67. Sau khi được chẩn đoán ung thư
Năm 1997, tôi bắt đầu tin vào Đức Chúa Jêsus vì không thể chữa khỏi bệnh viêm ruột mãn tính của mình, và sau khi tìm thấy Chúa, bệnh tình của tôi đã cải thiện rất nhiều. Hai năm sau, tôi đón nhận công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng trong thời kỳ sau rốt, và kể từ đó đã luôn làm bổn phận trong hội thánh. Bệnh viêm ruột mãn tính của tôi đã khỏi hẳn từ lúc nào mà tôi không hề hay biết. Tôi càng thêm nhiệt tình hơn trong việc thực hiện bổn phận, và không bao giờ thoái thác hay từ chối bất kỳ bổn phận nào mà hội thánh giao phó. Dù bị chồng cản trở và bách hại, hay bị Đảng Cộng Sản bắt bớ và bách hại, tôi cũng không bao giờ chùn bước, và không bao giờ trì hoãn bổn phận.
Một ngày tháng 5 năm 2020, tôi bỗng cảm thấy cổ khó chịu, cảm giác như bị nghẹt lại, nên đã đến bệnh viện khám. Tôi được chẩn đoán bị u tuyến giáp. Sau khi kiểm tra, bác sĩ nói: “Không nghiêm trọng lắm đâu, chỉ cần uống thuốc và sáu tháng tái khám một lần là được. Miễn là không có gì bất thường thì không cần điều trị”. Nghe bác sĩ nói vậy, tôi nghĩ: “Đây không phải là bệnh nghiêm trọng. Chỉ cần mình nỗ lực với bổn phận, thì Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ mình”. Vì vậy, tôi uống thuốc và tiếp tục thực hiện bổn phận, và bệnh tình của tôi có vẻ thuyên giảm chút ít. Năm 2023, tình trạng của tôi bỗng trở nặng. Khi ngủ, tôi cảm thấy có áp lực ở cổ, và việc thở cũng trở nên nặng nhọc. Tôi nói chuyện rất khó khăn và phải cố gắng lắm mới nói được. Sau khi kiểm tra, bác sĩ cho biết tình trạng của tôi đang tiến triển thành ung thư và cần phải phẫu thuật. Tôi nghĩ: “Mình hiện đang thực hiện bổn phận lãnh đạo, ngày nào cũng bận rộn từ sáng đến tối. Mình sẽ được Đức Chúa Trời bảo vệ vì đã nỗ lực và dâng mình, mình sẽ không bị ung thư đâu”. Vì vậy, tôi không thấy sợ lắm, và đã được phẫu thuật. Ca phẫu thuật thành công, và sang ngày thứ hai sau ca phẫu thuật, tôi đã có thể ra khỏi giường với sự giúp đỡ của gia đình. Tôi cảm thấy đây là sự chăm sóc, bảo vệ của Đức Chúa Trời và cảm tạ Ngài từ tận đáy lòng.
Nửa tháng sau, tôi đến bệnh viện để lấy hồ sơ y tế. Tôi thấy trong hồ sơ ghi rõ là có khối u ác tính, ung thư, và bắt đầu cảm thấy lo lắng. Tôi nghĩ: “Vậy là mình thật sự mắc ung thư! Dù đã được phẫu thuật, nhưng có thể bệnh sẽ tái phát hoặc di căn vào một ngày nào đó. Vậy có nghĩa là mình sắp chết sao? Tại sao Đức Chúa Trời không bảo vệ mình? Suốt hơn hai mươi năm qua, mình đã chịu đựng nhiều trong bổn phận. Mình đã kiên trì thực hiện bổn phận bất chấp nhiều khó khăn và nguy hiểm, vậy sao mình vẫn bị ung thư chứ? Nếu biết trước sẽ bị ung thư, mình đã không vứt bỏ gia đình và công việc để làm bổn phận. Mình đã nghĩ bản thân sẽ có được sự cứu rỗi từ Đức Chúa Trời cùng một đích đến tốt đẹp trong tương lai, nhưng giờ mình lại mắc bệnh nan y và có lẽ sẽ chết, đích đến tốt đẹp ấy đã xa tầm với!”. Càng nghĩ, tôi càng thấy tuyệt vọng và đau khổ. Tôi cảm thấy mình thật thảm bại, và không kìm được nước mắt. Những ngày sau đó, trong đầu tôi lúc nào cũng vang vọng hai chữ: ung thư. Tôi cảm thấy chán nản vô cùng. Tôi mất ăn mất ngủ, toàn thân đau nhức, hai tay tê dại. Tôi đến trước Đức Chúa Trời để cầu nguyện, kể cho Ngài nghe về tình trạng của mình, hy vọng Ngài sẽ giúp tôi hiểu được tâm ý của Ngài. Sau đó, tôi đã đọc lời Đức Chúa Trời về cách đối diện với bệnh tật. Tôi đọc được một đoạn lời này của Đức Chúa Trời và hiểu rõ hơn một chút về tâm ý của Ngài. