Chức trách của lãnh đạo và người làm công (27)
Hôm nay, chúng ta tiếp tục thông công về chủ đề chức trách của lãnh đạo và người làm công. Về chủ đề này, chúng ta đã thông công 14 mục rồi, có một mục còn vài điều chưa được thông công. Trước khi thông công, các ngươi hãy nhớ lại một lượt xem, chức trách của lãnh đạo và người làm công tổng cộng có bao nhiêu mục? Thưa, có 15 mục.) Đọc Ta nghe xem.
(Chức trách của lãnh đạo và người làm công:
Mục 1. Dẫn dắt mọi người ăn uống và hiểu lời Đức Chúa Trời, bước vào thực tế của lời Đức Chúa Trời.
Mục 2. Nắm rõ tình trạng của từng loại người, và giải quyết những khó khăn khác nhau liên quan đến lối vào sự sống mà họ gặp phải trong cuộc sống hiện thực.
Mục 3. Thông công những nguyên tắc lẽ thật cần hiểu để làm tốt các bổn phận.
Mục 4. Luôn nắm rõ tình hình của những người phụ trách các công tác và những người gánh vác các công tác quan trọng, có thể kịp thời điều chỉnh hoặc thay thế họ khi cần thiết, để tránh được hoặc giảm thiểu tổn thất do dùng người không đúng, và đảm bảo công tác có hiệu quả, cũng như tiến triển thuận lợi.
Mục 5. Kịp thời nắm rõ và hiểu rõ hiện trạng cũng như tiến độ của các hạng mục công tác, có thể kịp thời giải quyết những vấn đề tồn tại, chỉnh đốn các sai lệch xuất hiện và bù đắp cho những sai sót xuất hiện trong công tác, để cho công tác được tiến triển thuận lợi.
Mục 6. Đề bạt và bồi dưỡng các loại nhân tài đạt tiêu chuẩn, để cho hễ là người mưu cầu lẽ thật thì đều có thể có cơ hội được rèn luyện và bước vào thực tế lẽ thật nhanh nhất có thể.
Mục 7. Dựa vào nhân tính và sở trường của những loại người khác nhau mà phân bổ và dùng họ, đạt đến việc dùng người một cách tốt nhất.
Mục 8. Kịp thời phản ánh và tìm kiếm cách giải quyết những lúng túng hoặc khó khăn gặp phải trong công tác.
Mục 9. Dựa theo yêu cầu của nhà Đức Chúa Trời mà truyền đạt, ban hành xuống và thực hiện chuẩn xác những sự sắp xếp công tác, đồng thời hướng dẫn, giám sát, đốc thúc, kiểm tra, và theo dõi tình hình thực hiện.
Mục 10. Bảo quản ổn thỏa và phân phối hợp lý các loại vật phẩm của nhà Đức Chúa Trời (sách, các loại thiết bị, thực phẩm, v.v.), kiểm tra, bảo trì và sửa chữa định kỳ để giảm thiểu thiệt hại và lãng phí, đồng thời ngăn chặn những kẻ ác chiếm đoạt chúng.
Mục 11. Chọn người đáng tin cậy, có nhân tính đạt tiêu chuẩn để chuyên làm công tác vào sổ, kiểm đếm và bảo quản của lễ một cách có hệ thống; kiểm tra và xác minh các khoản thu chi định kỳ để có thể kịp thời phát hiện các trường hợp hoang phí hoặc lãng phí, cũng như các khoản chi tiêu bất hợp lý, có thể chặn đứng những việc đó và yêu cầu đền bù hợp lý, đồng thời, tuyệt đối không để của lễ rơi vào tay kẻ ác và bị chúng chiếm đoạt.
Mục 12. Xác định kịp thời và chính xác các loại người, sự việc và sự vật gây nhiễu loạn và gián đoạn công tác của Đức Chúa Trời cùng trật tự bình thường của hội thánh; chặn đứng và hạn chế họ, xoay chuyển cục diện, đồng thời thông công lẽ thật để dân được Đức Chúa Trời chọn phát triển sự phân định và rút ra bài học từ những chuyện này.
Mục 13. Bảo vệ dân được Đức Chúa Trời chọn khỏi bị những kẻ địch lại Đấng Christ gây nhiễu loạn, mê hoặc, khống chế và tàn hại, đồng thời giúp họ có thể phân định những kẻ địch lại Đấng Christ và vứt bỏ chúng trong lòng.
Mục 14. Kịp thời phân định, thanh trừ và khai trừ các loại kẻ ác và kẻ địch lại Đấng Christ.
Mục 15. Bảo vệ các loại nhân sự làm công tác quan trọng, không để họ bị hoàn cảnh của thế giới bên ngoài quấy nhiễu, bảo đảm họ được an toàn để chắc chắn rằng các hạng mục công tác quan trọng có thể được tiến hành một cách có trật tự.)
Mười lăm chức trách này, các ngươi nghe đã rõ cả chưa? (Thưa, đã nghe rõ rồi.) Chức trách thứ 14 của lãnh đạo và người làm công là “Kịp thời phân định, thanh trừ và khai trừ các loại kẻ ác và kẻ địch lại Đấng Christ”. Vậy làm thế nào để phân định các loại kẻ ác? Tiêu chuẩn thứ nhất là dựa vào mục đích của họ khi tin Đức Chúa Trời. Mục đích của họ khi tin Đức Chúa Trời tổng cộng có mấy điểm? Chúng ta đã chia thành chín điểm: Thứ nhất là thỏa mãn nguyện vọng làm quan, thứ hai là tìm người khác giới, thứ ba là tránh tai họa, thứ bốn là đầu cơ, thứ năm là kiếm ăn từ tôn giáo, thứ sáu là tị nạn, thứ bảy là tìm chỗ dựa, thứ tám là có mục tiêu chính trị, thứ chín là khống chế hội thánh. Đây là phân định thực chất của các loại người dựa trên ý định và mục đích của họ khi tin Đức Chúa Trời. Tiêu chuẩn thứ hai để phân định các loại người cần bị thanh trừ và khai trừ là xét từ các biểu hiện đủ mọi mặt nơi thực chất nhân tính của họ. Tiêu chuẩn này được chia thành mấy biểu hiện? Thứ nhất là thích khơi chuyện thị phi, thứ hai là thích chiếm lợi, thứ ba là phóng đãng và không chịu sự ràng buộc, thứ bốn là dễ báo thù, thứ năm là không biết giữ mồm giữ miệng, thứ sáu là càn quấy và không ai dám chọc vào, thứ bảy là làm trò dâm loạn một cách nhất quán, thứ tám là có thể bán đứng bất kỳ lúc nào, thứ chín là có thể bỏ đi bất kỳ lúc nào, thứ mười là dao động bất định, thứ mười một là sợ sệt và đa nghi, thứ mười hai là dễ chuốc phiền phức, thứ mười ba là có bối cảnh phức tạp. Tổng cộng có 13 biểu hiện. Chức trách thứ 14 của lãnh đạo và người làm công là “Kịp thời phân định, thanh trừ và khai trừ các loại kẻ ác và kẻ địch lại Đấng Christ”. Đã thông công xong các vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn thứ nhất – mục đích khi tin Đức Chúa Trời. Cũng đã thông công xong về bảy biểu hiện đầu của nhân tính trong tiêu chuẩn thứ hai. Hôm nay, chúng ta sẽ thông công tiếp về biểu hiện thứ tám trong nhân tính của họ: “Có thể bán đứng bất kỳ lúc nào”
Mục 14. Kịp thời phân định, thanh trừ và khai trừ các loại kẻ ác và kẻ địch lại Đấng Christ (Phần 6)
Tiêu chuẩn và căn cứ để phân định các loại kẻ ác
II. Dựa vào nhân tính
H. Có thể bán đứng bất kỳ lúc nào
