên người ta nhanh bỏ chồng đi mà tìm người mới. Người ta hỏi: “Chồng cô cũng ngoại tình, sao cô không tìm người mới đi?” Thì cô ta nói: “Chồng tôi đâu có giống chồng cô. Chồng cô là lưu manh, còn chồng tôi thì quá ưu tú, nên người ta cứ xáp vào. Chồng tôi là thân bất do kỷ nên mới như vậy, còn chồng cô thì chủ động đi tìm tình nhân”. Ngươi xem, chuyện gì liên quan đến mình, thì cô ta đều nói khác đi. Hễ chuyện gì liên quan đến cô ta thì đều là chuyện có thể cho qua, đều có tính đặc thù, và đều được nói theo hướng tốt. Nhưng chuyện liên quan đến người khác thì không như vậy, lúc nào cô ta cũng nói thành chuyện xấu. Nếu loại người này mà có cha mẹ không tin Đức Chúa Trời, thì họ sẽ nói thế nào? “Mặc dù cha mẹ tôi không tin Đức Chúa Trời, nhưng ở trên thế gian, họ cũng là người tốt. Họ chẳng đánh ai, chẳng chửi ai, hễ ai gặp khó khăn thì họ đều giúp đỡ. Họ nức tiếng gần xa là người cực kỳ tốt, cực kỳ thiện lành. Họ mà tin Đức Chúa Trời thì chắc chắn còn hơn cả chúng ta!” Thế nhưng, khi anh chị em nào đó có cha mẹ không tin Đức Chúa Trời, thì họ nói: “Cha mẹ của anh chị đều là ma quỷ”. Còn anh chị em nào có cha mẹ tin Đức Chúa Trời, thì họ nói: “Dù họ có tin Đức Chúa Trời thì cũng chỉ trên danh nghĩa, chứ chẳng phải là thứ tốt đẹp gì. Họ tin Đức Chúa Trời, tại sao không ủng hộ anh chị làm bổn phận vậy?” Chuyện gì liên quan đến họ thì họ đều nói khác đi. Họ nói chuyện thì chẳng bao giờ dựa trên sự thật khách quan, cũng chẳng công bằng. Nói về chuyện của mình thì họ dùng tiêu chuẩn này, nói về chuyện của người khác thì họ dùng tiêu chuẩn khác. Trong sâu thẳm nội tâm, họ chẳng có tiêu chuẩn công bằng để đánh giá các loại con người, sự việc và sự vật. Hễ chuyện gì liên quan đến bản thân họ thì đều là chuyện tốt, đều tích cực và đều có đủ loại lý do chính đáng. Còn hễ chuyện gì liên quan đến người khác, thì đều nên bị lên án, nguyền rủa và vứt bỏ, đều là thứ thuộc về ma quỷ và Sa-tan. Hễ ai là người nhà của họ, là bà con và bạn bè của họ, thì đều là người tốt, đều là người tin thật, đều là anh chị em. Nhưng đối với các anh chị em trong hội thánh, thì họ tùy ý xét đoán, nói người này là kẻ chẳng tin, người kia làm bổn phận không tận tụy, nên thanh trừ hết những người này. Anh chị em làm sai một chút hoặc có chút vấn đề, là họ lập tức nắm lấy và công bố cho cả thiên hạ biết, lại còn trừng mắt dạy dỗ và hạ thấp người ta. Nhưng lúc người thân của họ làm sai thì họ cứ qua quýt cho xong chuyện và dốc hết sức ngụy biện cho những người đó. Dạng người này có công bằng không? (Thưa, không có.) Họ chẳng có chút gì là công bằng. Khi đối đãi với anh chị em và những người khác, thì họ họ trợn trừng mắt mà “giữ vững nguyên tắc”, cảm thấy bản thân mình có thực tế lẽ thật rồi. Họ còn thường xuyên khoác lác trước mặt người khác rằng: “Anh xem, tôi giữ vững nguyên tắc biết bao, có lập trường biết bao, có thể thực hành lẽ thật biết bao”. Nhưng đối với chuyện trong nhà mình, chuyện của vợ chồng, con cái hay bà con của mình, thậm chí chuyện của con chó nhà mình, thì thái độ của họ đâu có như vậy. Chẳng hạn, họ nuôi một con chó nhỏ, hễ thấy người lạ là nó sủa, người quen đến nhà cũng bị nó cắn bừa, thì họ nói: “Anh xem, con chó này đúng là quản gia tốt và trung thành. Nó tuyệt đối trung thành với chủ nhân là tôi, mãi không thay đổi!” Nhưng nếu chó người khác mà cắn bừa khi thấy người quen, thì họ lại nói: “Con chó này mù rồi, chẳng xem là ai đến. Nó trông nhà mà chẳng có nguyên tắc.Cứ cắn bừa làm gì vậy chứ?” Đối đãi với con chó, mà họ cũng không công tâm được. Đây là loại người gì vậy? (Thưa, phải chẳng người.) Họ cho rằng bất kỳ việc gì họ làm cũng đúng, hợp lý và là điều tích cực, thậm chí còn cho rằng mình đang giữ vững nguyên tắc lẽ thật. Nhưng về bất kỳ chuyện bất công nào họ làm ra hay bất kỳ lý lẽ méo mó nào họ nói ra, thì họ chẳng bao giờ cho là sai, cũng chẳng bao giờ khắc phục chúng, ngươi có chỉ trích hay vạch trần, thì họ cũng chẳng tiếp nhận. Cuối cùng, kết quả thế nào? Kết quả là họ cứ ngoan cố giữ vững những tuyên bố của mình và những cái gọi là nguyên tắc của mình, thậm chí còn xem mình là hiện thân của chính nghĩa mà đánh giá hết thảy mọi chuyện. Trên thực tế, góc độ và lập trường họ đứng để đánh giá đúng sai lại hoàn toàn đối lập và trái ngược với các nguyên tắc lẽ thật, nhưng bản thân họ chẳng bao giờ nhận ra. Miệng họ toàn tuôn ra những luận điệu sai lầm và tà thuyết, thế mà họ còn ngoan cố bám giữ chúng, thậm chí còn muốn đối đầu với lẽ thật, muốn cãi với những người rõ phải trái và hiểu lẽ thật. Đây là loại người gì vậy? Là loại người bất chấp lý lẽ. Ngay cả khi trong mắt người khác không xem những việc họ làm và giữ vững là sai, nhưng xét từ đủ loại biểu hiện và sự bộc lộ của họ, thì họ tuyệt đối không có những đặc tính của nhân tính là chính trực, lương thiện và lý trí. Chỉ xét từ cách họ đối đãi với đủ loại con người, sự việc và sự vật trong cuộc sống thường nhật, thì ngay cả đối với một đứa trẻ hay một con chó, họ cũng đánh giá một cách méo mó. Chó họ nuôi có tệ đến đâu thì cũng là con chó tốt nhất thế giới, chó người khác nuôi có tốt đến đâu thì miệng họ cũng chẳng bao giờ nói ra được một chữ “tốt” dành cho nó. Họ tuyệt đối sẽ không đánh giá công bằng một người nào hay một chuyện gì, càng không đối đãi công bằng với một người nào hay một chuyện gì. Trong nhân tính của họ chỉ có tình cảm và sự thiên vị. Họ chỉ bảo vệ lợi ích của mình, bảo vệ bất kỳ con người, sự việc hay sự vật nào có liên quan đến mình, ngoài những việc này ra, họ cảm thấy trên đời chẳng có gì khác đáng để họ làm. Trong bất kỳ tập thể nào và trong bất kỳ chuyện gì, đặc tính của bản tính mà họ biểu hiện ra chính là bóp méo và xuyên tạc mọi con người, sự việc và sự vật khách quan. Khi đánh giá và đối đãi mọi con người, sự việc và sự vật khách quan, họ hoàn toàn dựa trên tư tưởng và quan điểm của mình, hoặc dựa trên chuyện những điều đó có lợi cho mình hay không.
Loại người không có đặc tính của nhân tính này thì không có sự chính trực, sự lương thiện và lý trí của nhân tính. Xét từ những biểu hiện này, có phải loại người này rất khó xử lý không? (Thưa, phải.) Khó xử lý, cũng rất khó chung sống. Ngươi sẽ chẳng bao giờ có thể khiến họ tiếp nhận những tư tưởng và quan điểm đúng đắn, bởi vì họ không có cơ quan để tiếp nhận những điều tích cực, nghĩa là họ không có điều kiện để tiếp nhận bất kỳ tư tưởng và quan điểm đúng đắn nào. Vì vậy, rất nhiều quan điểm đúng đắn và điều tích cực đều bị họ xuyên tạc và bóp méo. Sau khi bị bóp méo, chúng trở thành đủ loại tư tưởng, quan điểm và tuyên bố riêng biệt của loại người này. Ngay cả khi họ tin Đức Chúa Trời, bất kể đã đọc bao nhiêu lời Đức Chúa Trời, đã nghe bao nhiêu bài giảng và mối thông công, trong lòng họ từ đầu đến cuối luôn bám giữ những tư tưởng và quan điểm sai lầm của mình, chẳng bao giờ buông bỏ. Ngay cả khi Đức Chúa Trời cung ứng lẽ thật cho họ, họ cũng không thể nào đón nhận những tư tưởng và quan điểm đúng đắn từ Đức Chúa Trời, không thể nào dùng cách nói và phương thức đúng để đối đãi hay đánh giá một con người hay một sự việc. Dựa trên đặc tính nhân tính của họ, thì họ chỉ biết dùng những tư tưởng và quan điểm sai lầm riêng biệt của mình để đối đãi với đủ loại con người, sự việc và sự vật, hơn nữa còn một mực kiên trì làm vậy. Cho nên, ngươi có thể thấy được nơi loại người này, ngoài tâm tính kiêu ngạo và giả dối ra, họ còn có một phương diện tâm tính nổi bật rõ ràng, chính là đặc biệt cương ngạnh. Biểu hiện cụ thể chính là loại người này đặc biệt cứng đầu, ngu ngốc và ngoan cố, thậm chí là hủ bại. Khi tiếp xúc với loại người này và cùng họ bàn luận một vài vấn đề, hoặc khi cùng họ đối mặt với một vài sự việc trong lúc qua lại với nhau, ngươi sẽ thấy thái độ và tâm tính của họ khi đối mặt với các sự việc là đặc biệt cương ngạnh, cứng đầu, ngu ngốc và ngoan cố. Rõ ràng là một chuyện đúng đắn, một tư tưởng và quan điểm đúng đắn mà người bình thường rất dễ tiếp nhận, thế mà họ lại vô cùng khó khăn và gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp nhận nó. Chuyện này khiến ngươi dở khóc dở cười, cảm thấy người này đặc biệt phiền phức: “Sao một chuyện đơn giản như vậy lại trở thành vấn đề khó với họ? Họ có phải là người không vậy?” Khiến họ tiếp nhận một chuyện đúng đắn hay một quan điểm đúng đắn thì cũng vất vả như bắt sói bỏ ăn thịt mà chuyển sang ăn rau vậy. Làm vậy tương đương với bảo họ thay đổi thuộc tính của mình, khó đến vậy đấy. Cũng có thể trong một chuyện nhỏ, ngươi đã tốn biết bao thời gian giải thích, đã chật vật vô cùng mới miễn cưỡng thuyết phục được họ tiếp nhận; nhưng khi gặp một chuyện khác thì tâm tính cương ngạnh của họ lại biểu hiện ra, còn biểu hiện đặc biệt rõ ràng, vừa lệch lạc, vừa cứng đầu, vừa ngu ngốc và ngoan cố, vừa hủ bại. Khi đã tiếp xúc thêm và nhìn thấu hơn về loại người này rồi, ngươi sẽ phát hiện thực chất bên trong của mọi người không giống nhau. Xét về thực chất của loại người này, cho dù ngươi đã bỏ ra công sức cực lớn để giảng cho họ thông suốt và hiểu ra một vài chuyện nhỏ vặt vãnh, khó khăn lắm mới đạt được một vài kết quả. Nhưng khi liên quan đến vấn đề về quan điểm và lập trường, liên quan đến đại sự, thì ngươi không bao giờ có cách nào trao đổi với họ được. Đến lúc đó, ngươi mới biết rằng con người có thuộc tính, và thuộc tính của mọi người không giống nhau. Nếu hai người ở cùng nhau mà không thể trao đổi thuận lợi, không thể phối hợp hài hòa, không thể nhanh chóng hòa hợp và nhất trí về quan điểm khi bàn luận bất kỳ chuyện gì, vậy thì hai người này có sự khác biệt về thuộc tính. Bởi vì loại người không biết đúng sai là gì này không có năng lực phân định đúng sai trong nhân tính, nên đối với những tư tưởng, quan điểm, lời lẽ và chuyện quá rõ ràng là đúng đắn, thì họ chẳng bao giờ ý thức được tại sao chúng đúng, và đúng ở chỗ nào. Họ sẽ nói: “Dựa vào đâu mà lời anh nói là đúng? Dựa vào đâu mà lời tôi nói lại không đúng? Rốt cuộc anh đúng ở chỗ nào?” Có lúc, để chứng minh lời ngươi là đúng, thì ngươi còn phải đưa ra sự thật, đưa ra lý lẽ, nêu rất nhiều ví dụ và dùng rất nhiều ẩn dụ, chật vật vô cùng và tốn bao tâm tư, mới có thể nói rõ một chuyện cho họ. Khó khăn lắm ngươi mới nói rõ được chuyện này, vậy mà trong những chuyện xảy ra tiếp theo, ngươi vẫn phải tốn rất nhiều tâm tư và chật vật vô cùng mới có thể nói rõ cho họ. Nếu cứ luôn làm như vậy, lâu ngày, ngươi sẽ phát hiện ra rằng ngươi làm vậy rốt cuộc cũng chẳng thể thay đổi được thuộc tính của một con người, rằng ngươi đã làm quá nhiều việc vô ích. Ngay cả khi ngươi đã bỏ ra rất nhiều sức lực và gửi gắm hy vọng lớn nơi họ, thì kết quả thu được cũng rất nhỏ nhoi, bởi vì thuộc tính của người ta là điều mà không một ai có thể thay đổi. Nếu người ta còn không biết cái gì đúng và cái gì sai, thì chỉ có một cách có thể thay đổi thuộc tính của họ, đó là cho họ trở lại nguyên hình để đầu thai lại. Nếu may mắn thì họ sẽ đầu thai làm người, còn nếu không may thì họ lại đầu thai thành thứ không phải người, thế thì vẫn chẳng có hy vọng làm cho loại người này biết được đúng sai. Chuyện là như vậy.