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Khi Đức Chúa Trời an bài cho ai đó mắc bệnh, dù là bệnh nặng hay nhẹ, thì mục đích của Ngài khi làm vậy không phải là để khiến ngươi lĩnh hội ngóc ngách ngọn nguồn của bệnh tật, tổn hại mà bệnh tật gây ra cho ngươi, những khó khăn và bất tiện mà bệnh tật gây ra cho ngươi, cùng vô số những cảm xúc mà bệnh tật mang đến cho ngươi – mục đích của Ngài không phải là để ngươi lĩnh hội về bệnh tật thông qua việc bị bệnh, mà đúng hơn, mục đích của Ngài là để ngươi rút ra được những bài học từ bệnh tật, học cách cảm nhận tâm ý Đức Chúa Trời, biết những tâm tính bại hoại mà mình bộc lộ cũng như những thái độ sai lầm của ngươi đối với Đức Chúa Trời khi bị bệnh, học cách thuận phục quyền tối thượng và sự an bài của Đức Chúa Trời, để ngươi có thể đạt được sự thuận phục thực sự đối với Đức Chúa Trời cũng như có thể đứng vững trong chứng ngôn của mình – đây mới chính là điều then chốt. Thông qua bệnh tật, Đức Chúa Trời muốn cứu rỗi và làm cho ngươi tinh sạch. Ngài muốn làm tinh sạch điều gì nơi ngươi? Ngài muốn làm tinh sạch mọi ham muốn và yêu cầu ngông cuồng của ngươi đối với Đức Chúa Trời, thậm chí là làm tinh sạch cả những tính toán, phán đoán và kế hoạch khác nhau mà ngươi làm bằng mọi giá để sống và tồn tại. Đức Chúa Trời không yêu cầu ngươi lập kế hoạch, Ngài không yêu cầu ngươi phán đoán, và Ngài không cho phép ngươi có bất kỳ mong muốn ngông cuồng nào đối với Ngài; Ngài chỉ yêu cầu ngươi thuận phục Ngài, và trong quá trình ngươi thực hành và trải nghiệm sự thuận phục, ngươi phải nhận biết thái độ của mình đối với bệnh tật, biết thái độ của mình đối với những tình trạng thân thể mà Ngài ban cho ngươi, cũng như những mong muốn cá nhân của ngươi. Khi nhận ra được những điều này, ngươi mới có thể lĩnh hội được việc Đức Chúa Trời sắp đặt hoàn cảnh bệnh tật cho ngươi hay Ngài ban cho ngươi những tình trạng thân thể này mới có lợi cho ngươi làm sao; và ngươi mới lĩnh hội được sự hỗ trợ rất lớn của chúng trong việc thay đổi tâm tính của ngươi, việc ngươi đạt được sự cứu rỗi cũng như lối vào sự sống của ngươi. Chính vì thế, khi bệnh tật ập đến, ngươi không được lúc nào cũng tự hỏi làm sao để có thể thoát khỏi, trốn tránh hay cự tuyệt nó” (Cách mưu cầu lẽ thật (3), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, lòng tôi cảm thấy sáng tỏ hơn. Hóa ra, căn bệnh này không phải là để Đức Chúa Trời tỏ lộ và đào thải tôi, mà là Ngài đang thanh lọc tâm tính bại hoại của tôi và cứu rỗi tôi. Nhưng tôi đã không tìm kiếm tâm ý của Đức Chúa Trời, mà lại nghĩ rằng tôi mắc bệnh là vì Ngài muốn tỏ lộ và đào thải tôi. Tôi đã sống trong tuyệt vọng, lý luận và oán trách Đức Chúa Trời, thậm chí còn hối hận về những nỗ lực và sự dâng mình trước đây của bản thân. Tôi thấy mình thật vô lương tâm! Giờ thì tôi đã hiểu dù bệnh tình của mình có tái phát hay di căn và phát triển đến mức nào, tất cả đều là ở tâm ý của Đức Chúa Trời. Tôi không thể tiếp tục hiểu lầm Đức Chúa Trời nữa. Tôi phải tìm kiếm lẽ thật để giải quyết vấn đề của mình.