Loại người có biểu hiện rõ ràng rằng họ có thể bán đứng hội thánh bất kỳ lúc nào, thì các ngươi có thể nhận ra được, phải không? Vấn đề của loại người này có nghiêm trọng không? (Thưa, có.) Có người bán đứng hội thánh vì sợ sệt, có người làm vậy vì có nhân tính ác, hoặc là có vài vấn đề khác. Bất kể vì nguyên nhân gì, chuyện loại người này có thể bán đứng anh chị em và phản bội Đức Chúa Trời bất kỳ lúc nào cho thấy họ không phải là người đáng tin cậy. Nếu họ nắm rõ một vài thông tin quan trọng liên quan đến hội thánh hoặc thông tin cá nhân của anh chị em, chẳng hạn như anh chị em sống ở chỗ nào, ai là lãnh đạo hội thánh, hội thánh có những công tác nào, ai đảm nhiệm những công tác và bổn phận quan trọng nào. Họ mà biết những chuyện này rồi, sau này lúc gặp nguy hiểm hoặc trong một vài tình huống đặc biệt, họ sẽ có thể tiết lộ những thông tin này, có thể bán đứng hội thánh và anh chị em. Một mặt, họ làm vậy để bảo vệ bản thân, đổi lấy an toàn cho mình. Mặt khác, có khả năng họ cố ý làm như vậy, họ không xem những thông tin đó ra gì, có thể tiết lộ và bán đứng chúng bất kỳ lúc nào để đổi lấy lợi ích cá nhân. Chẳng hạn như, có những người bị con rồng lớn sắc đỏ bắt, lúc thẩm vấn thì con rồng lớn sắc đỏ đe dọa và dụ dỗ họ, thậm chí còn dùng cực hình bức cung, bảo rằng nếu chịu khai thì nó sẽ thả ra, thế là họ bán đứng hết mọi thông tin mình biết về anh chị em và hội thánh để đổi lấy tự do cho mình, loại người này chính là Giu-đa điển hình. Các ngươi nói xem, đối với loại người là Giu-đa điển hình này thì nên đối đãi và xử lý thế nào? (Thưa, đối với loại người này thì nên gấp rút khai trừ, còn phải rủa sả họ.) Loại Giu-đa điển hình này bình thường sẽ, cố ý hoặc vô ý, nghe ngóng hoặc nắm bắt một vài tình hình của hội thánh, rồi ghi nhớ chúng, sau này hễ gặp chuyện và bị bắt giữ, thì họ sẽ khai chúng ra. Nhìn bề ngoài, có vẻ họ nghe ngóng và tìm hiểu những tình hình này không phải để cố ý khai ra cho con rồng lớn sắc đỏ, nhưng lúc bị bắt thì họ không kìm nổi việc đó, kết quả là họ khai ra thì gây một vài hậu quả xấu cho hội thánh. Tính chất của việc họ tùy ý nghe ngóng và tìm hiểu này không phải là tán gẫu hay tám chuyện bình thường, mà là họ làm vậy một cách cố ý và có mục đích. Họ làm vậy để chuẩn bị tốt điều kiện hầu sau này làm Giu-đa. Đối với loại người tùy tiện bán đứng thông tin của người khác này, mà dùng cách thông công lẽ thật hoặc cảnh cáo thì có thể giải quyết vấn đề không? (Thưa, không thể.) Tại sao lại không thể? (Thưa, vì loại người này không có lương tâm và lý trí, không tiếp nhận lẽ thật, có thông công lẽ thật cho họ thì cũng vô dụng.) Đối với loại kẻ ác có thể tùy ý làm hại người khác này thì nên giải quyết như thế nào? Có một biện pháp thôi, đó là thanh trừ họ đi, bởi vì việc họ làm chẳng những làm hại anh chị em, mà còn gây nhiễu loạn công tác của hội thánh. Dạng hành vi này có thể bị xác định tính chất là bán đứng anh chị em và bán đứng hội thánh, cho nên đối với loại người này thì phải thanh trừ và khai trừ. Mặc dù không thể xác định tính chất loại người này là kẻ địch lại Đấng Christ, nhưng có thể xác định tính chất họ là những kẻ ác gây gián đoạn và nhiễu loạn công tác của hội thánh. Do đó, dùng cách thanh trừ đối với loại người này là hoàn toàn phù hợp nguyên tắc. Loại người này chẳng có hứng thú với lẽ thật, cứ thích đi khắp nơi nghe ngóng tình hình của lãnh đạo và người làm công, cũng như của một vài anh chị em nào đó. Họ tin Đức Chúa Trời mấy năm mà chẳng hiểu được mấy lẽ thật, ấy vậy mà lại nắm rõ không ít về tình hình gia đình của các anh chị em cùng lãnh đạo và người làm công. Bất kể nói về anh chị em nào, họ đều có thể nói ra một vài tình hình của người đó, khiến mọi người phải kinh ngạc. Họ không phải là lãnh đạo và người làm công mà luôn thích nghe ngóng một vài chuyện nội bộ của hội thánh, chẳng hạn như công tác hành chính của hội thánh, những người phụ trách thuộc đủ mọi cấp, cả một vài công tác liên quan đến ngoại vụ. Họ còn luôn nghe ngóng xem người nào đi đâu làm bổn phận gì, lúc nào thì đi, ai được đề bạt, ai bị cách chức, công tác này nọ của hội thánh đang được làm thế nào. Họ nghe ngóng được những chuyện đó rồi thì đi rêu rao khắp nơi, đáng ghét hơn nữa, có vài người nghe xong những thông tin đó thì còn ghi chép lại. Ngươi nói xem, có phải họ có dụng tâm không? (Thưa, phải.) Khi ở đất nước của con rồng lớn sắc đỏ, họ mà ghi chép chuyện của mình thì còn biết dùng ám ngữ hoặc mật mã, vậy mà khi ghi chép chuyện của người khác thì họ chẳng dùng đến chút khôn ngoan nào. Tên tuổi, ngoại hình, tuổi tác, số điện thoại, v.v. của anh chị em, họ đều ghi lại thông tin thật, vậy chẳng phải là họ dự tính bán đứng sao? Đây chính là không có ý tốt, là dự tính bán đứng. Ngay khi xảy ra chuyện và những ghi chép của họ rơi vào tay cảnh sát, cảnh sát thấy những thông tin này thì chỉ cần uy hiếp và dọa dẫm, còn chưa dùng đến cực hình với họ, là đã họ khai ra sạch sành sanh, không chừa gì cả. Đối với vài chuyện họ quên mất, thì họ còn vắt óc mà nhớ cho ra, nhớ ra rồi thì lập tức khai cho cảnh sát. Thậm chí họ còn dẫn cảnh sát đến nhà anh chị em, nhà của lãnh đạo và người làm công, lẫn nơi ở của một vài nhân sự làm bổn phận quan trọng để bắt người. Các ngươi nói xem, loại người này có cực kỳ đáng ghét hay không? (Thưa, có.) Khi họ chưa bán đứng, thì nhìn hành vi và biểu hiện của họ trông cũng không giống kẻ ác, càng không giống kẻ địch lại Đấng Christ, cũng có thể đó chỉ là biểu hiện của nhân loại bại hoại thôi, nhưng khi bị bắt rồi thì họ sẽ rất dễ bán đứng bất kỳ anh chị em nào. Nội một biểu hiện này thôi là đã đáng ghét hơn kẻ ác và kẻ địch lại Đấng Christ rồi. Đâu phải họ bị dùng hình bức cung hay bị tra tấn, bách hại, rồi vì xác thịt yếu đuối và không chịu nổi mà bất đắc dĩ nói ra một chút thông tin không quan trọng. Mà đây là họ chủ động làm vậy, nói ra hết mọi thông tin mình biết theo kiểu bất chấp hậu quả, chẳng suy xét chút gì cho an nguy của anh chị em hay công tác của hội thánh. Thật quá đáng ghét! Đây là một biểu hiện của loại người làm Giu-đa!