Loại người không có đặc tính của nhân tính này còn có một đặc trưng nữa trong quá trình qua lại với người khác: Đó là họ có thể moi ra đủ loại khuyết điểm nơi bất kỳ người nào, nhưng nếu bản thân có cùng những khuyết điểm như vậy thì họ lại chẳng bao giờ thừa nhận đó là khuyết điểm. Họ không thấy được bất kỳ điểm mạnh hay ưu điểm nào của người khác, mà chỉ biết soi mói khuyết điểm và vạch trần điểm yếu của người khác, rồi lấy đó làm cớ mà nói rằng không ai có thể phối hợp hài hòa với họ, và chuyện không thể phối hợp hài hòa đều là do người khác sai, chứ họ chẳng sai gì, và người khác mới cần phải nhận biết bản thân. Đây là vấn đề gì? Trong việc làm người và xử sự, loại người này không bao giờ có thể đối đãi với người khác một cách lý tính, cũng không thể tiếp cận vấn đề của mình một cách lý tính, đúng đắn và công bằng. Các ngươi nói xem, thái độ của họ khi xử sự và đối đãi với người khác là đúng hay sai? (Thưa, là sai.) Nhưng họ có biết không? (Thưa, bản thân họ không biết.) Họ vĩnh viễn đứng trên đỉnh cao đạo đức để đánh giá và nhìn nhận người khác. Phương thức và góc độ họ dùng để nhìn nhận người khác chính là lấy cái mà họ gọi là “đúng sai” để phân định người khác. Họ thấy người khác làm gì cũng sai, làm gì cũng không bằng họ. Nếu xảy ra tranh chấp và không thể phối hợp hài hòa, thì họ cho rằng đó đều là vấn đề của người khác, đều do người khác gây ra, là người khác có tâm tính bại hoại, và người cần phải thay đổi, biến đổi chính là người khác. Họ nhìn người khác thì chỉ thấy toàn là khuyết điểm và vấn đề, chẳng có chút ưu điểm nào. Còn nhìn bản thân thì họ thấy toàn là ưu điểm, chẳng có chút khuyết điểm nào. Ngươi nói xem, loại người này có lý trí không? (Thưa, không có lý trí.) Người không có lý trí thì có mắt cũng có tác dụng gì không? (Thưa, không có.) Mọi điểm mạnh và ưu điểm của mọi loại người thì họ đều không nhìn thấy, trái lại, đối với những khuyết điểm nơi người khác, vốn thực ra chưa chắc đã là khuyết điểm, thì họ lại nắm chặt không buông và thổi phồng lên. Khi chưa phát sinh vấn đề thì thôi, một khi phát sinh vấn đề, họ liền nắm chặt không buông khuyết điểm của đối phương, nói rằng: “Anh có điểm gì hơn tôi chứ? Anh hơn tôi, sao còn xảy ra vấn đề này?” Sự không phục trong sâu thẳm nội tâm họ đều bộc phát ra, những quan điểm thực sự trong nội tâm họ cũng hoàn toàn phơi bày ra. Họ chẳng bao giờ dùng phương thức lý tính để nhìn nhận con người, sự việc và sự vật. Trong mắt họ, bất kỳ biểu hiện nào của người khác đều là vấn đề, đều là khuyết điểm, trong tư tưởng và quan điểm của họ, chúng đều là thứ không thể chấp nhận, đều sai, đều là điều tiêu cực, và đều là cái cớ để họ nắm lấy mà xét đoán. Loại người này rất khó xử lý. Họ không có lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường, cho nên trong sâu thẳm nội tâm của họ, cái gọi là “đúng sai” chỉ có nghĩa là cái gì họ cho là đúng thì là đúng và cái gì họ cho là sai thì là sai. Khi đánh giá chuyện đúng sai của những con người, sự việc và sự vật, họ dựa vào sự đánh giá và sở thích của bản thân, cũng dựa vào lợi ích của bản thân, họ sẽ không nhìn nhận con người và sự việc một cách công bằng. Hễ điều gì họ không thích, điều gì không hợp với họ, không có lợi cho họ hoặc không vừa mắt họ, thì đều bị họ đánh đồng là sai, là xấu, thậm chí họ còn không cho phép bàn cãi gì hết. Loại người này không những khó xử lý mà còn đáng sợ. Nếu bên cạnh ngươi có dạng người như vậy, một khi những tư tưởng và quan điểm của họ đều biểu lộ ra, thì phẩm chất nhân tính của họ cũng hoàn toàn bị phơi bày. Khi đó, ngươi có thể nhìn thấy rốt cuộc sâu thẳm linh hồn họ có thứ gì, rốt cuộc họ yêu thích điều gì, rốt cuộc nhu cầu của họ là gì, và rốt cuộc họ mưu cầu điều gì. Ngươi mà nhìn thấy những thứ đó rồi thì có thể khiến ngươi ghê tởm họ cả đời. Đương nhiên, khi mọi vấn đề này của họ đều bị phơi bày, thì ngươi sẽ có câu trả lời về những biểu hiện của họ như sự lĩnh hội lệch lạc, và đủ loại biểu hiện cố chấp, ngu ngốc một cách ngoan cố, thiên lệch, v.v. bộc lộ ra do tâm tính cương ngạnh của họ. Câu trả lời này là gì? Chính là loại người này không có nhân tính bình thường, cũng có nghĩa là họ không có lương tâm và lý trí của con người, họ là thứ phi nhân. Nếu có một chút lương tâm và lý trí, họ sẽ không nắm lấy những lý lẽ méo mó mà nói ra như thể chúng đúng. Khi tin Đức Chúa Trời, họ đã nghe nhiều bài giảng đến vậy, lẽ ra ít nhiều họ cũng hiểu được một chút lẽ thật và quan điểm nhìn nhận sự việc của họ cũng đã thay đổi phần nào. Vậy tại sao đến bây giờ họ vẫn dùng quan điểm của người ngoại đạo để nhìn nhận sự việc, hơn nữa còn xem những quan điểm sai lầm và lý lẽ méo mó là đúng và là lẽ thật, thậm chí còn lên án lẽ thật, những điều tích cực và những điều đúng đắn như là điều tiêu cực? Khi những tư tưởng và quan điểm sai lầm của họ bị phơi bày, thì ngươi sẽ có được câu trả lời. Chẳng trách trong cuộc sống họ có thể nói ra nhiều lời đổi trắng thay đen, bóp méo sự thật như vậy, bởi vì họ hoàn toàn không tiếp nhận lẽ thật. Họ có thuộc tính chán ghét lẽ thật, nên việc họ có những sự bộc lộ như vậy là chuyện đương nhiên. Chuyện này không phải do sự giáo dục của cha mẹ, cũng không phải do sự ảnh hưởng của môi trường, càng không phải do sự giáo dục của xã hội mà ra. Chuyện này do đặc tính nhân tính của họ quyết định. Họ chính là người chán ghét lẽ thật, thuộc tính của họ là vậy. Người ta yêu thích điều gì, bộc lộ dạng nhân tính như thế nào, trong cuộc sống có những sự bộc lộ tự nhiên nào và trạng thái thường ngày ra sao, tất cả đều do thuộc tính của người ta quyết định. Một người có thuộc tính như thế nào là chuyện không ai có thể thay đổi. Giống như con rắn vậy, bởi vì thuộc tính của nó là vặn vẹo, nên nó vĩnh viễn không thể đi đường thẳng. Cũng giống như con cua, nó vốn dĩ đi ngang, cho dù ngươi đặt nó vào không gian chật hẹp, nó vẫn đi ngang. Đây chính là thuộc tính của chúng, và thuộc tính là điều không thay đổi được. Nếu một người không rõ phải trái, không biết đúng sai, thì có thể nói đặc trưng này chính là thuộc tính của họ. Bởi vì có thuộc tính này, nên trong cuộc sống, họ sẽ tự nhiên bộc lộ rất nhiều điều liên quan đến nó. Đây là chuyện rất bình thường.
Có người chẳng biết đúng sai trong phương diện tình cảm hoặc xử sự. Cũng như vậy, họ chẳng biết đúng sai trong những chuyện về tác phong nam nữ. Chẳng hạn như, họ chẳng biết khi tiếp xúc và qua lại với người khác giới thì cần giữ khoảng cách thế nào, cần tránh né những chủ đề nào, câu nói nào và cách làm nào, cần chú ý những chi tiết nào trong lời nói và cử chỉ thường ngày. Chuyện này khiến người ta khó mà hiểu nổi. Chẳng phải người bình thường đều biết rằng nam nữ qua lại với nhau thì phải có ranh giới sao? (Thưa, phải.) Chuyện này có cần người khác dạy không? Lúc còn nhỏ, thì có lẽ người ta cần cha mẹ dạy cho, nhưng khi dần trưởng thành và hiểu chuyện rồi thì tự nhiên người ta sẽ biết về những chuyện này, chẳng cần gia đình hay xã hội dạy cho. Đây là thứ bẩm tính, phải vậy không? Biết phải có ranh giới giữa nam và nữ là một đặc tính của nhân tính. Trong đặc tính của nhân tính mà có lương tâm và lý trí, thì chắc chắn người ta sẽ biết liêm sỉ là gì. Nếu biết liêm sỉ thì ngươi sẽ biết cách đối đãi với người khác giới. Nếu ngươi không biết, lại còn hành động thiếu liêm sỉ, không biết làm thế nào là đúng, làm thế nào là sai, làm thế nào là thích hợp và có lý tính, làm thế nào là quá đáng và vượt quá giới hạn, thì nhân tính của ngươi có vấn đề rồi, bởi vì đây là điều mà một người bình thường ít ra phải biết. Nếu biết những chuyện này rồi mà còn có thể giữ vững chúng, thì nghĩa là người đó có lương tâm và lý trí của nhân tính. Nếu chẳng biết những chuyện này, còn cần người khác nhắc nhở và ràng buộc, thì loại người này có vấn đề lớn rồi. Nhất là có một loại người, khi ở giữa tập thể thì chẳng ngồi cùng với những người cùng giới, mà lại chuyên môn ngồi kế bên những người khác giới, còn phải ngồi đặc biệt gần, chẳng tránh né chuyện này. Khi bị người khác nhắc nhở, họ còn cảm thấy kỳ lạ: “Ngồi gần nhau thì sao chứ? Ở giữa chốn đông người thế này, chúng tôi có thể làm ra việc gì chứ? Tôi là người lớn rồi, cần chị trông chừng à? Chị cứ săm soi tôi làm gì vậy?” Họ còn nói: “Ở giữa chốn đông người thế này, chúng tôi có thể làm ra việc gì chứ?”, lời này mà họ cũng nói được, thì họ có liêm sỉ không? (Thưa, không có liêm sỉ.) Phải làm ra việc gì đó mới thành vấn đề sao? Vậy không làm gì thì có thể không cần giữ ranh giới giữa nam và nữ sao? Nam nữ chẳng có khác biệt sao? (Thưa, có.) Có khác biệt thì nên có ranh giới, chính liêm sỉ trong lý tính thúc đẩy việc giữ gìn ranh giới này. Nếu có liêm sỉ, thì khi tiếp xúc với người khác giới, ngươi sẽ tự nhiên giữ ranh giới, không cần sự giám sát của người khác, cũng không cần sự ràng buộc của hoàn cảnh, tự ngươi có thể làm được việc đó. Nếu ngay cả chút liêm sỉ này mà ngươi cũng không có, còn cần người khác trông chừng và nhắc nhở, thì loại người như ngươi gặp nguy hiểm lớn rồi. Có những người đặc biệt tùy tiện trong chuyện nam nữ, lại còn thường xuyên liếc mắt đưa tình và táy máy tay chân với người khác giới. Nhất là có người đặc biệt thích phô trương trước người khác giới, càng đông người khác giới thì họ càng điên cuồng, càng hưng phấn, càng hăng hái phô trương. Người khác nhìn vào đều cảm thấy như vậy chẳng thích hợp và không đàng hoàng, nhưng họ lại chẳng thấy có vấn đề gì, cũng chẳng thấy bị lương tâm khiển trách. Ngược lại, họ còn cảm thấy: “Như vậy là rất bình thường mà. Giữa nam và nữ, chẳng phải nên như vậy hay sao? Chẳng phải phụ nữ sinh ra vì đàn ông sao? Chẳng phải đàn ông sinh ra vì phụ nữ sao? Ở với nhau thì chơi đùa một chút, có sao đâu chứ? Như vậy chẳng phải là chuyện khá vui sướng à? Chứ như mấy người, cứ nghiêm túc đến vậy thì sống mệt mỏi lắm! Chẳng nghe người ta bảo à: ‘Nam nữ phối hợp thì làm mãi chẳng mệt!’”. Ngươi xem, tư tưởng và quan điểm nào, họ cũng tiếp nhận được, nhất là những tư tưởng và quan điểm sai lầm đó thì họ tiếp nhận hoàn toàn. Nhưng những câu nói tích cực thì họ chẳng tiếp nhận chút nào, lại còn chống đối, phản bác và cự tuyệt. Ngươi mà nhắc nhở thì họ sẽ thấy phản cảm, trong lòng sẽ ghét ngươi, sẽ thù hằn ngươi. Ai nêu ý kiến gì, thì họ đều không tiếp nhận, cứ nhất quyết làm vậy thôi. Có người vì nhất thời không kìm nổi hoặc sơ ý, mà thỉnh thoảng buông thả một chút. Không cần người khác nhắc nhở mà nội tâm của họ đã thấy bất an, cảm thấy sau này phải để ý. Đây là biểu hiện mà người có lương tâm và lý trí nên có. Còn loại người kia thì đã quá đáng và vượt quá giới hạn lắm rồi, họ đã buông thả dục vọng xác thịt rồi. Rất nhiều người nhìn vào đều chịu không nổi. Họ mà cứ tiếp tục như vậy thì sẽ đem lại nguy hiểm cho bản thân, và sẽ bị Đức Chúa Trời ghét bỏ và đào thải. Thế mà họ lại chẳng quan tâm: “Buông thả dục vọng thì có thể có nguy hiểm gì chứ?” Họ quả thực chẳng có chút tri giác nào. Có những cô gái 20 tuổi tùy tiện tiếp xúc với người khác giới và qua đêm ở chỗ người ta. Chuyện này loan ra thì sẽ hủy hoại thanh danh của mình, nhưng các cô đó lại chẳng quan tâm. Dạng người này có liêm sỉ không? (Thưa, không có.) Một chút liêm sỉ cũng không có. Bất kể là nam hay nữ, nếu ai đó trong lòng không có ranh giới tối thiểu về chuyện nam nữ, còn không biết hai chữ “liêm sỉ” là gì, thì điều đó hoàn toàn chứng tỏ rằng họ không có đặc tính của nhân tính. Nếu một người không có đặc tính của nhân tính, thỉnh thoảng lại phạm sai lầm trong chuyện nam nữ, hoặc thỉnh thoảng lại làm ra một chuyện quá đáng, thì họ sẽ hối hận cả đời. Hễ nghĩ đến chuyện đó là họ đỏ bừng cả mặt, trong lòng có cảm giác đau nhói âm ỉ, không thoải mái, không tự tại, không muốn nhắc đến chuyện đó nữa và hy vọng về sau sẽ không bao giờ xảy ra chuyện như vậy nữa, nó là một vết nhơ đời đời của họ rồi. Người bình thường thì có liêm sỉ và ranh giới tối thiểu trong chuyện nam nữ, sẽ kiểm soát và kiềm chế bản thân, không làm ra việc như vậy. Ngay cả khi nhất thời mất kiểm soát và phạm phải sai lầm về chuyện nam nữ, thì họ cũng sẽ cảm thấy hối hận. Họ sẽ không tái phạm, ngay cả lúc hoàn cảnh cho phép, họ cũng không buông thả bản thân và để mặc bản thân sa đọa, thay vào đó, họ sẽ kiềm chế. Làm thế nào để kiềm chế được? Chính sự ràng buộc của lương tâm và lý trí ngươi đem lại cho ngươi kết quả tốt này. Lương tâm và lý trí sẽ ràng buộc ngươi, quản chế ngươi, sẽ cho ngươi một ranh giới tối thiểu, và ranh giới tối thiểu này cũng là tiêu chuẩn thấp nhất của ngươi đối với loại chuyện này, nghĩa là nó làm cho ngươi có thể đạt đến việc không vượt quá ranh giới tối thiểu này và không làm loại chuyện này. Một khi vì yếu đuối hoặc vì nguyên nhân đặc biệt nào đó, mà ngươi nhất thời không vượt qua được những thôi thúc trong lòng nên đã phạm phải sai lầm trong chuyện nam nữ, thì trong sâu thẳm nội tâm, ngươi sẽ cảm thấy ghê tởm, kinh tởm, thậm chí là hối hận suốt đời, và cả đời này chẳng bao giờ tái phạm. Tuy nhiên, người không có nhân tính mà làm ra chuyện như vậy thì cũng chẳng buồn để tâm. Họ còn đi rêu rao khắp nơi, thậm chí còn đem ra phân cao thấp với người khác, cho rằng đó là bản lĩnh và năng lực, rằng như vậy gọi là có mị lực và biết chiếm lợi - có lợi như vậy không chiếm thì uổng quá. Nếu có cơ hội thì dạng người này còn có thể làm việc như vậy nữa không? Câu trả lời chắc chắn là có, họ tuyệt đối có thể làm vậy. Họ làm vậy mà chẳng bao giờ thấy khó chịu, lại còn đem ra khoe khoang. Như vậy có đáng ghê tởm không? (Thưa, đáng ghê tởm.) Họ làm vậy mà không thấy ghê tởm, là đã khiến người ta thất vọng lắm rồi, thế mà họ còn khoe khoang, vậy càng khiến người ta ghê tởm. Người khác nhìn vào việc họ làm đều cảm thấy khinh bỉ, thế mà họ lại chẳng có chút cảm giác hổ thẹn nào, người như họ chẳng xứng được gọi là người. Họ thường xuyên làm những chuyện đáng hổ thẹn này, mà chẳng cảm thấy hổ thẹn, cũng chẳng hối hận hay khó chịu, và nếu sau này có cơ hội hoặc điều kiện thì họ vẫn có thể làm tiếp, đây chính là biểu hiện của vô liêm sỉ. Vậy ngươi nói xem, loại người này mà không thực hành lẽ thật thì có thấy khó chịu, có thấy bị quở trách không? (Thưa, không.) Đúng vậy, họ sẽ không thấy khó chịu hay bị quở trách. Tại sao lại vậy? (Thưa, bởi vì họ không có lương tâm và lý trí.) Khi làm những việc đáng hổ thẹn, thậm chí là những việc mà người ngoại đạo còn thấy hổ thẹn, thì người không có lương tâm và lý trí lại chẳng cảm thấy hổ thẹn, cũng chẳng thấy khó chịu. Khi làm việc trái với lẽ thật, họ càng không cảm thấy khó chịu, phải vậy không? (Thưa, phải.) Đối với người ngoại đạo, thì không thực hành lẽ thật và không mưu cầu lẽ thật cũng là chuyện rất bình thường, không có gì đáng mất mặt, cũng không bị xem là việc trái với đạo đức nhân tính gì, bởi vì đa số mọi người đều như vậy. Do đó, họ không có cảm giác gì về việc này. Khi người bình thường bị tỉa sửa vì không thực hành lẽ thật và làm trái nguyên tắc, thì bởi vì có lương tâm và lý trí, nên nội tâm của họ sẽ thấy bị quở trách và lương tâm của họ sẽ bất an. Nhưng người không có lương tâm và lý trí mà làm những việc vô liêm sỉ, những việc khiến người ta phỉ nhổ và ghê tởm, thì chẳng hề thấy khó chịu hay bất an. Chẳng phải trong mắt họ, không thực hành lẽ thật là chuyện quá đỗi bình thường sao? Họ chẳng có chút tri giác gì, cho nên loại người này vô phương cứu vãn.