Tôi nhớ có một đoạn lời Đức Chúa Trời về cách đối diện đúng đắn với cái chết, nên tôi đã tìm lại và đọc nó. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Chuyện chết đi hẳn là giống với những chuyện khác về tính chất, đều không do con người lựa chọn, lại càng không thay đổi vì ý chí của con người. Cái chết và bất kỳ chuyện lớn nào khác trong cuộc đời đều giống nhau cả, đều nằm dưới sự tiền định và tể trị của Đấng Tạo Hóa. Nếu có người đòi chết, chưa chắc họ đã chết, nếu có người đòi sống, chưa chắc họ sẽ sống, mọi sự đều nằm dưới sự tể trị và tiền định của Đức Chúa Trời, mọi sự đều được thay đổi và được quyết định bởi quyền hành và tâm tính công chính của Đức Chúa Trời, bởi sự an bài và tể trị của Ngài. Cho nên, ngươi bị bệnh nặng, một căn bệnh nặng có thể dẫn đến cái chết, nhưng chưa chắc sẽ chết, vậy cái chết này do ai quyết định? (Thưa, do Đức Chúa Trời.) Là do Đức Chúa Trời quyết định. Nếu đã do Đức Chúa Trời quyết định, con người không quyết định được chuyện này, thì họ còn sầu cái gì, lo lắng cái gì? … Khi đối mặt với chuyện trọng đại như cái chết, việc nên làm không phải là sầu khổ, không phải lo lắng, sợ hãi, mà là gì? Là chờ đợi, đúng không? (Thưa, đúng.) Đúng phải không? Chờ đợi có phải là chờ chết hay không? Đối mặt với cái chết thì chờ chết? Vậy đúng không? (Thưa, không đúng, mà nên đối mặt một cách tích cực, và thuận phục.) Đúng rồi, chứ không phải là chờ chết. Nghĩa là ngươi đừng bị chuyện chết đi này hù dọa, cũng đừng dùng hết sinh lực để ngẫm nghĩ về chuyện này, đừng suốt ngày nghĩ: ‘Mình có thể chết không? Khi nào thì mình chết? Sau khi chết rồi thì mình phải làm sao?’. Đừng nghĩ đến những chuyện này nữa. Có những người nói: ‘Sao lại không suy nghĩ cho được? Chết đến nơi rồi tại sao không suy nghĩ một chút chứ?’. Bởi vì ngươi có thể chết hay không vẫn là một ẩn số, Đức Chúa Trời có để cho ngươi chết hay không cũng là một ẩn số, đều là chuyện không biết được. Nói cụ thể hơn, thì chuyện chết lúc nào, chết ở đâu, chết vào giờ nào, khi chết thân thể của ngươi cảm thấy thế nào, thì đều không biết được. Chuyện mình không biết được mà ngươi còn nhọc lòng suy nghĩ, nghiền ngẫm như vậy, còn âu lo, lo lắng vì nó, thì ngươi có phải ngu xuẩn hay không? Nếu đã là ngu xuẩn, thì con người không nên hao tổn tâm huyết về nó” (Cách mưu cầu lẽ thật (4), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, lòng tôi càng thêm sáng tỏ. Ai rồi cũng sẽ chết, và việc ta mắc bệnh gì và khi nào qua đời đều đã được Đức Chúa Trời định trước. Sự sống và cái chết của một con người không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài, mà hoàn toàn phụ thuộc vào quyền tể trị và tiền định của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã định trước mỗi người sẽ sống được bao lâu, điều này không liên quan đến tình trạng sức khỏe hay liệu họ có mắc bệnh nặng hay không. Tôi nhớ đến mẹ mình, bà là người luôn khỏe mạnh nhưng cuối cùng lại bị liệt nửa người và qua đời chỉ sau vài năm. Nhưng có một người hàng xóm, tôi nghe nói sức khỏe của chị ấy kém đi từ khi bốn mươi tuổi. Chị ấy thường xuyên đau ốm, không thể làm việc ngoài đồng, chỉ có thể nấu nướng và làm nội trợ, mà nay đã sống đến hơn chín mươi tuổi. Điều này cho thấy sức khỏe và tuổi thọ của một người vốn đã được Đức Chúa Trời định trước. Kể cả mắc bệnh nặng, nếu thời điểm mà Đức Chúa Trời đã định cho người đó chưa đến, thì người đó sẽ không chết. Nghĩ đến đây, tôi đã có thể bình tĩnh lại để đối diện với căn bệnh của mình.