Còn có một loại người, động một chút là nghĩ đến chuyện tố cáo hội thánh và anh chị em. Chẳng hạn như gặp phải chuyện thiên tai, bệnh tật hoặc bị trộm, là họ oán trách Đức Chúa Trời, còn oán trách anh chị em không có lòng yêu thương, không giúp họ giải quyết vấn đề, thế là họ nghĩ đến chuyện bán đứng hội thánh và anh chị em. Có những người làm xằng làm bậy và bị tỉa sửa, anh chị em cũng xa lánh họ, thì họ cảm thấy nhà Đức Chúa Trời không có lòng yêu thương, thế là họ buột miệng: “Các người thấy tôi không vừa mắt chứ gì? Các người xem thường tôi chứ gì? Tôi tin Đức Chúa Trời rốt cuộc có thể được phúc hay không? Nếu không được phúc thì tôi sẽ đi tố cáo các người!”. Đây là câu nói “kinh điển” của loại người này. Tại sao Ta nói câu “Nếu không được phúc thì tôi sẽ đi tố cáo các người” này là “kinh điển”? Chính vì câu này đại diện cho nhân tính của họ. Đâu phải vì gặp biết bao nhiêu chuyện không được như ý hoặc oán giận tích tụ quá nhiều nên họ mới nói ra câu đó để giải hận, cũng đâu phải vì kích động nhất thời mà họ nói ra câu đó. Thay vào đó, câu đó tràn đầy trong lòng họ rồi, bất kỳ lúc nào cũng có thể bộc lộ ra. Nó đã tồn tại lâu dài trong lòng họ, bất kỳ lúc nào cũng có thể bộc phát. Câu này có thể đại diện cho nhân tính của họ. Nhân tính của họ tồi tệ như vậy đấy, ai mà chọc vào họ, làm họ tổn thương, thì bất kỳ lúc nào họ cũng có thể bán đứng người đó. Họ làm trái sự sắp xếp công tác và nguyên tắc khi làm bổn phận, rồi bị lãnh đạo và người làm công hoặc anh chị em tỉa sửa mấy câu, là họ đã không chịu, sẽ nổi giận và bất mãn, sẽ có thể nói: “Tôi đi tố cáo các người đây! Tôi biết nhà anh ở đâu, tôi biết tên của anh, biết họ của anh!”. Loại người này mà không được dỗ dành thì sẽ có thể thực sự bán đứng ngươi. Không phải họ cố dọa dẫm ai đâu, cũng không phải họ nhất thời nóng giận mà nói vậy, nếu thực sự có ai đắc tội với họ, chọc họ giận, thì họ thực sự có thể bán đứng người đó. Có người nói: “Tại sao lại sợ họ chứ?”. Chúng ta không sợ họ. Nếu là ở nước tự do dân chủ, thì chúng ta không sợ họ bán đứng. Nhưng ở nước của con rồng lớn sắc đỏ mà họ thực sự bán đứng thì có thể đem lại phiền phức cho anh chị em và ảnh hưởng đến công tác của hội thánh. Nếu anh chị em thực sự bị bắt, thì con rồng lớn sắc đỏ sẽ làm lớn chuyện lên. Nó mà tìm được một lỗ hổng rồi thì sẽ bắt người không ngừng nghỉ. Cứ như vậy thì sẽ ảnh hưởng đến việc sống đời sống hội thánh và làm bổn phận bình thường của biết bao nhiêu người, hậu quả như vậy chẳng nghiêm trọng sao? Đây là chuyện mà ngươi phải suy xét! Loại người này khi sống chung với người khác thì luôn làm trò dằn dỗi, ai nói với họ một câu khiến họ không vui, hoặc là vạch trần vấn đề của họ và chọc giận họ, thì họ sẽ giận dỗi người đó, thậm chí ba ngày, năm ngày cũng chẳng thèm nói lời nào, ngươi đến tìm họ làm bổn phận thì họ cũng mặc kệ. Chẳng có cách nào sống chung nổi với loại người này. Họ chẳng phải là kẻ ác sao? Mọi người thường nghe thấy kẻ ác nói chuyện kiểu này: “Ai kiếm chuyện với tôi, thì tôi không tha cho đâu! Các anh ở tại nhà nào, rèm cửa màu gì, tôi đều biết rõ. Các anh nhóm họp ở đâu, lãnh đạo và người làm công ở chỗ nào, tôi cũng nắm rõ hết!”. Các ngươi nói xem, loại người này có phải là phần tử nguy hiểm không? (Thưa, phải.) Họ chính là Giu-đa điển hình. Không có chuyện gì mà họ còn có thể chủ động bán đứng như vậy, nếu có chuyện thì họ là người đầu tiên nhảy ra làm Giu-đa. Do đó, nếu phát hiện trong hội thánh có loại người này thì nên thanh trừ và khai trừ sớm nhất có thể. Loại người này còn có biểu hiện nào nữa? Chẳng hạn như, lúc nhóm họp, anh chị em vốn hay gặp mặt nhau, nên không cần nói những câu khách sáo, đến giờ thì bắt đầu nhóm họp, đọc lời Đức Chúa Trời và thông công lẽ thật thôi. Nhưng người dằn dỗi này thấy người khác không để ý đến mình, không chào hỏi mình, thì liền bực bội, buột miệng nói ra: “Các người xem thường tôi chứ gì? Được! Các người đều không hoan nghênh tôi, tốt thôi, tôi có chiêu để trị các người rồi. Lãnh đạo hội thánh ở tại nhà nào, các người ai làm bổn phận ở đâu, làm công tác gì, tôi đều biết hết. Ai tiếp đãi lãnh đạo và người làm công, ai bảo quản của lễ, ai lo in sách, ai phụ trách vận chuyển sách, tôi cũng biết hết. Tôi sẽ đi tố cáo các người! Tôi đem hết chuyện trong hội thánh báo cho cảnh sát!”. Nếu người ta cung kính với họ thì còn được, hễ có người xúc phạm họ, chọc đến họ, thì phiền phức rồi, họ sẽ muốn trả thù, muốn bán đứng. Mỗi khi gặp chuyện gì không vui hoặc không như ý, là họ lại tuôn ra một vài câu tàn nhẫn để uy hiếp anh chị em và lãnh đạo hội thánh. Các ngươi nói xem, loại người có đáng sợ không, có nguy hiểm không? (Thưa, nguy hiểm.) Loại người này chính là Giu-đa có thể bán đứng bất kỳ lúc nào, họ chính là phần tử nguy hiểm.