Các ngươi nói xem, những người có thể nhìn thấu phải trái đúng sai thì có nhiều không? Các ngươi hãy nhìn những người xung quanh mình, bao gồm cả người nhà, bạn bè và đồng nghiệp, rồi sau đó hãy nhìn các anh chị em xem. Trong số những người này, những người có thể phân định và nhìn thấu phải trái, đúng sai thì nhiều hay ít? (Thưa, rất ít.) Người có thể biết đúng sai thì không nhiều. Nói cách khác, trên thế gian này, không nhiều người có nhân tính chính trực và lương thiện, không nhiều người nói năng và hành động một cách công bằng và khách quan, không làm xằng làm bậy, cũng không nhiều người nói năng thấu tình đạt lý và không nói lý lẽ méo mó. Nhất là trong số những người ngoại đạo thì có quá ít những người như vậy. Khi tiếp xúc với bất kỳ người ngoại đạo nào, chỉ cần nghe họ nói chuyện thì ngươi biết họ là thứ gì rồi. Lời người ngoại đạo nói có quá nhiều điểm không đúng và lẫn tạp quá nhiều. Đa số họ nói năng đều không công tâm, không khách quan, đều nói năng theo tình cảm và để bảo vệ lợi ích bản thân. Bất kể đã nói ra lời sai trái như thế nào hoặc làm ra việc sai trái như thế nào, thì trong sâu thẳm nội tâm họ đều chẳng có tri giác gì. Nếu một người tin Đức Chúa Trời mà giống hệt người ngoại đạo, khi nói năng và hành động đều chẳng biết đúng sai, hơn nữa cho dù những lời họ nói và quan điểm họ giữ đều sai, họ vẫn một mực giữ chúng, còn xem những quan điểm sai lầm là điều tích cực và lẽ thật, còn muốn dùng dạng quan điểm này để thay thế lẽ thật và lời Đức Chúa Trời, vậy dạng người này có hy vọng được cứu rỗi không? (Thưa, không có.) Có người tin Đức Chúa Trời được hai mươi, ba mươi năm, thậm chí đã tin cả đời rồi, nhưng lại chẳng bao giờ biết điều tích cực là gì và điều tiêu cực là gì, chẳng rõ điều gì là đúng và điều gì là sai. Điều gì có lợi cho bản thân họ là họ thích và bảo vệ, còn điều gì không có lợi cho họ thì họ nói là không tốt, không đúng, và cự tuyệt nó. Họ sống theo dạng triết lý xử thế và thái độ xử thế này đến tận bây giờ, thế mà còn nói mình muốn được cứu rỗi. Vậy có nực cười không? (Thưa, có.) Họ còn nói mình là người đi theo Đức Chúa Trời và làm chứng cho Đức Chúa Trời. Họ lấy cái gì để làm chứng cho Đức Chúa Trời chứ? Ngay cả chuyện đúng sai mà họ còn không biết, thế mà nói muốn làm chứng cho Đức Chúa Trời, vậy chẳng phải là nói xằng nói bậy sao? Đức Chúa Trời có dùng dạng người hồ đồ đó làm chứng cho Ngài không? (Thưa, không dùng.) Dạng người này mà làm chứng cho Đức Chúa Trời thì chính là làm ô danh Ngài. Họ chẳng bao giờ cảm thấy bất kỳ việc gì Đức Chúa Trời làm là đúng. Khi đánh giá bằng tư tưởng và quan điểm của họ, thì rất nhiều việc Đức Chúa Trời làm chẳng phù hợp với tư tưởng và quan điểm của họ, cũng chẳng phù hợp với quan niệm của họ, đương nhiên cũng chẳng phù hợp với lợi ích xác thịt của họ. Thường thì những lời Đức Chúa Trời phán hoặc công tác Đức Chúa Trời làm đều trái với ý nguyện của họ, dục vọng và dã tâm cá nhân của họ, cùng lợi ích mọi mặt của họ. Cho nên, có những người tin Đức Chúa Trời mười năm, hai mươi năm rồi, mà rất khó để họ nói ra một lời từ đáy lòng rằng mọi việc Đức Chúa Trời làm đều đúng và chẳng hề sai. Có thể nói, trong lòng họ tồn tại một thứ ẩn giấu. Tin Đức Chúa Trời bấy nhiêu năm đó, họ đều có sự thể nghiệm và lĩnh hội trực tiếp: Họ đều cảm thấy dục vọng của bản thân không được thỏa mãn, muốn làm quan cũng không được, muốn được phúc cũng không được, như thể nhà Đức Chúa Trời đối đãi bất công với họ vậy. Trong lòng họ ấm ức và cảm thấy bị xử tệ, muốn nói ra mà không nói được, nói ra thì sợ đắc tội với Đức Chúa Trời, sợ bị người khác nắm thóp, còn sợ không giữ được hình tượng tốt đẹp của mình trong lòng người khác. Cho nên, họ giấu rất nhiều chuyện trong lòng mà chẳng nói ra. Ngoài miệng họ không nói ra không đồng nghĩa với trong lòng họ không có ý nghĩ hay thứ gì đó. Cái gọi là “thứ gì đó” này là gì? Chúng không phải là sự lĩnh hội và nhận thức tích cực của họ về Đức Chúa Trời và công tác của Ngài, mà là sự không hiểu, không phục và phẫn uất đối với Đức Chúa Trời, cùng những cái mà họ cho là nỗi ấm ức mình phải chịu, tích tụ trong bấy nhiêu năm tin Đức Chúa Trời. Nhưng vì Đấng họ tin là Đức Chúa Trời, nên họ không thể nói ra. Tại sao trong lòng họ lại có nhiều điều không thể nói ra như vậy? Trong chuyện này cũng có nguyên nhân. Xét từ một điểm này thôi là đủ để cho thấy họ tin Đức Chúa Trời nhiều năm mà chẳng thực sự hiểu lẽ thật. Họ tin Đức Chúa Trời mà không đặt nặng việc mưu cầu lẽ thật. Bất kể gặp chuyện gì, họ cũng chẳng nhìn nhận sự việc theo lời Đức Chúa Trời, cũng chẳng tìm kiếm lẽ thật để tìm cho ra con đường thực hành. Họ chẳng bao giờ tiếp nhận lời Đức Chúa Trời như là lẽ thật và sự sống. Họ không trân quý, không chú trọng vào lẽ thật, cũng chẳng nghiêm túc đối với cách thực hành lẽ thật. Tin Đức Chúa Trời bấy nhiêu năm, họ luôn mãi đứng ở phía đối lập với Đức Chúa Trời mà nghiên cứu, soi mói và chất vấn lời Đức Chúa Trời, thậm chí còn chống đối lời Đức Chúa Trời, hoặc là dùng những cái gọi là quan điểm đúng của bản thân mà đánh giá, xét đoán lời Đức Chúa Trời phán và công tác Đức Chúa Trời làm. Do đó, họ tin Đức Chúa Trời bấy nhiêu năm mà cuối cùng lại nói một câu từ đáy lòng: “Tin Đức Chúa Trời, tôi đã đạt được gì chứ?” Ngụ ý của câu này chính là họ tin Đức Chúa Trời mà chẳng đạt được gì. Trong lòng họ cho rằng bấy nhiêu năm qua làm bổn phận trong nhà Đức Chúa Trời, họ đã chịu khổ quá nhiều và trả giá không ít, nhưng dục vọng được phúc và lòng mưu cầu danh lợi của họ lại chẳng được thỏa mãn. Thậm chí có người còn cho rằng Đức Chúa Trời chẳng trả lại công bằng cho nỗi oan ức mà bản thân phải chịu, nên trong lòng họ cảm thấy không phục, phẫn uất và tràn đầy oan ức. Để được ban phúc và vì đích đến của mình, họ bất đắc dĩ phải chịu thiệt thòi mà làm chút bổn phận, chút công tác trong nhà Đức Chúa Trời, nhưng cuối cùng hy vọng của họ tiêu tan, và họ chẳng đạt được gì. Có loại người như vậy không? Ít nhất cũng có một bộ phận người như vậy. Họ tin Đức Chúa Trời bấy nhiêu năm mà chẳng đạt được gì, đó là bởi vấn đề của chính bản thân họ. Họ chẳng có năng lực để lĩnh hội lẽ thật và hiểu lẽ thật, lại còn làm bổn phận và đi theo Đức Chúa Trời với ý định được phúc. Mặc dù họ có chút thật lòng dâng mình, cũng đã trả giá rất lớn và chịu khổ rất nhiều, nhưng họ chẳng bao giờ thấy hứng thú với những lời Đức Chúa Trời phán và lẽ thật Đức Chúa Trời bày tỏ, cũng chẳng bao giờ tiếp nhận vào lòng, và họ không đặt nặng việc thực hành lẽ thật. Cho nên họ không bao giờ biết mình có thực tế lẽ thật hay không. Họ cho rằng: “Chúng tôi cũng có thể thông công về lẽ thật, cũng hiểu một vài lẽ thật. Sao có thể nói chúng tôi không có thực tế lẽ thật chứ?” Nhưng họ chẳng viết ra được một bài lời chứng trải nghiệm chân thực nào, vậy thì thực tế lẽ thật của họ nằm ở đâu chứ? Mọi hành động và việc làm của họ đều giống hệt với người ngoại đạo, chỉ là có chút thay đổi về hành vi so với người ngoại đạo thôi. Về phương thức và phương pháp làm người của họ, tư tưởng và quan điểm của họ đối với vạn sự vạn vật, nhất là đối với những điều tích cực và tiêu cực, chuyện đúng và sai, thì họ chẳng bao giờ dựa trên lời Đức Chúa Trời hoặc lẽ thật mà nhìn nhận mọi chuyện. Thay vào đó, họ lấy tư tưởng và quan điểm của mình mà nhìn nhận hết thảy mọi sự. Họ cho rằng cái gì họ thích thì chính là điều tích cực, và cái gì họ căm ghét thì chính là điều tiêu cực. Họ chẳng bao giờ dựa trên lời Đức Chúa Trời mà nhìn nhận con người và sự việc. Họ chẳng bao giờ biết tìm kiếm lẽ thật hoặc tiếp nhận lẽ thật nơi những con người, sự việc hay sự vật mình gặp, họ cứ một mực theo suy nghĩ hão huyền của mình mà hành động, sống và làm bổn phận theo ý muốn, ý định và ý thích của bản thân. Họ cho rằng bản thân có thể vứt bỏ và dâng mình, có thể chịu khổ và trả giá là họ đã có cống hiến rất lớn cho Đức Chúa Trời. Họ cho rằng mình làm như vậy là đang tin Đức Chúa Trời và mưu cầu lẽ thật. Họ dùng phương thức của riêng mình mà tin đức chúa trời tưởng tượng trong lòng mình, cũng dùng phương thức của riêng mình mà mưu cầu lẽ thật. Khi bị tỉa sửa vì luôn dựa theo ý riêng mà tùy tiện làm càn, hoặc khi không được trọng dụng trong nhà Đức Chúa Trời, thì họ cảm thấy nản lòng và thất vọng. Cuối cùng họ tổng kết lại một câu: “Tin Đức Chúa Trời bấy nhiêu năm, tôi đã đạt được gì chứ?” Quả thực là họ không đạt được gì. Nguyên nhân khiến họ không đạt được lẽ thật là vì họ không mưu cầu lẽ thật. Chuyện này đâu trách Đức Chúa Trời được. Bởi vì Đức Chúa Trời đâu thiên vị người ta, lẽ thật đâu thiên vị người ta. Ngươi không đạt được lẽ thật, đâu phải vì Đức Chúa Trời không cho ngươi cơ hội, hay không cho ngươi nghe được lời Ngài. Thay vào đó, nguyên nhân là vì ngươi nghe được lời Đức Chúa Trời rồi mà không nghiền ngẫm, không suy nghĩ, không thực hành, không trải nghiệm. Vì ngươi không yêu thích lẽ thật nên mới không tiếp nhận lẽ thật. Đức Chúa Trời đâu có bịt mắt hay khóa lòng ngươi. Thay vào đó, chính những ý thích và sự phi lý của ngươi đã cản trở lòng ngươi, khiến ngươi không thể tiếp nhận lẽ thật. Ngươi không đạt được lẽ thật, đâu phải vì Đức Chúa Trời không cung ứng cho ngươi, mà vì Ngươi chẳng bao giờ thích đọc lời Đức Chúa Trời, trong lòng thì không tiếp nhận lời Đức Chúa Trời hay lẽ thật. Ngươi xem những niềm tin và quan điểm của mình là lẽ thật mà mưu cầu và thuận phục. Ngươi muốn khiến người ta thờ phượng ngươi như Đức Chúa Trời hay sao? Đối với ngươi, lời và công tác của Đức Chúa Trời chỉ là một dạng hình thức và công thức, ngươi căn bản chẳng mưu cầu lẽ thật và sự sống. Cho nên, ngươi tin Đức Chúa Trời đến cuối cùng thì sẽ chỉ có một kết quả mà thôi: thật sự chẳng đạt được gì đâu. Tại sao ngươi không đạt được lẽ thật? Đâu phải do Đức Chúa Trời không gia ân cho ngươi, mà chuyện này là do con đường ngươi đi. Đức Chúa Trời đã cho ngươi rất nhiều cơ hội, đã kiên nhẫn tận tình khuyên giải và giúp đỡ ngươi, nhưng ngươi chẳng để tâm. Khi bị tỉa sửa, ngươi cũng chẳng tiếp nhận. Ngươi luôn mưu cầu được phúc hoặc mưu cầu danh tiếng và địa vị mãi không thôi. Cuối cùng, ngươi không đạt được lẽ thật, chuyện này hoàn toàn do con đường ngươi đi gây ra. Ngươi đã không đi con đường mưu cầu lẽ thật, chuyện này đâu có liên quan gì đến Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không thiên vị ai, lẽ thật không thiên vị ai. Bất kể ngươi có thuộc tính gì, chỉ cần ngươi là con người, thì ngay cả khi năng lực lĩnh hội lẽ thật của ngươi kém hơn người bình thường một chút, nhưng nếu ngươi có thể để tâm nghe lời Đức Chúa Trời, tiếp nhận lời Đức Chúa Trời và thực hành lời Đức Chúa Trời, thì cho dù chỉ hiểu được một vài đạo lý và tuân thủ một vài quy định, ngươi vẫn có thể có được chút thu hoạch. Đây là việc mà người bình thường có thể làm được, vậy tại sao ngươi không làm được? Cũng nghe giảng đạo như nhau, cũng làm bổn phận như nhau, tại sao người ta có thể đạt được lẽ thật và làm bổn phận đạt tiêu chuẩn, có thể thoát khỏi tâm tính bại hoại và thuận phục Đức Chúa Trời, còn ngươi thì không làm được? Đức Chúa Trời đã an bài cho ngươi môi trường để làm bổn phận, với hy vọng là ngươi có thể hiểu lẽ thật và đưa lẽ thật vào thực hành. Đức Chúa Trời chẳng cản trở ngươi, nhưng tự bản thân ngươi từ đầu đến cuối luôn ham mê thế tục và sự hưởng thụ xác thịt, chẳng ăn uống lời Đức Chúa Trời, trong lòng thì chán ghét và cự tuyệt lẽ thật. Ngươi xem triết lý Sa-tan, tri thức và văn hóa là điều tích cực và lẽ thật mà giữ vững, trong khi đó lại mặc kệ lời Đức Chúa Trời và lẽ thật như thể là kẻ thù, là phía đối lập với ngươi. Trong lòng ngươi đã không yêu thích lẽ thật, vậy tại sao ngươi lại tin Đức Chúa Trời? Ngươi tin Đức Chúa Trời mà chẳng nghe lời Đức Chúa Trời, chẳng tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, vậy mà ngươi còn muốn được cứu rỗi, có khả năng đó sao? Ngươi không tiếp nhận lẽ thật, không thoát khỏi tâm tính bại hoại, thì làm sao có thể được cứu rỗi chứ? Ngươi không tiếp nhận lời Đức Chúa Trời và không mưu cầu lẽ thật, mà vẫn muốn được Đức Chúa Trời chấp thuận và công nhận, thì đó là chuyện viển vông, chẳng khả thi đâu. Ngươi không tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, không tiếp nhận lẽ thật, nghĩa là không có chỗ cho Đức Chúa Trời trong lòng ngươi, vậy thì ngươi chỉ có thể ngày càng rời xa Đức Chúa Trời. Ngươi sẽ giống hệt như người ngoại đạo, không thể nào đạt được sự cứu rỗi.