Sau đó, tôi đã đọc thêm những lời này của Đức Chúa Trời: “Ngươi nói xem, trong số hàng tỷ người trên toàn thế giới này, có ai có phúc phận được nghe nhiều lời Đức Chúa Trời như vậy, hiểu nhiều lẽ thật về cuộc đời như vậy, hiểu nhiều lẽ mầu nhiệm như vậy không? Ai có thể đích thân tiếp nhận sự dẫn dắt và chu cấp của Đức Chúa Trời, tiếp nhận sự chăm sóc và bảo vệ của Ngài? Có ai có phúc phận này? Không có mấy người. Cho nên, những người như các ngươi hôm nay có thể sống trong nhà Đức Chúa Trời, tiếp nhận sự cứu rỗi và sự chu cấp của Đức Chúa Trời, nghĩa là hiện tại dù các ngươi có chết cũng đáng giá, các ngươi được hưởng quá nhiều phúc phận rồi, có phải không? (Thưa, phải.) Xét từ điểm này, con người không nên bị chuyện chết hù dọa và kìm kẹp. Mặc dù không hưởng thụ được vinh hoa phú quý gì của thế gian, nhưng ngươi lại được Đấng Tạo Hoá rủ lòng thương xót, được nghe nhiều lời Đức Chúa Trời như vậy, đây có phải là hạnh phúc hay không? (Thưa, phải.) Cuộc đời này của ngươi dù sống được bao nhiêu năm cũng đáng giá, không có gì hối tiếc, bởi vì ngươi đã từng liên tục thực hiện bổn phận của mình trong công tác của Đức Chúa Trời, đã hiểu lẽ thật, hiểu lẽ mầu nhiệm của cuộc đời, hiểu con đường và mục tiêu nên mưu cầu trong đời, ngươi đã đạt được quá nhiều rồi! Ngươi đã sống thật đáng giá!” (Cách mưu cầu lẽ thật (4), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). Việc một người tầm thường như tôi có thể được đón nhận công tác của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt chính là sự nâng đỡ của Ngài. Tin Đức Chúa Trời hơn hai mươi năm, tôi đã được hưởng biết bao sự chăm tưới và chu cấp từ lời Ngài, cũng như sự chăm sóc và bảo vệ của Ngài. Nhưng khi đổ bệnh, tôi vẫn hiểu lầm, oán trách, lý luận và chống đối Ngài. Tôi hoàn toàn không có gì để làm chứng ngôn cả, và đã trở thành một dấu chỉ đáng hổ thẹn. Tôi đã vô cùng đau khổ, nghĩ rằng dù tin Đức Chúa Trời suốt nhiều năm, nhưng tôi vẫn chưa đi sâu vào thực tế lẽ thật, và nếu chết đi thì tôi sẽ chỉ để lại những nuối tiếc. Nhưng bởi vẫn còn sống, tôi cảm thấy mình phải nghiêm túc mưu cầu lẽ thật, và không cần biết còn sống được bao lâu, tôi vẫn phải trân trọng từng ngày, làm hết bổn phận của một loài thọ tạo, để không có gì phải hối tiếc.