Loại người có thể bán đứng bất kỳ lúc nào còn có một biểu hiện nữa. Chẳng hạn như, ở đất nước của con rồng lớn sắc đỏ, ở các tỉnh và thành phố khác nhau đã thành lập được bao nhiêu hội thánh, mỗi hội thánh có bao nhiêu người, ai là lãnh đạo, hội thánh làm những công tác nào, đây đều là chuyện đặc biệt bảo mật. Ngay cả đối với những người nhà và người thân không tin Đức Chúa Trời, thì cũng phải đề phòng, không được tiết lộ, hòng tránh gây hậu họa cho hội thánh. Thế mà những phần tử nguy hiểm có dụng tâm này luôn nghe ngóng mấy chuyện này, anh chị em mà không nói cho họ biết là họ cảm thấy: “Tại sao những chuyện này các người đều biết, chỉ có mình tôi là không biết? Dựa vào cái gì mà không nói cho tôi? Các người xem tôi là người ngoài, không phải anh chị em chứ gì? Tốt thôi, tôi sẽ đi tố cáo các người!”. Ngươi xem, trong trường hợp như vậy mà họ cũng có thể tố cáo hội thánh và anh chị em. Chẳng có ai đắc tội với họ cả, chỉ cần họ thấy có chút không vừa mắt là sẽ nuôi lòng tố cáo hội thánh. Chẳng hạn như, sách lời Đức Chúa Trời phát đến tay anh chị em rồi, ai cũng gấp rút xem trong sách có bao nhiêu chương lời Đức Chúa Trời, tổng cộng có bao nhiêu trang, chất lượng in ấn thế nào, ai cầm quyển sách trong tay cũng thấy vui mừng, kích động. Nhưng loại người làm Giu-đa này thì ngẫm nghĩ: “Sách này in ở đâu nhỉ? In một quyển bao nhiêu tiền? Ai phụ trách in ấn? In rồi thì ai phụ trách vận chuyển? Làm thế nào để vận chuyển đến hội thánh chúng ta nhỉ? Sách này cất ở đâu? Ai phụ trách bảo quản?”. Những chủ đề này vốn nhạy cảm, người có lý tính và nhân tính bình thường thì sẽ không dò la mấy chuyện này. Nhưng loại phần tử nguy hiểm có thể bán đứng này thì muốn dò la mấy chuyện này. Ngươi nói xem, họ luôn dò la mấy chuyện này, vậy có nên nói cho họ biết hay là không? (Thưa, không nên nói cho họ biết.) Ngươi mà nói cho họ biết rồi, thì họ sẽ có thể nói ra, có thể bán đứng thông tin này. Ngươi mà không nói cho họ biết, thì họ còn nói rằng: “Dựa vào cái gì mà không cho tôi biết? Nhà đức chúa trời cũng chẳng công bằng! Tôi là một phần tử trong nhà đức chúa trời, bất kể chuyện gì tôi cũng có quyền được biết! Các người đối đãi với tôi như người ngoài, tốt thôi, tôi sẽ đi tố cáo các người!”. Thế là họ muốn tố cáo hội thánh. Đây chẳng phải là kẻ ác sao? Nếu họ thực sự báo cho cảnh sát rồi, thì sẽ gây ra hậu quả gì đây? Anh chị em mà bị bắt thì chẳng phải sẽ gặp nguy hiểm tính mạng sao? Hơn nữa, sau khi cảnh sát bắt bớ, thì anh chị em và công tác của hội thánh sẽ gặp khó khăn lớn hơn. Đồng thời lối vào sự sống của dân được Đức Chúa Trời chọn cũng bị ảnh hưởng ở nhiều mức độ, người nào không biết tìm kiếm lẽ thật thì sẽ có thể nảy sinh sự tiêu cực, thậm chí không tham gia nhóm họp nữa. Họ chẳng thèm suy xét chút gì về những chuyện này, vậy thì họ có phải là người có lương tâm và lý trí không? Trong hội thánh có bất kỳ công tác gì, họ đều muốn được biết đầu tiên, hết thảy mọi chuyện trong hội thánh, họ phải biết hết thì mới vui vẻ được, nếu có chuyện gì họ không được cho biết thì họ sẽ không bỏ qua, sẽ muốn tố cáo hội thánh, như vậy có thể gây ra phiền phức to. Họ là thứ gì vậy? Chính là ma quỷ! Ma quỷ ở trong hội thánh mà luôn quan tâm chuyện gì đó, thì chắc chắn là sẽ có phiền phức. Chẳng hạn như, có những anh chị em có cuộc sống sung túc và dâng hiến nhiều, thế là họ cứ nghĩ mãi về chuyện này và đi hỏi người ta: “Chị dâng hiến bao nhiêu tiền vậy?”. Người ta bảo: “Chuyện này có thể nói cho chị biết được sao? Đừng để tay phải biết việc tay trái làm mà. Tôi không nói cho chị biết được đâu, bảo mật mà!”. Thế là họ nói: “Chuyện này mà cũng bảo mật sao? Tôi mà chị cũng không tin, chị chẳng đối đãi với tôi như anh chị em rồi!”. Thế là họ ghi hận với người này trong lòng: “Được, chị nghĩ chị có thể dâng hiến thì chị ghê gớm lắm! Dâng hiến bao nhiêu cũng không cho tôi biết. Tôi biết nhà chị có làm ăn, chị chọc tức tôi thì tôi sẽ tố cáo chị tin Đức Chúa Trời, cho chị hết buôn bán luôn! Cho chị khỏi có đồng nào mà dâng hiến nữa!”. Ngươi xem, họ lại muốn tố cáo người ta. Hễ có chút chuyện nhỏ mà không cho họ biết, là họ muốn tố cáo hội thánh và anh chị em. Có vài nhân sự làm bổn phận quan trọng, chỉ vài người đặc biệt được biết chỗ ở của họ mà thôi, đây không phải là cố che đậy với ai, cũng không phải là làm chuyện gì ám muội sau lưng người ta, mà đây là vì hoàn cảnh quá nguy hiểm, vì suy xét cho sự an toàn, nên mới làm như vậy. Thế mà kẻ phản phúc, tên Giu-đa này, hễ nghe nói nhà nào tiếp đãi vài anh chị em từ bên ngoài đến, là họ cảm thấy đây là chuyện đáng để báo cáo, chưa biết chừng còn được cảnh sát thưởng cho! Họ sẽ nấp sau cửa mà nghe lén, nghe lén được rồi thì sẽ nổi giận: “Các người bàn chuyện của hội thánh sau lưng tôi, chẳng cho tôi biết. Các người sợ tôi bán đứng, nên đề phòng tôi, che giấu với tôi, không xem tôi là người của nhà đức chúa trời. Được thôi, tôi sẽ đi tố cáo các người!”. Ngươi xem, họ lại muốn tố cáo. Ngươi nói xem, người như thế này có phiền phức không? (Thưa, có.) Họ cho rằng mọi tình hình của anh chị em hoặc hội thánh đều phải nói cho tất cả mọi người được biết, vì ai cũng có quyền biết thông tin, nhất là bản thân họ càng có quyền biết thông tin. Nếu như có chuyện gì đó mà không cho họ biết, thì họ sẽ muốn tố cáo. Họ luôn dùng việc tố cáo để uy hiếp anh chị em và lãnh đạo hội thánh. Họ luôn dùng việc tố cáo để đạt được mục đích của mình. Loại người này mà ở trong hội thánh thì là một hiểm họa lớn, họ là bom hẹn giờ, bất kỳ lúc nào cũng có thể đem lại nguy hại và tai họa cho anh chị em và công tác của hội thánh. Phát hiện ra loại người này thì nên thanh trừ, không được nể quá mà hóa hỏng.