Có những người trong sâu thẳm nội tâm chưa từng thực sự tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, ngay cả một câu lời Đức Chúa Trời họ cũng không tiếp nhận. Khi nhà Đức Chúa Trời không đề bạt và dùng mình thì họ còn oán trách: “Sao Đức Chúa Trời không thích tôi? Sao nhà Đức Chúa Trời chẳng bao giờ đề bạt và trọng dụng tôi? Tôi cũng hiểu được một vài lẽ thật, cũng có lý tưởng và ý chí, cũng sẵn lòng dâng mình cho Đức Chúa Trời mà! Tôi vừa có trình độ văn hóa, vừa có sức mạnh, còn có thể chịu khổ và trả giá, tại sao nhà Đức Chúa Trời không cho tôi cơ hội chứ? Đối đãi với tôi như vậy là bất công! Người khác đều có cơ hội, tại sao tôi chẳng có cơ hội vậy? Đức Chúa Trời cũng chẳng công chính!” Vậy tại sao ngươi không nhìn xem bản thân có phù hợp với nguyên tắc đề bạt và dùng người của nhà Đức Chúa Trời không? Lòng ngươi đóng chặt với Đức Chúa Trời, chống đối lời Đức Chúa Trời, vậy ngươi nghe lọt lời Đức Chúa Trời sao? Lúc làm việc, ngươi có tìm kiếm thông qua lời Đức Chúa Trời không? Ngươi không nghe lời Đức Chúa Trời nói gì, cũng chẳng bao giờ tìm kiếm tâm ý của Đức Chúa Trời hay nguyên tắc lẽ thật, vậy làm sao nhà Đức Chúa Trời dùng ngươi được chứ? Ngay cả khi Đức Chúa Trời sắp đặt hoàn cảnh cho ngươi, và nhà Đức Chúa Trời cho ngươi cơ hội được đề bạt và sử dụng, thì ngươi có thể đảm đương công tác nào chứ? Có thể gánh vác được công tác nào chứ? Nếu dùng dạng người như vậy để làm công tác của hội thánh, thì chắc chắn họ sẽ dựa vào ý riêng mà làm xằng làm bậy, gây nhiễu loạn và gián đoạn, cuối cùng họ chỉ có một kết quả mà thôi, đó chính là bị đào thải. Có hai nguyên nhân cho chuyện người ta bị đào thải. Thứ nhất, vì họ là lãnh đạo giả không làm công tác thực tế, thứ hai, vì họ là kẻ địch lại Đấng Christ làm xằng làm bậy, một mình một kiểu, chẳng bảo vệ công tác hội thánh hay lợi ích nhà Đức Chúa Trời, cả hai trường hợp này cuối cùng đều phải bị đào thải. Ngươi chẳng bao giờ tiếp nhận lẽ thật, ngươi chán ghét việc đọc lời Đức Chúa Trời, lòng thì đóng chặt với Đức Chúa Trời, khi làm việc cũng chẳng tìm kiếm nguyên tắc lẽ thật. Ngay cả khi Đức Chúa Trời gia ân và cho ngươi cơ hội, ngay cả khi nhà Đức Chúa Trời đề bạt và dùng ngươi, thì ngươi cũng chẳng đảm đương nổi bất kỳ hạng mục công tác nào, chẳng độc lập gánh vác nổi hạng mục công tác nào, cuối cùng ngươi cũng phải bị đào thải. Ngươi hy vọng nhà Đức Chúa Trời đề bạt và dùng mình, nhưng tâm thái của ngươi có tích cực không? Nếu mục đích của ngươi không phải là để làm tốt bổn phận, đạt được lẽ thật và đền đáp tình yêu của Đức Chúa Trời, thì tâm thái của ngươi chỉ là dã tâm và dục vọng mà thôi, đó là do tâm tính kiêu ngạo của ngươi quấy phá, và Đức Chúa Trời không chấp thuận. Ngươi nói xem, biểu hiện của ngươi như vậy, liệu nhà Đức Chúa Trời có dám dùng ngươi không? Dùng ngươi thì chỉ có thể đem lại phiền phức và tổn thất cho công tác của hội thánh. Ngươi chẳng làm tốt được việc gì, làm xong rồi thì còn phải tìm vài người đến khắc phục và thu dọn mớ hỗn độn. Do vậy, nhà Đức Chúa Trời đâu dám dùng ngươi. Hạng mục công tác nào trong hội thánh cũng rất quan trọng, ngươi có thể gánh vác được không? Khi xảy ra chuyện, ngươi có thể chịu trách nhiệm không? Ngươi không đảm đương nổi, không gánh vác nổi mà còn muốn nhà Đức Chúa Trời trọng dụng mình, dã tâm của ngươi cũng không nhỏ đâu. Nếu ngươi thực sự muốn được đề bạt để phụ trách công tác của hội thánh, vậy tại sao ngươi không ngẫm nghĩ về việc trang bị và hiểu thêm lẽ thật? Đừng đối địch với lời Đức Chúa Trời, hãy buông bỏ những cái gọi là tư tưởng và quan điểm đúng của bản thân, nghiêm túc đọc lời Đức Chúa Trời. Chỉ cần ngươi có thái độ thuận phục như vậy với Đức Chúa Trời thì cũng đã tốt rồi. Nhưng ngay cả thái độ thuận phục này mà ngươi cũng không có, chuyện tiếp nhận lại càng khỏi cần nói đến. Ngươi không tiếp nhận lời Đức Chúa Trời mà còn muốn được đề bạt trong nhà Đức Chúa Trời và làm công tác hội thánh, vậy thì ngươi làm chưa được mấy ngày là đã bị đào thải. Có vẻ như trong sâu thẳm nội tâm, loại người này đều có hoài bão riêng, nhưng hoài bão đó chẳng bao giờ thành hiện thực được, nên lòng họ chẳng được thỏa mãn. Mặc dù họ đã tin Đức Chúa Trời và làm bổn phận trong nhà Đức Chúa Trời nhiều năm rồi, cũng có thể vứt bỏ và dâng mình, nhưng vì lòng họ từ đầu đến cuối luôn đóng chặt với Đức Chúa Trời, vì họ luôn có thái độ chống đối lẽ thật, nên họ tin Đức Chúa Trời nhiều năm như vậy mà cứ cảm thấy bản thân chẳng đạt được gì. Ta bảo: “Ngươi nói đúng lắm, ngươi thực sự chẳng đạt được gì”. Nếu ngươi tin Đức Chúa Trời bấy nhiêu năm mà thực sự đạt được chút lẽ thật, thì đây là chuyện thật sự đáng quý. Nếu trong ngươi thực sự đã có báu vật, vậy thì nhà Đức Chúa Trời thực sự thích và yêu quý dạng người như vậy. Tiếc thay, ngươi đâu phải dạng người như vậy. Cái ngươi đạt được đâu phải là lẽ thật, đâu phải là báu vật, mà là một bụng đầy oan ức, không phục, bất mãn và oán trách. Ngươi nói mình chẳng đạt được gì cả, lời này cũng đúng, chuyện thực sự là vậy mà. Nếu thực sự hiểu được chút lẽ thật và đạt được chút lẽ thật, thì lòng ngươi sẽ không có những thứ tiêu cực như ấm ức, không phục, oán trách, v.v.. Thay vào đó, ngươi sẽ có đức tin, sự thấu hiểu, quan tâm, thuận phục và kính sợ đối với Đức Chúa Trời, toàn là những điều tích cực này. Tiếc là những thứ trong ngươi đều không phải điều tích cực, mà toàn là điều tiêu cực. Thế mà ngươi còn giữ chặt lấy chúng, cho rằng chúng là điều quý báu nhất, khi giữ chặt chúng, ngươi cảm thấy mình có lý và có cớ, đây là suy nghĩ ngu xuẩn. Những sự phẫn nộ, thù hận, xét đoán, không phục và phẫn uất của ngươi đâu phải là lẽ thật. Chúng đều là những thứ đến từ Sa-tan, là khối u ác tính nảy sinh từ trong tâm tính bại hoại của Sa-tan. Ngươi phải nghĩ cách giải quyết chúng đi. Những thứ này không thể làm cho ngươi đạt được sự cứu rỗi, cũng không thể làm cho ngươi tiếp nhận lẽ thật và đến trước mặt Đức Chúa Trời một cách cởi mở không chút che đậy để trở thành một loại thọ tạo đích thực và tiếp nhận sự tể trị, an bài của Đấng Tạo Hóa. Ngược lại, nếu ngươi luôn mãi yêu quý những thứ này, chẳng buông bỏ chúng, thì chúng chỉ có thể khiến ngươi ngày càng xa rời Đức Chúa Trời, khiến trong lòng ngươi ngày càng tăm tối và chùng xuống. Cuối cùng, chúng sẽ làm cho ngươi ngày càng không có đức tin nơi Đức Chúa Trời, ngày càng thấy phản cảm với lời Đức Chúa Trời, công tác, yêu cầu và thực chất tâm tính của Ngài. Ngươi tin Đức Chúa Trời mà cứ dần dần rời xa Ngài, đây không phải là dấu hiệu tốt. Đối với ngươi, nó là tai họa hủy diệt, ngươi nên xoay chuyển đi, đừng bám giữ chúng. Nếu ngươi cứ bám giữ những thứ tiêu cực này, thì chúng chỉ có thể khiến ngươi đi đến chỗ diệt vong. Chi bằng ngươi hãy đem những thứ này ra phơi bày để mổ xẻ, buông bỏ chúng và tiếp nhận lẽ thật. Một số người nói: “Không phải Ngài nói rằng loại người như chúng con không có cơ quan để tiếp nhận lẽ thật hay sao?” Ngươi không có cơ quan để tiếp nhận lẽ thật, nhưng bây giờ Ta nói cho ngươi hay: Những thứ ấm ức, bất mãn, không phục, phẫn uất, thù hận và xét đoán trong ngươi đều là thứ chống đối Đức Chúa Trời. Nếu ngươi nghe hiểu được lời này và biết phân định vấn đề bên trong mình, thì ngươi nên buông bỏ những thứ này đi. Một số người nói: “Con không hiểu lẽ thật, nên không biết cách buông bỏ”. Vậy ngươi có biết giữ quy định không? Lời Đức Chúa Trời bảo ngươi làm thế nào thì ngươi cứ làm thế ấy. Chẳng hạn như, đừng hành ác, ngươi có làm được không? Đừng xét đoán Đức Chúa Trời, ngươi có làm được không? Làm thêm việc lành, ngươi có làm được không? Không đi theo kẻ ác, ngươi có làm được không? Mở lòng với Đức Chúa Trời, ngươi có làm được không? Phát hiện vấn đề thì phản ánh với nhà Đức Chúa Trời, ngươi có làm được không? Cầu nguyện với Đức Chúa Trời thì nói lời từ đáy lòng, ngươi có làm được không? Không qua loa chiếu lệ khi làm bổn phận, ngươi có làm được không? Nếu ngươi có thể làm được những chuyện này thì ngươi còn có hy vọng. Nếu ngay cả những chuyện này mà ngươi cũng không làm được, thì Ta nói thật với ngươi: Ngươi phế rồi. Trước mặt ngươi không phải ánh sáng mà là bóng tối. Ngươi vẫn là người thuộc về Sa-tan, và ngươi không thể được cứu rỗi.