Sau đó, tôi đã đọc thêm được đoạn lời này của Đức Chúa Trời và vô cùng cảm động. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Nhiều người theo Đức Chúa Trời chỉ quan tâm đến việc làm thế nào để đạt được ân phước hay ngăn chặn tai ương. … Những người như thế chỉ có một mục tiêu đơn giản trong việc theo Đức Chúa Trời, và mục tiêu đó là để nhận lãnh ân phước. Những người như thế chẳng màng chú ý đến bất kỳ thứ gì khác mà không trực tiếp liên quan đến mục tiêu này. Đối với họ, không có mục tiêu nào chính đáng hơn là tin vào Đức Chúa Trời để nhận lãnh ơn phước – đó chính là giá trị đức tin của họ. Nếu điều gì không đóng góp vào mục tiêu này, họ cứ hoàn toàn thờ ơ với nó. Đây là tình hình của hầu hết mọi người tin vào Đức Chúa Trời ngày nay. Mục tiêu và ý định của họ có vẻ chính đáng, bởi vì khi họ tin Đức Chúa Trời, họ cũng dâng mình cho Đức Chúa Trời, dâng hiến cho Đức Chúa Trời, và thực hiện bổn phận của mình. Họ hy sinh tuổi trẻ, từ bỏ gia đình và sự nghiệp, và thậm chí còn sống nhiều năm tất bật xa gia đình. Vì mục đích cuối cùng của họ, họ thay đổi niềm hứng thú của riêng mình, quan điểm về cuộc sống của mình, và thậm chí là phương hướng tìm kiếm của mình; thế nhưng họ vẫn không thể thay đổi mục tiêu đức tin của mình vào Đức Chúa Trời. … Bây giờ, hãy thôi bàn thảo về việc những người này đã cho đi bao nhiêu. Tuy nhiên, hành xử của họ rất đáng để chúng ta mổ xẻ. Ngoài những lợi ích trực tiếp liên quan đến họ, liệu có còn các lý do nào khác để những người mà chẳng bao giờ hiểu Đức Chúa Trời lại dâng hiến quá nhiều cho Ngài? Trong việc này, chúng ta phát hiện ra một vấn đề mà trước đây chưa xác định được: Mối quan hệ của con người với Đức Chúa Trời chỉ là quan hệ lợi ích trần trụi. Đó là mối quan hệ giữa người ban phúc và người nhận phúc. Nói thẳng ra, nó là quan hệ giữa người làm công và người chủ. Người làm công chăm chỉ làm việc chỉ để nhận tiền thưởng của người chủ. Trong mối quan hệ như thế thì chẳng có thân tình, mà chỉ có giao dịch. Chẳng có yêu mến hay được yêu mến, chỉ có sự bố thí và thương xót. Chẳng có thấu hiểu, chỉ có bất lực bấm bụng nuốt giận và lừa dối. Chẳng có sự thân tình, chỉ có một hố sâu ngăn cách không thể vượt qua” (Phụ lục 3: Con người chỉ có thể được cứu rỗi giữa sự quản lý của Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Lời Đức Chúa Trời đã vạch trần chính xác tình trạng của tôi. Sau khi tin Đức Chúa Trời và thấy Ngài chữa lành bệnh tật cho mình, tôi đã vứt bỏ gia đình và sự nghiệp để làm bổn phận. Ngay cả khi bị gia đình bách hại và đối mặt với nguy cơ bị bắt, tôi cũng không hề bị lay chuyển. Nhưng khi biết mình mắc ung thư và hy vọng nhận phúc lành tan vỡ, tôi đã lý luận với Đức Chúa Trời, oán trách Ngài không bảo vệ tôi, hối hận vì đã dâng mình và bỏ ra bao công sức, không còn muốn cầu nguyện với Đức Chúa Trời hay đọc lời Ngài nữa. Chỉ đến lúc đó tôi mới thấy rằng mối quan hệ của mình với Đức Chúa Trời hoàn toàn mang tính giao dịch. Tôi muốn đổi sự dâng mình và nỗ lực của bản thân để có được đích đến tốt đẹp. Tôi đã cố gắng lừa dối và lợi dụng Đức Chúa Trời. Tôi thật ích kỷ và đê tiện! Một người có nhân tính sẽ không hiểu lầm hay oán trách Đức Chúa Trời khi đối mặt với sự thử luyện, mà sẽ tìm kiếm tâm ý của Ngài, và ngay cả trong đau khổ, họ vẫn sẽ đứng ở vị trí loài thọ tạo của mình, để Đức Chúa Trời tùy ý sắp đặt. Khi nhìn lại bản thân mình, tôi đã coi tất cả ân điển và phúc lành mà Đức Chúa Trời ban cho là điều hiển nhiên, và khi có chuyện không vừa ý, tôi lại đổ lỗi cho Ngài. Tôi thật thiếu nhân tính và không đáng được sống. Dù Đức Chúa Trời có hủy diệt tôi, đó cũng là sự công chính của Ngài! Nhưng Đức Chúa Trời vẫn cho tôi cơ hội ăn năn, dùng lời Ngài để khai sáng và dẫn dắt tôi phản tỉnh. Tôi không thể hiểu lầm hay oán trách Đức Chúa Trời nữa. Tôi phải mưu cầu lẽ thật và làm tốt bổn phận của mình.