Trong hội thánh, còn có một vài người là Giu-đa luôn muốn dò la xem nhà Đức Chúa Trời có bao nhiêu tiền và người nào trong hội thánh dâng hiến nhiều nhất. Có người nói: “Chuyện này không thể nói cho anh biết, anh mà biết thì không có lợi cho anh, hơn nữa, anh cũng không nên dò la chuyện này”. Họ nghe xong liền trở mặt: “Các anh như vậy là đề phòng tôi, xem thường tôi, không coi tôi là anh chị em, mà coi tôi là người ngoài. Tôi biết tiền của hội thánh đang được bảo quản ở nhà ai, tôi sẽ tố cáo các anh, để cảnh sát tịch thu hết số tiền đó, lúc ấy tôi sẽ biết có bao nhiêu tiền!”. Chuyện gì họ cũng muốn bán đứng và tố cáo, nhưng riêng chuyện trong hội thánh xuất hiện sự quấy nhiễu của lãnh đạo giả, kẻ địch lại Đấng Christ và kẻ ác, thì họ không hề tố giác gì. Hoặc khi nhìn thấy lãnh đạo giả và kẻ địch lại Đấng Christ ăn trộm hoặc chiếm đoạt của lễ, họ đều không bao giờ tố giác hay vạch trần những chuyện này, cũng không phản ánh với nhà Đức Chúa Trời. Họ chẳng quan tâm đến những chuyện này. Nhưng nếu anh chị em nào chọc vào họ, đắc tội với họ hoặc là xem thường họ, thì họ sẽ đi tố cáo. Hoặc khi sự sắp xếp công tác nào đó của nhà Đức Chúa Trời không phù hợp với quan niệm của họ, khiến họ bẽ mặt và khó xử, thì họ sẽ suy nghĩ: “Tôi sẽ tố cáo chị! Tôi sẽ khiến chị không thể làm lãnh đạo hội thánh, tôi sẽ khiến công tác hội thánh của chị làm bất thành! Tôi sẽ làm cho hội thánh tan rã!”. Ngươi xem, chuyện này mà họ cũng muốn tố cáo. Có những hội thánh chọn được vài người thích hợp để ra nước ngoài làm bổn phận, điều kiện gia đình và điều kiện cá nhân của họ đều khả dĩ, cũng phù hợp với yêu cầu của nhà Đức Chúa Trời, và anh chị em đều đồng ý. Những người là Giu-đa vừa thấy chuyện này đã nghĩ: “Chuyện tốt như vậy chẳng bao giờ tới lượt tôi, tôi sẽ đi tố cáo các người! Tôi sẽ nói cho cảnh sát biết hội thánh chúng ta có người này người nọ ra nước ngoài làm bổn phận. Tôi sẽ khiến các người không ra nước ngoài được. Tôi sẽ để cho con rồng lớn sắc đỏ bắt giữ các người, hoặc là để cho chính phủ theo dõi các người, để cho các người dù có nhà cũng khó về!”. Chỉ cần anh chị em không thể ra nước ngoài là họ hả hê rồi. Các ngươi nói xem, có phải tính chất hành động của loại người này còn nghiêm trọng hơn của những người thỉnh thoảng gây nhiễu loạn và gián đoạn đôi chút không? (Thưa, phải.) Loại người này là một mối phiền phức lớn. Họ không có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, không sợ Đức Chúa Trời chút nào. Bất kể trong trường hợp nào, bất kể vì nguyên do nào, chỉ cần chuyện không theo ý họ thì họ sẽ muốn tố cáo hội thánh và bán đứng anh chị em, họ chính là ma quỷ! Hội thánh mà phát hiện ra loại người này, thì nên thanh trừ hoặc khai trừ càng sớm càng tốt, để tránh hậu họa. Nếu hoàn cảnh hiện tại không cho phép hoặc là điều kiện vẫn chưa chín muồi, vậy thì phải canh chừng, giám sát và đề phòng họ nghiêm ngặt. Nếu điều kiện cho phép, thì tuyệt không được nhân nhượng với loại phần tử nguy hiểm này, phải thanh trừ hoặc khai trừ họ càng sớm càng tốt. Đừng đợi họ làm chuyện bán đứng hội thánh và gây ra hậu quả, rồi mới xử lý. Một khi chuyện đó thực sự đã xảy ra và gây nên hậu quả, thì tổn thất sẽ không nhỏ. Sẽ có không biết bao nhiêu anh chị em không có nhà để về, thậm chí là bị bắt giữ và bỏ tù. Cũng có thể có rất nhiều anh chị em không có cách nào để làm bổn phận hoặc sống đời sống hội thánh, hậu quả thật không thể tưởng tượng nổi. Do đó, nếu ngươi là lãnh đạo mà phát hiện ra trong hội thánh có loại người là Giu-đa thì ngươi phải kịp thời thanh trừ hoặc khai trừ. Nếu ngươi là anh chị em mà phát hiện ra người như vậy thì cũng phải phản ánh cho lãnh đạo và người làm công của hội thánh càng sớm càng tốt. Chuyện này liên quan đến sự an nguy của anh chị em trong hội thánh và của cá nhân ngươi. Ngươi đừng cảm thấy: “Họ chưa bán đứng ai, chuyện đó đâu đã thành sự thật, nên chẳng tính là gì cả. Họ chỉ là nhất thời buột miệng vì tức giận mà thôi”. Cũng là tức giận như nhau – có người lúc tức giận thì cùng lắm là mắng vài câu khó nghe, hờn dỗi một chút hoặc là tiêu cực vài ngày, nhưng chỉ cần họ có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, trong lòng sợ Đức Chúa Trời, còn có chút lương tâm và lý trí, có ranh giới trong chuyện làm người, thì dù có bị đánh chết họ cũng