Ngay cả khi một người nào đó không hiểu lẽ thật, nhưng nếu họ có lương tâm và lý trí, thì bất kể gặp phải chuyện gì, họ cũng có thể phân định đúng sai đến một mức độ nhất định. Nhưng người không có lương tâm và lý trí thì chẳng biết đúng sai trong rất nhiều chuyện, khiến người ta cảm thấy người này rất kỳ lạ. Khi người ta qua lại hoặc xử lý công chuyện với họ, có nhiều chuyện chẳng làm được với họ và có nhiều lời chẳng nói cho họ thông được. Hơn nữa, tư tưởng và quan điểm của họ rất lạc loài, rất quá khích, khiến người ta cảm thấy chẳng tưởng tượng nổi, như thể họ chưa từng sống ở thế giới loài người vậy. Đối với rất nhiều chuyện mà ai cũng công nhận là đúng đắn, thì họ đều không hiểu, chẳng những họ không thể tán thành và tiếp nhận chúng, mà còn có thể nói ra một loạt lý lẽ méo mó và tà thuyết. Nhất là có người khi ở giữa tập thể thì thường giở chiêu trò, xúi giục gây chia rẽ và đặt điều nói xấu. Dường như chẳng ngày nào họ có việc chính đáng để làm. Họ không xét đoán người này, thì lại xét đoán chuyện kia, lại còn lấy đó làm vui. Ngay cả khi không có ai thèm quan tâm hay hứng thú với những chuyện họ nói, thì họ vẫn cứ nói mãi, làm mãi không biết mệt. Họ luôn xúi giục gây chia rẽ giữa người với người, xét đoán người khác sau lưng và đặt điều nói xấu. Khi gặp chuyện không như ý thì họ càm ràm, oán trách, thậm chí là xét đoán sau lưng người khác. Cuộc sống của họ chỉ toàn mấy chuyện này. Ngươi chẳng bao giờ thấy họ thông công về nhận thức của bản thân, chẳng bao giờ thấy họ thông công và chia sẻ gì cho mọi người về sự khai sáng hoặc sự sáng họ đạt được từ lời Đức Chúa Trời, hoặc thể nghiệm của họ từ chuyện gì đó. Càng thảo luận về những chuyện chính đáng thì họ càng nín thinh, không có thái độ tích cực và chủ động, lại còn mặt ủ mày chau, chẳng có chút năng lượng nào. Việc mà họ đam mê chính là xúi giục gây chia rẽ và đặt điều nói xấu. Ngay cả khi thảo luận một chuyện gì đó, thì họ cũng giống hệt như người ngoại đạo mà nhìn nhận từ góc độ phải trái đúng sai, chứ chẳng bao giờ đứng ở góc độ của lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường mà bàn luận đủ loại chuyện. Tóm lại, ở trong tập thể, họ đóng kiểu vai trò như con muỗi, con ruồi, con chuột để quấy nhiễu và gây rối cho cuộc sống bình thường của người khác. Một khi họ nói chuyện và bày tỏ quan điểm, một khi họ đánh giá và xét đoán chuyện gì, thì lòng người khác đều thấy chán ghét và bị quấy nhiễu, một số người có vóc giạc nhỏ và chưa hiểu lẽ thật thì còn bị họ mê hoặc và kìm kẹp. Họ chẳng bao giờ đóng vai trò tích cực trong tập thể, toàn nói ra nói vào, đặt điều nói xấu, hết kể người này có tật xấu gì, lại kể người kia đã làm chuyện gì. Nhưng họ chẳng bao giờ cảm thấy làm vậy có gì sai, ngược lại họ còn cho rằng con người sống thì nên như vậy, sống như vậy mới vui vẻ và tự do. Họ xem những cách sống và cách xử sự sai lầm là đúng đắn và là cách sống mà nhân tính bình thường nên có, khi bị người khác tỉa sửa và vạch trần, họ cũng chẳng tiếp nhận. Nếu cách làm của họ không áp dụng được trong tập thể nào đó, thì họ sẽ đến một tập thể khác mà tìm thứ tồi tệ như mình để xét đoán phải trái. Một khi tìm được tri kỷ rồi thì họ cảm thấy mỗi ngày sống đều quá đỗi hạnh phúc, quá đỗi vui vẻ. Trong bất kỳ trường hợp nào, loại người này đều đóng vai trò đặt điều nói xấu, xúi giục gây chia rẽ, lôi kéo, quấy nhiễu và đả kích người khác. Ngươi hỏi họ xem họ làm vậy rốt cuộc là có rắp tâm gì và muốn đạt mục đích gì, thì họ cũng không nói rõ được tại sao mình lại làm vậy. Có khả năng họ cũng không có mục đích rõ ràng, nhưng trạng thái bình thường trong cuộc sống của họ lại tràn đầy những biểu hiện này và cách làm này. Các ngươi nói xem, thuộc tính của loại người này là gì? Nếu nói họ làm như vậy là có ý đồ, thì họ còn có cả đống lý do để biện bạch: “Tôi đâu muốn làm ảnh hưởng đến việc làm bổn phận của ai, đâu muốn quấy nhiễu ai, cũng đâu muốn quấy nhiễu công tác của nhà Đức Chúa Trời. Tôi nói ra những gì trong lòng mình mà cũng không được hay sao?” Ngươi mà vạch trần họ, thì họ còn không phục, họ cứ khăng khăng làm như vậy, cứ khăng khăng làm theo ý mình, cứ khăng khăng sống như vậy trong tập thể. Bất kể họ xét đoán ai hay là đặt điều nói xấu gì, thì cách sống và cách làm người đó của họ có đúng hay không? (Thưa, không đúng.) Thế mà họ có thể lấy đó làm niềm vui. Ngươi nói xem, có phải vấn đề của loại người này rất nghiêm trọng rồi không? (Thưa, phải.) Làm người trưởng thành rồi mà chẳng biết lời nói nào và việc làm nào là đúng, có giá trị, có ý nghĩa, và là chuyên tâm vào việc chính đáng, cũng chẳng biết việc làm nào là không chuyên tâm vào việc chính đáng, thì loại người này về cơ bản là thứ lưu manh, chẳng phải người bình thường. Bất kể họ có gây ra sự quấy nhiễu cho người khác hay không, chỉ riêng chuyện họ ngày ngày sống trong trạng thái làm xằng làm bậy mà không biết đúng sai, xem việc đặt điều nói xấu và xúi giục gây chia rẽ là việc chính đáng mà lương tâm lại chẳng cảm thấy gì, thì ngươi nói xem, họ có nhân tính hay không? Nếu thực sự có nhân tính bình thường thì người ta nên biết khi nói chuyện và hành động thì phải có những nguyên tắc nào, càng nên biết rằng làm người thì phải hiểu lẽ thật và đây là điều mà con người cần nhất. Nhưng họ chẳng biết con người cần cái gì, chẳng biết con người nên làm việc gì. Họ chẳng có nhân tính bình thường, và họ chính là súc sinh. Có những người thậm chí còn không bằng súc sinh. Ngươi xem, con mèo ban ngày thì ngủ, có lúc chơi đùa, đến đêm thì đi bắt chuột. Chuột là thứ có hại cho loài người, mèo bắt chuột là làm chút việc có lợi cho loài người. Giờ hãy xem cuộc sống của con chó. Ngoài vui chơi với chủ, chó còn giữ nhà. Chỉ cần có người lạ đến là nó bắt đầu sủa để báo cho chủ và canh giữ nhà. Chủ mà ra ngoài thì nó sẽ đi sát cạnh chủ, khi có người lạ tiếp cận thì nó bảo vệ chủ. Chó có tác dụng bảo vệ và giữ nhà. Bất kể mèo hay chó đều có thể chuyên tâm vào việc chính đáng. Đương nhiên, động vật làm như vậy không phải do sự chi phối của lương tâm, mà do bẩm tính của nó. Lúc tạo ra nó, Đức Chúa Trời đã tạo ra bẩm tính này và cho nó sứ mạng như vậy. Nó cứ giữ đúng sứ mạng của mình, chẳng người nào có thể thay đổi được. Động vật còn có thể thực hiện trách nhiệm và chuyên tâm vào việc chính đáng. Nếu là con người thì ít ra cũng phải chịu sự chi phối của lương tâm và lý trí, trong lòng phải có tiêu chuẩn, có giới hạn tối thiểu về chuyện hằng ngày nên làm và không nên làm, làm việc gì thì có liên quan đến lẽ thật, làm việc gì là không chuyên tâm vào việc chính đáng. Nếu dùng lương tâm và lý trí, thì sẽ có thể tính được tiêu chuẩn và giới hạn tối thiểu này rất nhanh. Chẳng hạn như, buông thả và không có sự ràng buộc, thích đặt điều nói xấu, v.v., dạng người nào làm những việc này? Người bình thường đều có thể nhận thấy rằng: “Đây là việc do những kẻ lưu manh, côn đồ không chuyên tâm vào việc chính đáng làm. Người bình thường quá bận rộn làm những việc chính đáng, ai lại đi làm mấy việc này chứ, chẳng có ý nghĩa gì cả! Còn nữa, đặt điều nói xấu và xúi giục gây chia rẽ đều là thứ phản diện và sai lầm. Người có lương tâm và lý trí thì tuyệt đối không nên làm những việc này. Thỉnh thoảng vì tình huống đặc biệt nào đó, như là có người đắc tội với mình, thì có lẽ vì nóng nảy mà bạn càm ràm mấy câu, nhưng không được biến nó thành tình trạng sống thông thường, không được xem nó là việc chính đáng!”. Đây là điều mà dùng lương tâm và lý trí của người bình thường thì có thể đánh giá ra được, do đó, họ sẽ có thể không làm ra những việc như vậy. Nhưng người không có lương tâm và lý trí thì xem mấy việc đó là việc chính đáng. Họ làm chậm trễ bổn phận mà chẳng thấy sốt ruột. Khi không làm tốt công tác và bị người khác thúc giục, họ cũng chẳng coi đó là quan trọng. Người khác đều bận rộn làm bổn phận, còn họ thì giả vờ không thấy. Hễ rảnh rỗi là họ tán dóc, không đặt điều nói xấu thì cũng xúi giục gây chia rẽ. Đây đều không phải là biểu hiện của nhân tính bình thường, mà là biểu hiện của thứ phi nhân. Làm một thành viên trong nhân loại, thì mỗi một người sau khi trưởng thành đều nên ngẫm nghĩ về một vài chuyện chính đáng, chẳng hạn như nên xác lập nhân sinh quan thế nào, nên có dạng lý tưởng và sự mưu cầu thế nào, nên tin điều gì, nên đi con đường như thế nào, nên sống một đời này thế nào cho có giá trị và ý nghĩa, v.v., có quá nhiều chuyện mà người ta nên suy ngẫm và hiểu. Nhất là sau khi người ta tin Đức Chúa Trời và làm bổn phận trong nhà Đức Chúa Trời, nơi khối lượng của bất kỳ hạng mục công tác nào cũng rất lớn, để làm được thì cần có tiến độ và hiệu suất, ai cũng rất bận rộn, làm gì có lúc nhàn nhã mà đặt điều nói xấu và xúi giục gây chia rẽ chứ? Hầu hết mọi người đều không phí thời gian vào mấy chuyện này. Ngoài ra, hầu hết mọi người cũng chẳng có sở thích như vậy, ai có sở thích này thì rõ ràng là thứ kỳ dị và quá lạc loài. Ai mà xem việc đặt điều nói xấu và xúi giục gây chia rẽ là sở thích thì chính là thứ phi nhân, bởi vì hành vi đó hoàn toàn khác với biểu hiện của người bình thường, và trái với nguyên tắc hành động mà người bình thường nên có. Do đó, loại người này chính là thứ chẳng chuyên tâm vào việc chính đáng. Những việc họ làm chẳng phải là việc mà người bình thường nên làm, vai trò họ đóng chính là vai trò của thứ phi nhân. Thế mà họ còn cho rằng mình tốt lắm, đúng lắm. Vậy chẳng phải là không biết đúng sai hay sao? (Thưa, phải.)