Sau đó, tôi đã đọc thêm đoạn lời này của Đức Chúa Trời và tìm thấy vài con đường thực hành. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Không có mối tương quan giữa bổn phận của con người và việc liệu họ được phúc hay gánh họa. Bổn phận là việc con người phải thực hiện; đó là thiên hướng của họ và không nên lệ thuộc vào sự tưởng thưởng, điều kiện hay lý do. Chỉ khi đó mới là thực hiện bổn phận của mình. Được ban phúc là khi ai đó được làm cho hoàn thiện và vui hưởng các phúc lành của Đức Chúa Trời sau khi trải qua sự phán xét. Gánh họa là khi tâm tính của ai đó không thay đổi sau khi họ đã trải qua hình phạt và sự phán xét, đó là khi họ không trải nghiệm việc được làm cho hoàn thiện, mà bị trừng phạt. Nhưng bất kể họ được ban phúc hay gánh họa, những loài thọ tạo cũng phải thực hiện bổn phận của mình, làm những điều họ cần phải làm, và làm những điều họ có thể làm; đây chính là điều tối thiểu mà người mưu cầu Đức Chúa Trời nên làm. Ngươi không nên thực hiện bổn phận của mình chỉ để được ban phúc, và ngươi không nên từ chối hành động vì sợ gánh họa. Để Ta bảo các ngươi điều này: Việc thực hiện bổn phận của con người là những gì họ cần phải làm, và nếu họ không thể thực hiện bổn phận của mình, thì đây là sự phản nghịch của họ. Chính qua quá trình thực hiện bổn phận của mình mà con người dần dần được thay đổi, và chính qua quá trình này mà con người chứng minh được lòng trung thành của họ. Như vậy, ngươi càng có thể thực hiện bổn phận của mình, thì ngươi sẽ càng nhận được nhiều lẽ thật, và sự bày tỏ của ngươi sẽ càng trở nên thực tế hơn. Những kẻ chỉ đơn thuần làm bổn phận của mình một cách qua loa chiếu lệ và không tìm kiếm lẽ thật cuối cùng sẽ bị đào thải, vì những kẻ như thế không thực hiện bổn phận của họ trong khi thực hành lẽ thật, và không thực hành lẽ thật trong khi thực hiện bổn phận của mình. Những kẻ như thế là những kẻ vẫn không thay đổi và sẽ gánh họa. Không chỉ những biểu hiện của họ không thanh sạch, mà mọi thứ họ biểu hiện ra đều ác” (Sự khác nhau giữa chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể và bổn phận của con người, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Từ lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu ra rằng việc thực hiện bổn phận không hề liên quan đến việc nhận phúc lành hay chịu tai họa, và việc các loài thọ tạo làm bổn phận của mình là thiên kinh địa nghĩa, dù có được phúc lành, kết cục hay đích đến tốt đẹp hay không, họ vẫn phải làm bổn phận. Hơn nữa, phúc lành là điều con người được hưởng từ việc theo đuổi lẽ thật, đạt được sự thay đổi trong tâm tính khi thực hiện bổn phận, khi đã được Đức Chúa Trời cứu rỗi. Nếu tâm tính bại hoại của một người không thay đổi, cuối cùng họ sẽ bị trừng phạt. Nhờ sự