không làm chuyện hãm hại người này. Nhưng loại người là Giu-đa trời sinh này lại khác, họ hở ra là muốn tố cáo hội thánh và anh chị em, luôn muốn mượn thế lực của Sa-tan để uy hiếp anh chị em, uy hiếp hội thánh hòng đạt được mục đích của mình. Họ về phe với ác quỷ, không có ranh giới trong chuyện làm người. Cho nên, đối với loại người hở ra là muốn tố cáo hội thánh, thì lãnh đạo hội thánh và anh chị em đều phải đặc biệt cảnh giác. Nếu có ai phát hiện ra loại người làm càn làm bậy và bất chấp lý lẽ này, thì phải nhanh chóng phản ánh với lãnh đạo và người làm công, sau đó quan sát và giám sát họ. Nếu lãnh đạo hội thánh phát hiện ra loại người này thì nên đưa ra phương án xử lý và giải quyết càng sớm càng tốt. Họ phải bảo vệ anh chị em, bảo vệ đời sống hội thánh và công tác hội thánh khỏi bị loại người này phá hoại và gây nhiễu loạn. Không được cho rằng khi họ nói muốn tố cáo hội thánh và anh chị em là họ chỉ nói ra trong lúc tức giận nhất thời, để rồi vì vậy mà mất đi sự đề phòng với họ. Thực ra, họ thường nói lời như vậy chứng tỏ trong lòng họ đã có ý nghĩ này, họ đã nghĩ như vậy thì có thể làm như vậy. Cũng có thể nói xong câu “Tôi sẽ tố cáo chị”, thì họ không đi tố cáo, nhưng ai biết được đến một ngày nào đó, họ có thể thực sự đi tố cáo, một khi họ thực sự đi tố cáo rồi, thì hậu quả thật không thể tưởng tượng nổi. Cho nên, nếu ngươi luôn xem lời họ nói “Tôi sẽ tố cáo chị” như là một câu nói lúc tức giận mà thôi, vậy thì ngươi thật ngu muội và ngu ngốc. Ngươi không thông qua lời này của họ mà nhìn thấu được bản chất nhân tính của họ, đây chính là sai lầm. Họ hở ra là có thể dùng lời “Tôi sẽ tố cáo chị” để uy hiếp người khác, đây tuyệt đối không phải một câu tức giận đơn giản, mà nó nói lên rằng họ có bản tính của loại người là Giu-đa và họ không có ranh giới trong chuyện làm người. Người không có ranh giới trong chuyện làm người thì là thứ gì? Là thứ không có lương tâm, không có lý tính. Không có lương tâm thì việc ác gì cũng có thể làm ra, còn không có lý tính thì có thể hành động vượt ra khỏi phạm vi lý tính, chuyện ngu xuẩn gì cũng có thể làm ra được. Cũng có thể sau khi tố cáo hội thánh, thấy anh chị em bị bắt và công tác của hội thánh bị tổn thất, họ cũng rơi nước mắt và tỏ vẻ hối hận. Nhưng loại người làm càn làm bậy này hành động không có lý tính, sau này lại gặp phải chuyện như vậy, họ vẫn có thể đi tố cáo, đây chẳng phải là vấn đề về bản tính sao? Thực chất bản tính của họ chính là như vậy. Có lãnh đạo hội thánh vẫn cho rằng họ nói vậy chỉ là lời nói tức giận nhất thời, chứ bản tính họ không xấu, cho rằng đó không phải là sự bộc lộ tự nhiên của nhân tính họ và không đại diện cho nhân tính họ, quan điểm như vậy có phải là sai lầm không? (Thưa, phải.) Cho dù bình thường họ không biểu hiện ra những hành vi của phẩm chất nhân tính tồi tệ, nhưng họ luôn nói muốn tố cáo anh chị em, chỉ cần có chút chuyện nhỏ chọc họ mất vui là họ đã có thể nảy sinh ý định tố cáo, nội chuyện này thôi cũng đủ để chứng tỏ phẩm chất nhân tính của họ tồi tệ, đê hèn, và không đáng tin cậy. Dạng người như vậy không có lương tâm và lý trí, làm người tuỳ theo ý thích, muốn gì làm nấy theo lợi ích và sở thích của mình, không có ranh giới của lương tâm. Cách xử lý loại người này là nên thanh trừ, không cần khách khí với họ, bởi vì họ không phải trẻ con, họ là người trưởng thành rồi, họ nên biết việc tố cáo anh chị em và hội thánh sẽ mang lại hậu quả gì. Trong lòng họ hoàn toàn biết rõ chiêu này của họ là chiêu tàn nhẫn nhất và có hiệu quả nhất, họ cảm thấy đây là tuyệt chiêu, là một chiêu cao tay nhất để báo thù anh chị em và hội thánh. Ngươi nói xem, họ có phải là ác quỷ không? (Thưa, phải.) Vậy đối đãi với ác quỷ thì còn khách khí gì chứ? Ngươi cứ phải thấy được họ công khai chỉ điểm anh chị em và gia đình tiếp đãi cho con rồng lớn sắc đỏ, thì mới thừa nhận họ là Giu-đa sao? Đợi đến khi ngươi nhìn thấy những sự thật này rồi mới xác định tính chất họ, thì mọi chuyện đã quá muộn. Thực ra, thực chất bản tính của họ đã bộc lộ lúc họ gặp chuyện thì làm ầm ĩ và đòi tố cáo hội thánh. Đừng đợi họ gây ra chuyện thì mới phân định và thanh trừ họ, như vậy là đã quá muộn. Nếu mọi người – dù là lãnh đạo hội thánh hay là anh chị em – đều chưa từng nghe họ nói về việc muốn tố cáo anh chị em, mọi người cũng không có ai hiểu rõ về họ, rồi đến khi có ai đó chọc giận hoặc đắc tội với họ thì họ tố cáo người đó, khiến cho các anh chị em không còn cách nào khác ngoài ẩn nấp, lẩn trốn, những người đang làm bổn phận cũng phải nhanh chóng chuyển đi, trong trường hợp này thì không thể trách anh chị em ngu muội và nhìn không thấu được họ. Nhưng nếu như bình thường họ luôn nói muốn tố cáo anh chị em, mà mọi người lại chẳng để tâm, vậy thì đúng là quá ngu xuẩn. Nghe bao nhiêu lẽ thật rồi, mà vẫn không biết phân định người ta, vậy họ chẳng phải là người hồ đồ sao? (Thưa, phải.) Đối với loại người bất kỳ lúc nào cũng có thể trở thành Giu-đa này, ngươi đừng cho rằng họ bán