Một số người luôn có hành vi lén lút xâm phạm đời tư sau lưng người ta. Ví dụ, có người thích kiểm xem thông tin của người khác, như nhật ký và bút ký tĩnh nguyện riêng của người khác chẳng hạn. Có người thì thích nghe lén xem khi người khác cầu nguyện hoặc nói chuyện thì có nhắc đến mình không và bình luận thế nào về mình. Có người thì xem thử máy tính của người khác có tin nhắn gì, xem người khác liên hệ với ai, nghe những bài hát nào, xem những video nào. Họ luôn soi mói vào cuộc sống riêng của người khác. Còn có người có tật táy máy tay chân, cứ tùy tiện lục lọi đồ đạc riêng và túi của người khác, thậm chí có người còn lục lọi giường đệm của người khác. Họ kiểm tra bất cứ thứ gì người khác ăn, mặc, dùng. Nếu thấy có thứ gì tốt thì họ lấy dùng, dùng xong rồi thì xem thứ đó như đồ của mình. Người khác mua chút đồ ăn vặt hay bánh ngọt, thì họ lén lút coi thử, thấy có món ngon thì cắn một miếng hoặc lấy hẳn một cái. Mục đích của họ đâu phải chỉ là xem, mà là thấy thèm nên ăn. Nếu họ muốn ăn thì có thể yêu cầu người khác cho họ một chút, cũng đâu ai chê cười chuyện đó. Nhưng tại sao họ lại trộm đồ sau lưng người khác? Làm vậy có đúng không? (Thưa, không đúng.) Biết không đúng mà vẫn có thể làm, lại còn làm thường xuyên, cứ lục lọi đồ người khác như thể là đồ của mình. Nếu bị người ta phát hiện, họ còn biện bạch là mình chỉ coi thử thôi, và họ chẳng lấy làm hổ thẹn về chuyện này. Chờ đến khi không có ai, họ lại tiếp tục lục lọi, tiếp tục trộm đồ. Họ chẳng có ý thức liêm sỉ, họ làm việc như vậy mà chẳng biết đúng sai. Người như vậy là loại người gì? Thường thì đứa trẻ con sáu, bảy tuổi đã hiểu là không được làm những việc đó. Nếu một người trưởng thành mà còn có thể làm những việc như vậy thì nghĩa là họ làm vậy từ nhỏ đã thành quen. Cũng giống như những người ăn cắp vặt đã thành quen, đi đâu cũng tiện tay thó đồ, bản thân không thiếu thứ gì mà vẫn cứ trộm. Nó đã thành thói rồi, và họ không kiềm chế được nữa, không muốn làm cũng không được. Họ chính là phường trộm cắp bẩm sinh. Đây có phải là thứ phi nhân không? (Thưa, phải.) Ngươi hiếu kỳ và cứ nhất quyết phải xem đồ đạc riêng của người khác, nhưng xem rồi thì được gì chứ? Xem rồi thì nó cũng đâu thành đồ của ngươi, xem rồi thì ngươi cũng đâu có được nó. Nếu ngươi thực sự muốn mượn dùng một lần, thì cứ nói một tiếng với người ta, người ta đồng ý thì ngươi dùng. Làm việc cho quang minh chính đại, đừng có lén la lén lút. Nếu ngươi muốn mặc áo quần của người khác, thì hãy hỏi mượn một cách quang minh chính đại, người ta đồng ý cho ngươi mặc thì ngươi mới được mặc. Nếu người ta đau lòng mà vẫn chịu cho ngươi mượn thứ người ta trân quý, thì như vậy cũng tính là có tình anh chị em rồi, còn người ta không cho ngươi mượn thì cũng đừng lén lấy mà mặc. Người tin Đức Chúa Trời đều là người trưởng thành, thế mà có người hành động chẳng biết chừng mực. Thậm chí có những người cá biệt còn có tật táy máy tay chân, lục lọi đồ của người khác rồi mà vẫn không biết làm vậy là sai, khi bị người ta phát hiện và bàn tán, thì họ chẳng biết xấu hổ, lại còn cảm thấy: “Tôi lục lọi đồ của anh thì sao chứ? Anh cũng đâu mất thứ gì. Đồ của anh cũng đâu phải được biệt riêng ra thánh. Anh dựa vào cái gì mà không cho tôi xem chứ?” Ngươi xem, họ còn nói lý lẽ méo mó. Vấn đề này nghiêm trọng rồi, đây không còn là một dạng hành vi, mà là vấn đề về thực chất nhân tính. Thực chất của họ có vấn đề gì? Loại người này làm việc sai trái mà chẳng hề có chút tri giác nào, một khi có người phát hiện và chỉnh đốn, thì họ chẳng những không tiếp nhận mà còn phân bua, nói lý lẽ méo mó, còn kiên quyết làm như vậy. Họ chính là thứ phi nhân. Một đặc tính của thứ phi nhân chính là làm việc sai trái mà chẳng bao giờ thừa nhận mình đã sai, chẳng hối hận chút nào, còn khăng khăng cho rằng việc mình làm là đúng, và thấy mình rất có lý. Nghĩa là họ đem những chuyện sai trái, lệch lạc, méo mó và tà mà nói thành chuyện đúng đắn, đây chính là xem lý lẽ sai lầm là lý lẽ chính đáng. Cái mà loại người có dạng đặc tính này thiếu mất chính là lương tâm và lý trí, người thiếu mất lương tâm và lý trí thì chính là thứ phi nhân. Thứ phi nhân thì có dạng biểu hiện như vậy. Khi họ lén lục lọi đồ của người khác, ngươi có vạch trần họ thế nào hoặc thông công lẽ thật cho họ thế nào, họ cũng không tiếp nhận. Họ chẳng những không hối hận, mà còn nói lý lẽ méo mó: “Tôi chỉ lục xem đồ của của người khác thì có gì sai chứ? So với những người làm việc dâm loạn, giết người, phóng hỏa, tội ác chồng chất, thì tôi là người tốt nhất rồi! Người tốt như tôi tìm đâu ra chứ?” Vậy chẳng phải là bất chấp lý lẽ sao? (Thưa, phải.) Họ làm sai mà còn thà chết cũng không chịu nhận sai, thì họ hết thuốc chữa rồi. Có người làm ra việc sai trái nghiêm trọng, đánh giá bằng đạo đức của nhân tính thì đã không thể chấp nhận nổi rồi, chứ đừng nói đến đánh giá bằng lẽ thật, tố chất của họ chẳng đủ để nhận ra điều này. Xét về mặt nhân tính, một khi thiếu lương tâm và lý trí thì người ta là thứ phi nhân. Bất kể ngươi cho rằng mình tốt đến đâu, lương thiện đến đâu, vĩ đại đến đâu, hay cao quý đến đâu, nếu ngươi không có biểu hiện của lương tâm và lý trí, thay vào đó lại sống thể hiện ra rất nhiều biểu hiện phi nhân, thậm chí còn có rất nhiều cách làm cụ thể, có tư tưởng và quan điểm sai lầm, thì ngươi chính là thứ phi nhân. Đặc trưng chủ yếu của thứ phi nhân chính là không tiếp nhận lẽ thật, không tiếp nhận những điều tích cực, mà lại tiếp nhận những thứ sai lầm như là quan điểm đúng đắn, còn có thể đánh lận đúng sai và đổi trắng thay đen để mê hoặc người khác.
Có những người thấy con gái mình có tướng mạo đẹp thì muốn dùng con gái để kiếm thật nhiều tiền. Thế là họ hứa gả con gái cho người có tiền và đòi thật nhiều sính lễ. Khi sính lễ về tay rồi thì họ bắt đầu ăn uống và hưởng thụ. Chẳng bao lâu sau họ đã tiêu gần hết tiền, thế là họ lại đi tìm nhà trai để đòi thêm. Khi nhà trai bảo đã đưa đủ tiền sính lễ rồi và không thể đưa thêm, thì họ lại hứa gả con gái cho người khác, lại đòi không ít sính lễ. Nhà trai thứ nhất thấy họ không định gả con gái nữa nên đòi họ trả lại sính lễ. Thế là họ nói gì? “Tôi không thể gả con gái tôi cho nhà ông được, vì ông chẳng đưa đủ tiền sính lễ. Số tiền sính lễ này, tôi không cần phải trả lại ông. Ai bảo ông không đưa đủ cho tôi chứ? Tiền thì đưa không đủ mà còn muốn cưới con gái tôi, không có cửa đâu!” Lừa được tiền rồi là họ bắt đầu nói lý lẽ méo mó. Nhà trai thứ nhất biết mình gặp phải kẻ lừa đảo và vô lại rồi, nên chẳng thèm để ý đến nữa. Nhà trai thứ hai cũng bị lừa như vậy. Con gái họ cứ thế được hứa gả cho mấy nhà, sau khi bị quăng đi quăng lại, cuối cùng chẳng được gả đi, nhưng nhà họ lại kiếm được không ít tiền. Nhà này có tốt hay không? (Thưa, không tốt.) Tại sao không tốt? (Thưa, vì họ lợi dụng hôn sự của con gái mình để lừa tiền của nhà trai. Người ta bảo họ trả lại tiền, thì họ không trả, còn nói lý lẽ méo mó. Họ chẳng có chút lý trí nào cả. Dạng người này không biết đúng sai, cũng chẳng có ý thức liêm sỉ. Vì vậy mới nói họ không tốt.) Những biểu hiện này, họ đều có cả. Họ không biết đúng sai, lại còn không có liêm sỉ. Họ tiêu số tiền có được nhờ lừa bịp mà trong lòng cũng không thấy cắn rứt, còn ăn uống ngon lành, họ sống mỗi ngày một cách yên tâm thoải mái. Các ngươi nói xem, trong số những người tin Đức Chúa Trời, có dạng người như vậy không? (Thưa, có lẽ cũng có.) Có dạng người như vậy. Những người này có đủ loại thủ đoạn lừa bịp, người khác có đề phòng cũng không nổi. Thế giới hỗn loạn đầy thói hư tật xấu của người ngoại đạo là vậy, nhưng người tin Đức Chúa Trời mà còn có thể lừa bịp như vậy thì chắc chắn không phải là người tốt. Người như vậy thì có bản tính quá xấu, họ có tin Đức Chúa Trời thì cũng là kẻ chẳng tin. Chuyện này chẳng phải do bản tính quyết định sao? (Thưa, phải.) Họ không tin vào chuyện báo ứng, vậy mà còn tin Đức Chúa Trời, họ là thứ gì vậy? Họ lừa tiền sính lễ của người ta mà chẳng gả con gái cho người ta, đây chính lừa đảo, hơn nữa, họ đâu chỉ lừa một nhà, mà còn có thể lừa đến mấy nhà, lại còn sống rất yên tâm thoải mái, thế mà họ vẫn nhận mình là người tin Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có thừa nhận dạng người này không? (Thưa, không thừa nhận.) Đức Chúa Trời không thừa nhận họ tin Ngài. Nếu trong nhà Đức Chúa Trời có dạng người này, thì phải thanh lọc họ đi. Nhà Đức Chúa Trời không muốn dạng người như vậy. Kẻ lừa đảo thì không có cách nào thay đổi được, và Đức Chúa Trời không cứu rỗi kẻ ác. Kẻ lừa đảo thì đi đâu cũng có thể lừa người, họ mà đến nhà Đức Chúa Trời thì có lừa anh chị em không? Có lừa nhà Đức Chúa Trời không? Chắc chắn là có. Đức Chúa Trời có thể cứu rỗi dạng người này sao? Ngài không cứu rỗi họ đâu. Kẻ lừa đảo là dạng người gì? Nói cho chính xác thì họ chính là thứ phi nhân. Thứ phi nhân chính là người không có lương tâm và lý trí. Vậy dạng người này mà tin Đức Chúa Trời thì có đi khắp nơi lừa bịp tứ tung không? Chắc chắn là có. Nếu họ nói mình là người tin Đức Chúa Trời, thì có những anh chị em sẽ đối đãi với họ bằng tình yêu thương, giúp đỡ mỗi khi họ gặp khó khăn, và quyên tặng mỗi khi họ gặp khốn khó. Kết quả là sau một thời gian, anh chị em phát hiện ra họ chẳng mưu cầu lẽ thật chút nào, lại còn là kẻ lừa đảo. Như vậy chẳng phải là đã bị lừa hay sao? Do đó, buộc phải phân định kẻ lừa đảo, để tránh chuyện bị lừa. Làm vậy là để bảo vệ anh chị em khỏi bị lừa. Khi phát hiện ra dạng người này thì nên thanh trừ, bởi vì họ có tiếng xấu và việc gì họ cũng có thể làm, họ chính là thứ vô lại trong xã hội. Thứ vô lại thì làm sao có thể được cứu rỗi chứ? Thứ vô lại không được phép tồn tại trong hội thánh, không thích hợp sống giữa dân được Đức Chúa Trời chọn. Nên thanh trừ họ đi, họ không xứng ở lại nhà Đức Chúa Trời.
Còn có một số người đặc biệt thích mượn đồ của người khác để dùng. Bất kể là đồ ăn, áo quần, hay là dụng cụ, máy tính, đồ nội thất, v.v., cái gì họ cũng mượn—thậm chí cả tiền bạc, trang sức và xe hơi. Có người có tiền mà cũng không tự mua, cứ thích mượn đồ của người khác, cố ý chiếm lợi của người khác. Chẳng hạn như, có người ra ngoài thì mượn xe để đi, đi hết xăng rồi mà cũng không đổ lại, cứ thế trả lại cho người ta. Thậm chí có người mượn xe người khác mà không chịu trả, chờ đến khi người ta tới đòi mới trả. Có người mượn dụng cụ của người khác dùng và làm hỏng, thế mà họ chẳng sửa cho người ta, ngay cả một tiếng xin lỗi cũng không có. Có người mượn tiền người khác, tiền thì tiêu hết rồi mà họ cũng không có ý định trả, như thể họ tiêu tiền của bản thân vậy. Họ cứ mong người cho mượn quên mất chuyện này đi, thế là vừa đúng ý họ, cố ý chiếm lợi của người khác. Họ dùng tiền của người ta để làm ăn, ăn uống và giải trí, trong lúc đó lại dùng tiền của mình để gửi lấy lãi hoặc đầu tư cổ phiếu. Người ta hỏi khi nào họ trả tiền, thì họ nói: “Khi nào có tiền thì tôi trả, bây giờ chẳng có tiền thì tôi trả kiểu gì chứ?” Ngươi xem, bộ mặt thật của họ bị phơi bày rồi phải không? Ý định của họ là không tính chuyện trả tiền. Đây là loại người gì vậy? Đây chính là thứ vô lại. Còn có người thấy người ta có đồng hồ đeo tay đẹp, thế là hỏi mượn đeo vài ngày, kết quả là làm cho cái đồng hồ bẩn hết cả. Chờ đến khi người ta tới đòi, thì họ còn bực bội mà nói: “Anh keo kiệt quá vậy? Tôi mới dùng có mấy ngày mà anh đã đòi lại rồi!” Đây là tâm thái gì vậy? Luôn muốn chiếm đồ tốt của người khác làm đồ của mình, đây chẳng phải là lòng tham sao? Họ cảm thấy việc mượn đồ là chính đáng, nên họ luôn tìm cơ hội mượn đồ của người khác, bất kể mượn gì cũng không muốn hoàn trả, cũng muốn chiếm làm của riêng. Đây là loại người gì chứ? (Thưa, là thứ côn đồ, vô lại, là thứ phi nhân.) Giữa những người ngoại đạo thì có rất nhiều thứ vô lại và thứ phi nhân như vậy, chuyện này chúng ta không nói thêm nữa. Nhưng giữa những người tin Đức Chúa Trời, có dạng người như vậy không? Nếu có dạng người này trà trộn vào hội thánh, thì đó chẳng phải là thứ côn đồ, vô lại sao? (Thưa, phải.) Loại người vô lại này mà tin Đức Chúa Trời thì chỉ là để được phúc. Khi tiếp xúc với anh chị em, họ luôn mang tâm thái muốn chiếm lợi. Họ luôn nhìn xem anh chị em nào có tiền, có thế, hoặc trong nhà có đồ tốt, và họ chuyên môn nhắm vào những người đó. Thấy ai lợi dụng được thì họ lợi dụng, thấy ai dễ bị chiếm lợi thì họ tiếp xúc với người đó. Họ luôn dùng chiêu bài “anh chị em là người một nhà” để mượn đồ của anh chị em mà dùng và sai khiến anh chị em, thậm chí còn đòi anh chị em tiếp đãi họ. Có những anh chị em mới tin, chưa hiểu lẽ thật và chưa có sự phân định, nên đã xem họ là anh chị em, và thấy ngại khi từ chối họ. Kết quả là sau một thời gian, những anh chị em này phát hiện ra họ ở lì trong nhà mình không chịu đi, thấy món gì ngon thì ăn mãi không dừng, thấy đồ gì tốt thì tùy ý sử dụng, lại còn chẳng mưu cầu lẽ thật hay làm bổn phận chút nào, cả ngày chỉ muốn chiếm lợi, nên từ đó những anh chị em này thấy phản cảm với họ. Khi thấy nhà Đức Chúa Trời còn có dạng người này, một số người thậm chí đã nảy sinh quan niệm về Đức Chúa Trời và nghĩ bụng: “Làm sao Đức Chúa Trời có thể tuyển chọn dạng người như vậy chứ?” Thực ra, dạng người này đâu phải do Đức Chúa Trời tuyển chọn, mà là họ trà trộn vào hội thánh. Người rao truyền phúc âm không biết tường tận về họ, và hội thánh cứ vậy tiếp nhận họ, có những trường hợp như vậy. Đức Chúa Trời tuyệt đối không tuyển chọn thứ vô lại và phi nhân như vậy. Nếu phát hiện ra loại kẻ ác và thứ vô lại này, thì nên tránh xa và vứt bỏ, đừng xem họ là anh chị em, họ chỉ là thứ ăn bám. Ngươi mà xem thứ vô lại như vậy là anh chị em, còn cho rằng họ là người được Đức Chúa Trời tuyển chọn, thì ngươi lĩnh hội lệch lạc rồi. Người được Đức Chúa Trời tuyển chọn ít nhất phải có nhân tính tốt và có thể tiếp nhận lẽ thật. Đức Chúa Trời tuyệt đối không tuyển chọn thứ vô lại hoặc kẻ ác, bởi vì Đức Chúa Trời đâu cứu rỗi thứ vô lại và kẻ ác, Ngài đâu muốn dạng người như vậy. Cho dù dạng người này tin Đức Chúa Trời, thì sau này họ vẫn sẽ bị Ngài tỏ lộ và đào thải. Các ngươi đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu rồi.) Loại người này mà qua lại với người khác thì đều khiến người khác thấy phản cảm cùng cực, ghê tởm và kinh tởm. Vậy nếu họ qua lại với Đức Chúa Trời, Ngài có thể thích dạng người như họ sao? Câu trả lời quá rõ ràng rồi, Đức Chúa Trời tuyệt đối không thích dạng người như vậy, cũng không tuyển chọn dạng người như vậy. Nhà Đức Chúa Trời không cần dạng người như vậy làm bổn phận, mà họ cũng chẳng đảm nhiệm nổi bất kỳ công tác nào. Họ chính là phường lưu manh, là người sống cho qua ngày đoạn tháng, và họ đến nhà Đức Chúa Trời chỉ để ăn bám. Họ cho rằng người tin Đức Chúa Trời đều là người thật thà, đặc biệt chân thực và có tình yêu thương, sẵn sàng giúp đỡ người khác, ngay cả khi cho người khác mượn tiền cũng thấy ngại đòi lại, nên nếu không trả lại tiền cho mấy người này thì cũng không bị tố giác. Họ cho rằng chiếm lợi của những người này là dễ nhất. Vừa hay họ chẳng muốn đi làm, nên họ cứ mượn tiền anh chị em mà tiêu. Họ không đi làm mà vẫn sống được, có khốn khó gì thì hội thánh còn có thể giúp đỡ, chẳng những giải quyết chỗ ở, mà còn giải quyết cả chuyện tiền tiêu cho họ, họ sống qua ngày mà chẳng phải lo nghĩ gì. Một số anh chị em không biết phân định, còn thực sự nuôi dạng người này, thực sự để họ chiếm lợi và lợi dụng kẽ hở. Như vậy chẳng phải là vì những anh chị em này không có sự phân định sao? (Thưa, phải.) Người ta quá ngu muội, chẳng có sự phân định đối với người khác, nên có lúc làm ra những việc ngu muội. Các ngươi đã biết phân định dạng người này chưa? (Thưa, biết phân định rồi.) Biết phân định rồi thì nên thanh lọc dạng người này đi, họ không phải là dân được Đức Chúa Trời chọn, nên không cần dùng tình yêu thương gì với họ cả. Họ luôn muốn chiếm lợi, không làm mà có ăn, họ chính là phường lưu manh! Họ dựa vào cái gì mà tiêu đồng tiền xương máu của ngươi và tùy tiện dùng đồ của ngươi chứ? Dung thứ và dung túng dạng người này, còn nuôi dạng người này, đây đâu phải là bổn phận Đức Chúa Trời giao cho ngươi, cũng đâu phải là sứ mạng Đức Chúa Trời giao phó cho ngươi. Ngươi chẳng có bất kỳ trách nhiệm hay nghĩa vụ gì phải yêu thương họ. Yêu thương các anh chị em đích thực thì phù hợp với nguyên tắc và yêu cầu của Đức Chúa Trời, đây là trách nhiệm và nghĩa vụ của ngươi. Cung ứng, giúp đỡ và hỗ trợ các anh chị em đích thực, dù là giúp đỡ về tiền bạc hay vật chất, thì đều hợp với tâm ý của Đức Chúa Trời, đều là việc lành và được Đức Chúa Trời ghi nhớ. Còn đối với những thứ phi nhân này thì không cần khách khí, cũng không cần yêu thương gì. Sự yêu thương, bao dung và nhẫn nại là để dành cho các anh chị em đích thực. Còn đối với thứ phi nhân, thứ côn đồ, vô lại và lưu manh, thì không cần yêu thương, bao dung hay nhẫn nại. Nguyên tắc là vậy. Đối với một kẻ lưu manh, một kẻ ăn bám không biết liêm sỉ và không biết đúng sai, nếu ngươi cứ một mực nhẫn nại và yêu thương thì đó là ngu muội và không có nguyên tắc, Đức Chúa Trời cũng chẳng ghi nhớ chút nào. Ngươi làm những việc này thì chẳng liên quan gì đến lẽ thật, không được Đức Chúa Trời chấp thuận, và tốn công vô ích.