sáng từ lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra quan điểm của mình thật vô lý. Tôi đã luôn nghĩ rằng chỉ cần chịu đựng nhiều hơn, hy sinh và dâng mình cho Đức Chúa Trời, thì mình sẽ được cứu rỗi, và đạt được đích đến tốt đẹp mà Đức Chúa Trời ban cho con người. Đó chỉ là vọng tưởng của tôi mà thôi. Nếu tôi chỉ làm bổn phận mà không kiểm điểm những điều chưa tốt, không tập trung mưu cầu lẽ thật, không thay đổi tâm tính bại hoại, và khi không nhận được phúc thì lại đổ lỗi cho Đức Chúa Trời, thì cuối cùng tôi sẽ bị trừng phạt vì chống đối Ngài. Thấy được điều này, tôi nhận ra mình đang ở trong tình cảnh vô cùng nguy hiểm. Nếu tiếp tục con đường này, tôi sẽ bị đào thải mà không hiểu vì sao! Tôi chân thành cảm tạ Đức Chúa Trời vì đã để căn bệnh này giúp tôi nhận ra con đường sai lầm trong đức tin mà mình đang đi và kịp thời quay lại. Tôi cũng hiểu ra rằng tin Đức Chúa Trời không phải là để mưu cầu phúc lành, mà là để mưu cầu lẽ thật và thay đổi tâm tính, và thuận phục mọi sự sắp đặt của Đức Chúa Trời. Nhận ra những điều này, lòng tôi lập tức cảm thấy nhẹ nhõm và tự do, không còn bị bệnh tật hay cái chết kìm kẹp nữa. Nếu bệnh của tôi tái phát hoặc di căn, tôi sẵn sàng thuận phục sự sắp đặt của Đức Chúa Trời. Dù có chữa khỏi bệnh hoặc sau này có nhận được phúc lành hay không, tôi cũng sẽ luôn cố hết sức làm tốt bổn phận. Sau đó, tôi bắt đầu cùng anh chị em giải quyết những khó khăn và vấn đề trong việc rao truyền phúc âm, và chúng tôi đã đạt được một số kết quả. Hơn mười ngày sau, tôi đi kiểm tra sức khỏe lần nữa, và bất ngờ thay, tất cả chỉ số đều bình thường.
Tôi đã học được rất nhiều từ căn bệnh này. Tôi đã thấy được vóc giạc thật của mình, và nhận ra rằng bao năm qua, mình đã vứt bỏ gia đình và sự nghiệp chỉ vì phúc lành, tất cả chỉ vì lợi ích. Tôi thật ngoan cố! Đức Chúa Trời đã ban cho tôi rất nhiều ân điển và phúc lành, không ngừng công tác để cứu rỗi tôi, nhưng chỉ vì không vừa ý một điều mà tôi lại lý luận và đổ lỗi cho Ngài. Đức Chúa Trời đã trả giá quá nhiều cho tôi nhưng vẫn không có được lòng thành của tôi! Nghĩ đến đây, tôi cảm thấy mình mắc nợ Đức Chúa Trời quá nhiều. Nhưng đồng thời, tôi cũng rất biết ơn Ngài, vì nếu không có căn bệnh này, tôi sẽ chẳng bao giờ nhận ra và phản tỉnh, mà sẽ tiếp tục cố gắng lừa dối, đưa ra yêu sách và giao dịch với Ngài. Nếu Đức Chúa Trời không tỏ lộ chuyện này, tôi vẫn sẽ nghĩ mình có thể được cứu rỗi. Nhưng giờ tôi nhận ra vóc giạc của mình bé nhỏ một cách đáng thương và còn lâu tôi mới được cứu rỗi! Tôi cần phải bắt đầu lại, nhưng lần này tôi phải có lý trí. Dù sau này Đức Chúa Trời có thử luyện ra sao thì tôi cũng phải thuận phục sự sắp đặt của Ngài, mưu cầu lẽ thật và tìm kiếm sự thay đổi trong tâm tính của mình.