đứng là vì họ hiểu lẽ thật ít hay là vì họ mới tin Đức Chúa Trời được một thời gian ngắn, hoặc vì nguyên nhân nào đó. Những nguyên nhân này đều không phải. Suy cho cùng, chuyện này là vì phẩm chất nhân tính của họ tồi tệ, trong xương tủy họ là thực chất của kẻ ác. Phân định và xác định tính chất họ như vậy, sau đó xem họ là kẻ ác mà thanh trừ và khai trừ, đây là cách làm hoàn toàn đúng đắn. Làm như vậy, một mặt là bảo vệ anh chị em, mặt khác là bảo vệ công tác của hội thánh khỏi bị tổn hại, đây là chức trách của lãnh đạo và người làm công trong hội thánh. Cho nên, lãnh đạo và người làm công phải kịp thời đề phòng và giám sát loại người này, sau đó thông công với anh chị em để ai cũng có sự phân định đối với họ, phải nỗ lực thanh lọc họ đi trước khi âm mưu của họ vẫn chưa thành sự, để tránh gây ra bất kỳ rắc rối nào cho anh chị em hoặc hội thánh. Đây là sự phân định, là cách thực hành và nguyên tắc xử lý mà lãnh đạo và người làm công nên có khi đối mặt với loại người này. Như vậy là rõ ràng rồi, phải không? (Thưa, rõ ràng rồi.) Đương nhiên, khi đối đãi loại người này, tốt nhất nên dùng phương thức khôn ngoan để xử lý, không thể vì thanh trừ họ mà mang lại hậu hoạ cho hội thánh. Nếu xử lý một hiểm hoạ mà lại mang đến thêm nhiều hiểm hoạ khác, thì lãnh đạo hội thánh này thật không xứng với chức vụ, không đạt tiêu chuẩn, không biết làm công tác và không khôn ngoan. Ngược lại, nếu lãnh đạo hội thánh xử lý một hiểm hoạ mà có thể tránh được hậu quả xấu, còn có thể mang lại lợi ích cho công tác của hội thánh, đồng thời giúp anh chị em phát triển được sự phân định, thì đấy mới gọi là làm công tác, đấy mới là lãnh đạo và người làm công đạt tiêu chuẩn.
Nếu như lãnh đạo và người làm công tiếp xúc với loại người có thể bán đứng hội thánh này mà không biết phân định họ, cũng không ý thức được họ là người có dạng nhân tính gì hay sẽ mang lại rắc rối gì cho hội thánh và anh chị em, trong lòng không rõ về những chuyện này, cũng không biết nên đối đãi và xử lý loại người này như thế nào, không biết làm công tác này như thế nào, cũng không biết đây là công tác mà lãnh đạo mà người làm công nên làm – hoặc là cho dù biết cũng không muốn đắc tội với loại người này, cứ nhắm mắt làm ngơ cho xong chuyện, chứ không thanh trừ hay khai trừ họ – đây là lãnh đạo và người làm công gì vậy? (Thưa, là lãnh đạo giả và người làm công giả.) Đây không phải là lãnh đạo và người làm công đạt tiêu chuẩn. Một mặt, họ ngớ ngẩn đến mức loại người nào họ cũng giúp đỡ, đối xử với ai họ cũng dùng lòng yêu thương, nhẫn nại và đối đãi như anh chị em. Đây là người hồ đồ, là lãnh đạo giả và người làm công giả. Mặt khác, khi phát hiện trong hội thánh có loại người là Giu-đa, họ cũng không kịp thời xử lý hay giải quyết, thay vào đó cứ nhắm mắt làm ngơ, giả vờ không nhìn thấy, nghĩ bụng rằng: “Chỉ cần địa vị của mình không bị đe dọa là được. Còn những chuyện như công tác của hội thánh, sự an toàn của anh chị em, hay lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, thì mình không quan tâm. Chỉ cần mình chiếm giữ địa vị và ngày ngày hưởng thụ là được rồi. Họ không làm công tác thực tế, nhìn thấy vấn đề cũng không giải quyết, chỉ hưởng thụ lợi ích của địa vị, đây có phải là lãnh đạo giả không? (Thưa, phải.) Chẳng hạn như, loại người có thể bán đứng bất kỳ lúc nào đã hoành hành ngang ngược trong hội thánh rất lâu rồi, miệng luôn đe doạ muốn tố cáo hội thánh và anh chị em, thế mà lãnh đạo giả có nhìn thấy cũng phớt lờ, thậm chí sau khi có người tố giác và lãnh đạo cấp trên đã thanh trừ và xử lý người có thể bán đứng này, mà họ vẫn không xem chuyện đó ra gì, cũng chẳng lấy làm lạ. Họ nghĩ rằng: “Họ muốn tố cáo ai thì cứ để họ đi tố cáo người đó. Dù sao họ cũng không tố cáo tôi, không ảnh hưởng đến việc tôi làm lãnh đạo hội thánh, vậy là được rồi”. Loại lãnh đạo và người làm công này có phải là lãnh đạo giả và người làm công giả không? (Thưa, phải.) Họ chiếm giữ địa vị chỉ để hưởng thụ lợi ích của địa vị chứ không làm công tác thực tế, nhìn thấy loại người có thể bán đứng anh chị em bất kỳ lúc nào mà cũng không thanh trừ hay khai trừ, như vậy là họ thuộc số lãnh đạo giả, nên nhanh chóng cách chức họ. Có lãnh đạo giả bị cách chức rồi mà vẫn không phục, họ nói: “Dựa vào cái gì mà cách chức tôi? Có phải vì tôi không thanh trừ người đó không? Các anh thanh trừ họ rồi mà, chẳng phải đã xong chuyện rồi sao? Hơn nữa, họ chỉ nói muốn tố cáo anh chị em, chứ chưa thực sự đi tố cáo. Họ cũng chưa gây ra rắc rối gì cho hội thánh, vậy lấy cái gì mà xử lý họ chứ?” Họ cảm thấy mình bị oan ức vô cùng. Họ không làm công tác thực tế, chỉ hưởng thụ lợi ích của địa vị, trong hội thánh xuất hiện Giu-đa rõ ràng như vậy mà họ cũng không xử lý, không thanh trừ. Có vài anh chị em trong lòng luôn thấp thỏm lo sợ, nói rằng: “Bên cạnh có một người là Giu-đa luôn miệng nói muốn tố cáo anh chị em, như vậy cũng quá nguy hiểm! Khi nào thì có thể thanh trừ người này đi vậy?”