Một số người thường xuyên công kích anh chị em, công kích lãnh đạo và người làm công, công kích nhà Đức Chúa Trời và sự sắp xếp công tác của nhà Đức Chúa Trời, thậm chí công kích và xét đoán cả Đức Chúa Trời. Họ còn mượn danh nghĩa gì cho việc này? “Tôi hành động công bằng, trong lòng tôi chẳng có ý định nào khác. Tôi chỉ nói ra những lời này và làm những việc này với thái độ tìm kiếm lẽ thật và nghiêm túc mà thôi!” Họ nói nghe còn rất có đạo lý, lời lẽ thì chính nghĩa, nhưng thực ra mỗi một câu họ nói và mỗi một việc họ làm đều không phù hợp với lẽ thật, đều là kết quả từ tư tưởng và quan điểm sai lầm, hơn nữa chúng còn gây ra sự nhiễu loạn và gián đoạn cho công tác của hội thánh. Thế mà họ còn cho rằng: “Tôi làm vậy là đúng, tôi có lý. Anh không được lên án tôi!” Họ tin Đức Chúa Trời mà còn công kích Ngài, trong lòng tràn đầy sự không phục và phẫn uất với Đức Chúa Trời, thậm chí hạ thấp và xem thường Ngài, thế mà họ còn không biết làm vậy là sai, còn xem đó là việc đúng đắn, là bổn phận và nghĩa vụ của mình mà làm. Có thể nói loại người này có vấn đề nghiêm trọng nhất trong số nhân loại bại hoại. Biểu hiện và sự bộc lộ của họ không phải là những tư tưởng, quan điểm, hay phương thức xử sự sai lầm điển hình thường thấy nơi những người bình thường, cũng không phải là sự khiếm khuyết của nhân tính. Vậy thì chúng liên quan đến cái gì? (Thưa, liên quan đến Đức Chúa Trời, đến công tác của nhà Đức Chúa Trời.) Chúng liên quan đến thái độ của người ta đối với những điều tích cực và đối với Đức Chúa Trời. Những biểu hiện này của họ không đơn giản là liên quan đến mối quan hệ giữa người với người hay phương thức và cách thức xử sự của con người, mà chúng liên quan đến mối quan hệ giữa con người và Đức Chúa Trời, cách con người đối đãi với Đức Chúa Trời và thái độ của con người đối với Đức Chúa Trời. Thái độ của những người này đối với Đức Chúa Trời chẳng những không có chút thuận phục nào, mà trong lòng họ còn thường xuyên công kích, xét đoán và lên án mọi công tác và lời của Đức Chúa Trời không phù hợp với quan niệm của con người. Thậm chí họ còn phủ nhận chuyện lời Đức Chúa Trời đều là lẽ thật, lại còn có thể gạt bỏ mọi sự sắp xếp công tác của nhà Đức Chúa Trời. Nhìn bề ngoài thì họ không nảy sinh bất kỳ luận điệu hay tuyên bố nào theo kiểu công khai ầm ĩ, cũng không kích động mọi người theo kiểu công khai ầm ĩ, nhưng trong sâu thẳm nội tâm họ thường có những ý nghĩ xét đoán và công kích Đức Chúa Trời. Thỉnh thoảng họ có thể lan truyền một vài tư tưởng và quan điểm sai lầm xét đoán Đức Chúa Trời, lan truyền sự tiêu cực và cái chết để quấy nhiễu lòng người, khiến người ta rời xa Đức Chúa Trời. Thực chất của những người này chính là thực chất của kẻ địch lại Đấng Christ. Trong lòng kẻ địch lại Đấng Christ có quá nhiều tư tưởng và quan điểm sai lầm. Mặc dù họ không dám công khai bày tỏ ra một cách trắng trợn, nhưng khi họ tiếp xúc với người khác ở sau lưng thì chúng sẽ tự nhiên có thể bộc lộ ra. Các ngươi nói xem, dạng người này có vấn đề không? (Thưa, có.) Đây là vấn đề gì? (Thưa, dạng người này có thực chất của ma quỷ. Bởi vì Đức Chúa Trời vốn không có thù oán gì với họ, lại bày tỏ nhiều lẽ thật đến vậy để cứu rỗi con người, thế mà họ cứ luôn công kích và xét đoán Đức Chúa Trời. Trong lòng họ thù hận lẽ thật và Đức Chúa Trời, họ có thực chất của ma quỷ.) Ngươi xem, Ta giảng đạo ở đây, mọi người đều nghe như nhau, có người nghe thì trong sâu thẳm nội tâm suy ngẫm xem làm sao để có thể nghe cho hiểu, làm sao để có thể tiếp nhận: “Hôm nay chủ đề bài giảng là gì? Mình nên đối chiếu những biểu hiện bại hoại được vạch trần này với bản thân và nhận biết bản thân như thế nào?” Họ có thái độ tiếp nhận. Những người có thái độ tiếp nhận, và sống trong lương tâm, lý trí của nhân tính bình thường, thì thường xuyên đạt được chút khai sáng và sự sáng. Trong sâu thẳm nội tâm, họ không bài xích công tác của Đức Chúa Trời hay những điều tích cực. Chỉ là vì tố chất của họ kém, nên họ lĩnh hội lẽ thật hơi chậm, và thỉnh thoảng có tình trạng không ổn vì chịu sự chi phối của tâm tính bại hoại. Nhưng lòng họ thì vươn tới lẽ thật, hầu như lúc nào cũng có mối quan hệ bình thường với Đức Chúa Trời. Chỉ là thỉnh thoảng vì bị tâm tính bại hoại quấy nhiễu, nên họ nảy sinh tình trạng tiêu cực, và không gần gũi lắm với Đức Chúa Trời. Nhưng trong lòng họ không nghiên cứu, không chất vấn, cũng không chống đối hay bài xích Đức Chúa Trời, càng không có thái độ hạ thấp, chế nhạo Đức Chúa Trời hay là cười trên sự mất mát của Ngài. Nhưng lại có một bộ phận lại không như vậy. Bất kể nói về chủ đề gì, họ đều không nghe giảng với tâm thái khao khát, thuận phục và tiếp nhận lẽ thật, thay vào đó, họ nghe với tâm thái nghiên cứu và chất vấn: “Tại sao ngài giảng như vậy? Ngài giảng mấy chuyện này với mục đích gì? Ngài muốn vạch trần ai, tỏ lộ ai? Hay là ngài muốn đả kích ai, định tội ai? Chuyện này có liên quan gì đến tôi?” Nếu những người khác đều có thể tiếp nhận và đối chiếu với bản thân, thì họ sẽ khó chịu trong lòng. Nếu phát hiện có người không với tới những lẽ thật này, không đối chiếu được với bản thân, thì trong lòng họ thấy rất đắc ý, rất có cảm giác thành tựu: “Cuối cùng cũng có chuyện cười để xem, cuối cùng cũng nắm được thóp Đức Chúa Trời rồi!” Họ thường xuyên nghe giảng đạo với dạng tâm thái như vậy. Nhất là khi có những nội dung nhắm vào tình trạng và biểu hiện của họ, thì thái độ của họ không phải là tiếp nhận, khiêm nhường và thấy mình hèn mọn mà trong lòng họ cảm thấy chống đối, phản cảm và ghê tởm. Họ cảm thấy những gì Ta nói là đang thuyết giáo, đang nói chuyện trên trời. Họ không muốn nghe, mà nghe cũng không lọt. Nhất là khi nỗi đau thầm kín và điểm yếu của họ bị đụng chạm đến, thì họ càng thấy phản cảm và ghê tởm, đặc biệt khó chịu trong lòng. Họ khó chịu đâu phải vì họ thấy mình có tâm tính bại hoại nên hối hận và đau buồn, mà là vì họ chống đối và cự tuyệt những phương thức, ngôn ngữ dùng để vạch trần họ, cũng như nội dung và thực chất của việc phơi bày họ. Trong tình huống bình thường, khi một người bình thường làm một hạng mục công tác của hội thánh, chỉ cần tiếp nhận sự sắp xếp của Bề trên hoặc sự cung ứng và dẫn dắt của Bề trên với thái độ khiêm nhường và thuận phục, thì qua một thời gian họ sẽ tiến bộ phần nào. Họ sẽ nắm bắt được một vài bí quyết và cách thức, tìm được một vài nguyên tắc và con đường thực hành. Nói cách khác, họ không ngừng có sự tiến bộ, thay đổi và thu hoạch. Nhưng những người nuôi sự chống đối trong lòng thì không như vậy. Bởi vì trong lòng họ tràn đầy sự nghiên cứu, chống đối, chế nhạo và đề phòng Đức Chúa Trời, cho nên đối với họ thì Đức Chúa Trời và lẽ thật đều là đối tượng để nghiên cứu. Họ chẳng khao khát lẽ thật. Lúc làm bổn phận thì họ đều làm việc dựa vào ân tứ hoặc sự khôn vặt. Một khi gặp phải vấn đề hay khó khăn thì họ chẳng biết tìm kiếm lẽ thật để giải quyết. Họ căn bản chẳng biết gì về những chuyện liên quan đến nguyên tắc lẽ thật. Cho dù gặp vấn đề ở phương diện nào, chỉ cần có liên quan đến nguyên tắc lẽ thật, thì họ cảm thấy hao sức, vất vả và ngoài tầm với, như thể họ là con vịt bị bắt leo sào, con bò bị bắt trèo cây vậy. Dạng người này có dốc sức thế nào cũng với không tới lẽ thật. Bất kể họ nói gì, thì ngươi cũng cảm thấy họ là người ngoài, kiểu như lời họ nói khiến ngươi nghi ngờ họ tin Đức Chúa Trời bao năm nay mà rốt cuộc có từng đọc lời Đức Chúa Trời chưa, có từng thông công lẽ thật chưa, có sống đời sống hội thánh chưa vậy. Chuyện này khiến người ta chẳng thể nào tưởng tượng nổi. Có phải loại người này rất phiền phức không? Ta có một cụm từ để mô tả loại người này, đó là “thiếu linh khí”, nghĩa là khi làm một việc đơn giản nhất mà họ cũng không nắm được cách thức, có bỏ sức ra thì cũng chẳng nắm được bí quyết. Thiếu linh khí không hẳn nghĩa là người ta trông đờ đẫn chậm chạp, mà nghĩa là họ làm việc thì không có đầu óc, làm việc gì cũng chẳng tìm ra được nguyên tắc hay phương hướng, cho dù đã làm bao nhiêu lâu vẫn không nắm bắt được quy luật. Nhất là khi liên quan đến các hạng mục công tác của nhà Đức Chúa Trời, mặc dù họ có trình độ văn hóa, tuổi tác cũng chưa cao, nhưng khi làm bổn phận và công tác trong nhà Đức Chúa Trời, thì trông họ đặc biệt vụng về. Người ta nhìn vào họ thì đều phát bực, cảm thấy chẳng thể nào tưởng tượng nổi. Một người đang sống rành rành ra đó, có trình độ văn hóa và ân tứ, vậy tại sao chẳng đảm nhiệm được hạng mục công tác nào? Tại sao họ lại vụng về đến vậy? Lúc làm việc ở thế gian, họ cũng đâu có kém, tại sao khi làm công tác của nhà Đức Chúa Trời, thì trông họ lại gượng gạo và kém cỏi đến vậy chứ? Trong chuyện này có vấn đề. Lúc tin Đức Chúa Trời được ba năm đến năm năm, loại người này chỉ hiểu được chút câu chữ và đạo lý đó, nói năng thì toàn hô hào khẩu hiệu, làm việc thì chẳng có chút nguyên tắc nào. Sau khi tin Đức Chúa Trời được bảy năm hay tám năm, thì những gì họ nói ra vẫn là những thứ đó, chẳng có chút tiến bộ nào cả. Họ như bông hoa nhựa, chẳng thay đổi chút gì. Họ vẫn không có chút nhận thức nào về bản thân, không bước vào lời Đức Chúa Trời chút nào, cũng chẳng có chút thu hoạch nào. Họ mà thông công lẽ thật thì giống như đang kể chuyện hoặc nói về chuyện trong nhà mình, nghe sao mà gượng gạo thế? Người ta nói: “Chúng ta phải tận tụy làm bổn phận, dâng lên lòng thành, làm tốt bổn phận và dâng mình cho Đức Chúa Trời”. Nhưng họ thì nói gì? “Chúng ta hãy làm cho hết sức, làm cho đàng hoàng và làm cho tốt!” Họ tin Đức Chúa Trời hơn chục năm, mà ngay cả mấy chữ “tận tụy làm bổn phận” cũng không nói ra được, chỉ biết nói “Dốc thêm sức, làm thêm việc, làm việc vì nhà Đức Chúa Trời, hiến mạng vì nhà Đức Chúa Trời. Chúng ta không có gì khác, chỉ có sức lực này!” Những lời ngươi nghe họ nói đó đều là lời của người ngoài, chứ những thuật ngữ thuộc linh thì họ còn không nói cho trọn được. Loại người này tin Đức Chúa Trời cũng được kha khá năm rồi, tối thiểu đã bảy đến mười năm, làm bổn phận trong nhà Đức Chúa Trời suốt, cũng nghe không ít bài giảng, vậy tại sao khi nói, họ chẳng bao giờ vận dụng các thuật ngữ thuộc linh? Cái mà loại người này ngày ngày nghĩ, tơ tưởng, suy ngẫm và suy xét đến là gì? Đây hoàn toàn là một bí ẩn! Ngươi mà quan sát một thời gian thì sẽ có thể phát hiện ra những gì họ suy nghĩ, suy ngẫm và tơ tưởng mỗi ngày thực ra đều là những chuyện của xác thịt. Họ nhỏ nhen, hẹp hòi, so đo, suốt ngày cứ vướng bận với những chuyện vặt vãnh vô ích, chẳng có ý nghĩa gì và chẳng có chút quan hệ gì với lẽ thật, như ai tốt ai xấu, ân oán cá nhân, v.v.. Tư tưởng, cách nhìn nhận và quan điểm của họ toàn bộ đều sai lầm, vô lý và hoang đường. Nhìn bề ngoài thì loại người này có vẻ có trình độ văn hóa và có tố chất, thậm chí có người ở ngoài xã hội còn điều hành công ty, vậy tại sao sau khi tin Đức Chúa Trời lại chẳng thấy nơi họ có chút linh khí gì vậy? Nhìn kiểu gì cũng thấy họ giống tượng gỗ hay rô-bốt. Tại sao họ làm bất kỳ bổn phận nào cũng vụng về đến vậy? Tại sao thuật ngữ thuộc linh từ miệng họ nói ra lại gượng gạo đến vậy? Họ còn không bằng con vẹt học nói nữa. Nếu ngươi luôn nói trước mặt con vẹt câu “Amen, tạ ơn Đức Chúa Trời!” thì nó có thể học nói câu đó rất trôi chảy. Nhưng loại người này, ngay cả câu “Tạ ơn Đức Chúa Trời” mà cũng không biết nói, họ cứ nói “Cảm ơn Đức Chúa Trời!”. Nếu nhìn vào nguyên tắc xử sự của họ, nhìn vào những gì họ suy nghĩ, tính toán và lên kế hoạch trong lòng mỗi ngày, nhìn vào những thứ họ yêu thích và say mê mưu cầu trong lòng, thì thấy chúng đều chẳng có chút quan hệ gì với những điều tích cực, mà toàn là những điều tiêu cực và những thứ của trào lưu tà ác. Do đó, mọi suy nghĩ trong lòng loại người này đều là ác, câu này không sai chút nào. Ngay cả khi thông công trong các buổi nhóm họp, nội dung họ thông công và tư tưởng, quan điểm họ bộc lộ cũng đều là những thứ lệch lạc. Họ chẳng tìm kiếm lẽ thật chút nào, và chẳng có cách nào đạt được bất kỳ sự khai sáng và soi sáng nào. Lúc người khác thông công và chia sẻ những sự khai sáng và soi sáng, cùng nhận thức có được từ lời Đức Chúa Trời, thì họ có vẻ rất gượng gạo, rất lạc loài, và luống cuống không biết làm thế nào. Khi liên quan đến chuyện ra sức làm việc, thì họ còn có sức lực và sẵn lòng làm việc chăm chỉ, nhưng nếu bảo họ thông công về lẽ thật thì họ chẳng biết thông công gì cả. Loại người này tin Đức Chúa Trời bao nhiêu năm cũng chẳng hề ngộ ra được con người sống thì nên đi con đường nào và mưu cầu điều gì mới có giá trị nhất. Người có chút lương tâm và lý trí, thì cho dù không tin Đức Chúa Trời, nhưng khi sống đến năm, sáu chục tuổi, cũng có thể ngộ ra được một vài thường thức và kiến thức mà người ta sống thì nên có, đi sâu hơn một chút, họ cũng có thể ngộ ra được một vài triết lý nhân sinh. Người tin Đức Chúa Trời thì khỏi phải nói, tin Đức Chúa Trời được mười, hai mươi năm, họ sẽ có thể hiểu được một vài lẽ thật, có thể nảy sinh đức tin và lòng kính sợ thực sự đối với Đức Chúa Trời. Nhưng người không yêu thích lẽ thật, thì bất kể đã tin Đức Chúa Trời bao nhiêu năm, họ cũng chẳng có bất kỳ năng lực nhận thức hay cảm giác nào về những chuyện trong đời, con đường nên đi, hay chuyện thuộc linh sự sống. Họ sống đến trăm tuổi thì cũng chỉ biết nói vài câu đạo lý đó và cố sống cố chết bám giữ vài quan điểm đó. Chẳng phải loại người này rất phiền phức sao? Nếu loại người này có nhân tính ác thì họ chính là ma quỷ và Sa-tan. Nếu họ không phải là kẻ ác, mà chỉ là kẻ hồ đồ, tê dại và ngớ ngẩn, thì họ là thứ gì? (Thưa, là động vật.) Họ chính là do động vật đầu thai, không sai chút nào. Hai loại người do ma quỷ đầu thai và động vật đầu thai có một điểm chung, chính là họ không tiếp nhận lẽ thật và chán ghét lẽ thật. Chỉ cần ngươi thông công về lẽ thật, thì loại người do ma quỷ đầu thai sẽ lộ ra sự chán ghét và chống đối rõ rệt, họ có có ý nghĩ và tư tưởng, quan điểm rõ ràng đối với mỗi một lẽ thật. Trong khi đó, loại người do động vật đầu thai thì không có tư tưởng và quan điểm rõ ràng, họ cứ mơ mơ hồ hồ, chỉ là trong lòng họ thấy có ác cảm và không tiếp nhận lẽ thật. Họ cũng có một vài tư tưởng và quan điểm lệch lạc, căn bản không thể nào đứng vững được, những quan điểm này đều là thứ mà người ta chẳng dám nói ra, và người bình thường đều không mở miệng nói ra nổi, nhưng họ lại rất trân quý chúng. Tóm lại biểu hiện của hai loại người do ma quỷ đầu thai và động vật đầu thai chính là có thái độ phản cảm và ghê tởm cực độ đối với lẽ thật. Loại thứ nhất thì thấy phản cảm, ghê tởm và lên án một cách rất chủ quan. Loại kia thì thấy phản cảm, ghê tởm, và xa lánh theo kiểu không có ý thức, mặc dù không quá khích bằng, nhưng tính chất thái độ của họ đối với lẽ thật cũng giống như loại trước. Vì vậy, bất kể hai loại người này nghe bao nhiêu bài giảng thì cũng chẳng hiểu và chẳng nắm rõ được, bởi vì căn bản họ nghe mà không lọt. Nếu tin Đức Chúa Trời ba năm rồi mà vẫn không thể nói cho trọn, nói cho tốt những thuật ngữ thuộc linh, thì còn có thể châm chước được, bởi vì thuật ngữ thuộc linh là điều xa lạ với bất kỳ ai và là một loại ngôn ngữ mới mẻ. Khi mới tin Đức Chúa Trời, người ta nghe mà không hiểu rõ và còn rất xa lạ với rất nhiều thuật ngữ thuộc linh. Nhưng khi tin Đức Chúa Trời từ năm năm trở lên, thường xuyên nghe giảng đạo, thường xuyên thông công về lẽ thật và thường xuyên tiếp xúc với dạng ngôn ngữ này, thì người ta sẽ dần dần quen thuộc với nó, sẽ có thể nói rất trôi chảy, rất lưu loát, rất tự nhiên và rất thoải mái. Họ sẽ biết vận dụng nó, biến nó thành ngôn ngữ của riêng mình, thành một phần trong cuộc sống của mình. Đây đều là những biểu hiện của người bình thường. Người không có biểu hiện của người bình thường thì không làm được những việc này. Ngay cả khi họ nói ra một vài thuật ngữ thuộc linh cơ bản thì cũng có vẻ rất gượng gạo, khiến người ta khó hiểu. Khi qua lại với dạng người này thì rất khó nghe được một câu nào họ nói mà đem lại sự gây dựng cho người khác, có lý tính, hoặc hoàn chỉnh. Họ nói lời nào cũng lỡ dở, có đầu thì thiếu đuôi, có đuôi thì thiếu đầu, không thì lại chẳng có tư duy lô-gic, chỉ là một loạt lời nhảm nhí. Sống đến từng tuổi đó rồi, mà họ chẳng biết nói chuyện. Họ chẳng biết diễn đạt, chẳng biết mô tả và chẳng giải thích rõ được những ý nghĩ trong lòng và những gì họ đã trải nghiệm. Họ luôn nói nửa chừng, trông lúc nào cũng khờ khạo, không thì cũng diễn đạt những tư tưởng và quan điểm lệch lạc. Từ thái độ của họ đối với Đức Chúa Trời, từ những sự bộc lộ và biểu hiện của họ trong cuộc sống thường nhật, hay từ chuyện họ sống ngần ấy năm mà chẳng thu hoạch được gì, bất kể xét từ góc độ nào thì loại người này cũng là thứ phi nhân. Thứ phi nhân mà muốn đạt đến việc hiểu lẽ thật thì có dễ dàng không? (Thưa, không dễ dàng.) Hiện nay, càng nhìn càng thấy rõ, loại người này không dễ đạt đến việc hiểu lẽ thật.
Về phương diện biết đúng sai, thông qua việc thảo luận về các ví dụ, hẳn các ngươi đã biết cách phân định đúng sai rồi phải không? Hầu hết ví dụ chúng ta đưa ra là ví dụ về mặt tiêu cực. Khi lấy ví dụ về mặt tiêu cực mà so sánh, thì về cơ bản người ta sẽ biết điều gì là điều tích cực. Hễ là người có phẩm chất của nhân tính thì đều có tri giác về những chuyện tiêu cực này. Do đó, chỉ khi ở trong trường hợp đặc biệt thì người bình thường mới làm ra những chuyện như vậy, hơn nữa sau khi làm rồi, họ sẽ có cảm giác khó chịu và đau khổ, sẽ có thái độ hối cải. Nhưng thứ phi nhân thì khác. Cho dù họ có làm những chuyện này cả trăm năm thì cũng chẳng biết rằng mình sai, lại còn cho rằng mình đúng và muốn giữ vững chúng đến cùng. Ngươi mà vạch trần họ làm vậy là sai, thì họ còn phản bác rằng: “Anh dựa vào cái gì mà bảo tôi làm vậy là sai? Tôi làm vậy biết bao nhiêu năm rồi, đâu có ai bảo tôi sai”. Nghe lời này của họ thì ngươi có cảm giác gì? (Thưa, con cảm thấy người này bất chấp lý lẽ.) Chính là bất chấp lý lẽ. Ngươi nói cho họ biết làm vậy là sai, thì họ cũng chẳng tiếp nhận, chẳng biết đúng sai chút nào. Thế thì ngươi chỉ biết cạn lời: “Anh bất chấp lý lẽ, tôi không nói với anh nữa!” Các ngươi đã rõ về biểu hiện của thứ phi nhân chưa? (Thưa, rõ rồi.) Đối với những chuyện về cuộc sống, tình cảm, cách làm người và xử sự, hoặc những chuyện liên quan đến nhân cách và tôn nghiêm, thì thứ phi nhân đều không hiểu, cũng có thể nói là họ với không tới những điều này. Họ cứ yên tâm thoải mái mà chọn lấy những tư tưởng, quan điểm và cách làm sai lầm để đối đãi với con người và sự việc, để làm người và hành động. Hơn nữa, họ còn một mực kiên trì, còn cho rằng làm vậy là đúng. Điều này cho thấy trong nhân tính của họ căn bản không có lương tâm và lý trí. Thế thì quá hiển nhiên là những người này không có đặc tính của nhân tính, chỉ có thể nói rằng những người này là thứ phi nhân. Họ chẳng có chút lương tâm và lý trí nào, toàn sống theo triết lý của Sa-tan, cho rằng mình không tệ, lại còn không chịu phục ai. Những người này sau khi tin Đức Chúa Trời mà dâng mình một chút cho Ngài thì sẽ cho rằng mình là người yêu kính và thuận phục Đức Chúa Trời. Loại người này ngoài miệng thì nói yêu kính Đức Chúa Trời, nhưng trong lòng lại có quan niệm về Ngài, khi thấy Ngài làm những việc không hợp quan niệm của mình, họ còn có thể xét đoán và chống đối Ngài. Trong tình hình đó mà họ còn nói khoác không ngượng mồm rằng mình là người yêu kính Đức Chúa Trời nhất, thì chẳng phải là họ bất chấp lý lẽ hay sao? Có quá nhiều loại người như vậy trong giới tôn giáo. Ngoài miệng thì họ giảng Kinh Thánh, bề ngoài thì có vẻ hiểu hết mọi đạo lý, nhưng họ lại không nhận ra được những lẽ thật mà Đức Chúa Trời bày tỏ, họ tin Đức Chúa Jêsus mà vẫn lên án Đức Chúa Trời nhập thể. Người tin Đức Chúa Trời mà lại chống đối Ngài, còn có thể nắm thóp mà công kích Ngài, luôn nghĩ cách tính kế với Ngài, luôn muốn xét đoán Ngài, muốn đánh giá xem lời Ngài đúng hay sai, đánh giá xem việc Ngài làm đúng hay sai, và nghiên cứu xem Ngài đúng hay sai, thì dạng người này có lương tâm và lý trí không? Ngươi tin Đức Chúa Trời và ăn uống lời Ngài, hưởng thụ nhiều ân điển và phúc lành của Ngài đến vậy, mà chỉ cần phát hiện ra một việc Ngài làm không phù hợp với quan niệm của ngươi, là ngươi dám xét đoán, chống đối và lên án Ngài, thì đây chính là bất chấp lý lẽ. Người bất chấp lý lẽ là thứ phi nhân, không xứng đáng tin Đức Chúa Trời, và không xứng đáng đến trước mặt Ngài.
Được rồi, hôm nay, thông công đến đây thôi. Tạm biệt!
Ngày 27 tháng 4 năm 2024