. Anh chị em phản ánh với lãnh đạo hội thánh mấy lần, mà lãnh đạo cũng không giải quyết, còn nói: “Không sao đâu, đó chỉ là mâu thuẫn cá nhân, không liên quan đến công tác của hội thánh, cũng không liên quan đến sự an nguy của anh chị em”. Họ chẳng xử lý chuyện này. Vậy họ chỉ làm những công tác gì? Một dạng là những công tác mà lãnh đạo cấp trên phân bổ xuống, không làm thì không được, dạng khác là những công tác nếu họ không làm thì sẽ ảnh hưởng và đe dọa đến địa vị của họ, nên họ bất đắc dĩ phải làm chút việc để lấy thể diện. Còn nếu chuyện đó không ảnh hưởng đến địa vị của họ, hễ có thể không làm thì họ sẽ không làm. Đây có phải là lãnh đạo giả không? (Thưa, phải.) Khi thực sự gặp hoàn cảnh nguy hiểm hoặc bị truy bắt, thì họ sẽ ôm đầu chạy trước, chỉ lo cho sự an toàn của mình, không quan tâm anh chị em có an toàn không, cũng không bảo vệ công tác hội thánh và lợi ích của nhà Đức Chúa Trời. Cho dù họ làm như thế nào thì cũng đều là để bảo vệ địa vị của mình. Chỉ cần Bề trên không cách chức họ, chỉ cần lần bầu cử tiếp theo, anh chị em vẫn có thể chọn họ và họ vẫn có thể làm lãnh đạo, thì họ sẽ miễn cưỡng làm chút công tác. Nếu như họ làm việc gì đó có thể ảnh hưởng đến cách nhìn của Bề trên đối với họ, có thể khiến Bề trên cách chức họ, hoặc nếu những việc họ làm và biểu hiện của họ có thể khiến anh chị em có ấn tượng không tốt với họ và lần sau sẽ không bầu cho họ nữa, thì họ sẽ ít nhiều gì cũng làm một chút công tác ngay trước mắt để vãn hồi hình tượng của mình. Như vậy họ sẽ có cái để trình bày với cấp trên và anh chị em phía dưới, chỉ có đối với Đức Chúa Trời là họ không có gì để trình bày. Họ làm việc gì cũng là làm cho người khác xem, chỉ cần lãnh đạo cấp trên không cách chức họ và anh chị em bên dưới vẫn ủng hộ họ, là họ cảm thấy thỏa mãn rồi. Trong thời gian làm lãnh đạo ở hội thánh, họ không làm những chuyện đại ác, bề ngoài có vẻ luôn bận rộn, nhưng họ lại không làm công tác thực tế. Nhất là khi nhìn thấy kẻ ác gây nhiễu loạn hội thánh, họ cũng không quan tâm. Họ sợ đắc tội với kẻ ác, nếu có thể dỗ dành thì họ dỗ dành, nếu có thể thương lượng thì họ thương lượng, họ chỉ muốn giữ hoà khí mà thôi. Họ không sẵn lòng đắc tội với người khác, cho dù những người này gây nhiễu loạn công tác của hội thánh và đe dọa sự an nguy của anh chị em, thì họ cũng không quan tâm. Đây là lãnh đạo giả đúng nghĩa.
Đối với những lãnh đạo giả không làm công tác thực tế, nếu anh chị em đã năm lần bảy lượt nhắc nhở, yêu cầu họ giải quyết vấn đề, mà họ vẫn không làm công tác thực tế, không giải quyết vấn đề thực tế, cũng không sửa đổi sai lầm, thì các ngươi hãy phản ánh lên trên. Nếu lãnh đạo và người làm công cấp trên không thụ lý, thì các ngươi hãy nghĩ đủ mọi cách để bãi miễn lãnh đạo giả này. Thực sự Ta đã nói những lời này suốt bao nhiêu năm nay rồi, thế nhưng đa số mọi người bên dưới đều là nô lệ, thà để bản thân chịu chút thiệt thòi và tổn thất cũng không để mình đắc tội với người khác. Bất kể trong tình huống nào, họ cũng dĩ hoà vi quý và làm người dễ dãi, không đắc tội với ai. Cái giá cho việc không đắc tội với ai là gì? Chính là trả giá bằng công tác của nhà Đức Chúa Trời và lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, khiến lợi ích của nhà Đức Chúa Trời bị tổn thất và anh chị em bị nhiễu loạn. Kẻ ác thì không bị xử lý, trong khi rất nhiều người làm bổn phận bị ảnh hưởng, như vậy chẳng phải công tác của nhà Đức Chúa Trời cũng bị ảnh hưởng sao? (Thưa, phải.) Công tác của nhà Đức Chúa Trời bị ảnh hưởng mà chẳng có ai lo lắng hay sốt ruột, cho nên Ta mới nói đa số mọi người đều lấy công tác và lợi ích của nhà Đức Chúa Trời làm cái giá để giữ gìn hòa khí và sự hòa thuận với người khác. Họ không đắc tội với lãnh đạo, cũng không đắc tội với anh chị em, không đắc tội với bất kỳ ai, hết thảy mọi người đều làm người dễ dãi, đều là kiểu “Anh tốt, tôi tốt, mọi người đều tốt, đằng nào chúng ta cũng gặp nhau suốt mà”. Kết quả thì sao? Kết quả là để cho những kẻ ác này lợi dụng lỗ hổng, liên tục hoành hành ngang ngược và tuỳ ý làm càn. Cho nên, nếu lãnh đạo hội thánh không đáng tin cậy và không thanh lọc kẻ ác, thì anh chị em phải nghĩ đủ mọi cách để bảo vệ bản thân, nhìn thấy kẻ ác thì phải tránh né, xa lánh và cô lập họ. Có vài người nói: “Chúng ta cô lập họ, làm họ nổi giận, thì họ chẳng tố cáo chúng ta lần nữa sao?”. Nếu họ thực sự muốn tố cáo thì ngươi có sợ không? (Thưa, không sợ. Chuyện này tỏ lộ họ là kẻ ác.) Họ muốn tố cáo lần nữa, thì càng chứng thực rằng họ là Giu-đa trời sinh, là ác quỷ, ngươi không được sợ họ. Nếu như lãnh đạo và người làm công mù quáng và không nhìn thấu, là người hồ đồ và phế vật, hoặc là họ làm việc không quyết đoán, không hề đắc tội với người khác, chỉ tham hưởng lợi ích của địa vị chứ không làm công tác thực tế, vậy thì anh chị em đừng trông chờ vào họ, phải dựa theo nguyên tắc mà liên hợp lại để tỉa sửa kẻ ác và giải quyết Giu-đa. Hoặc là đổi địa điểm nhóm họp, hoặc là dùng phương thức khôn ngoan để thanh lọc họ đi để khỏi bị họ quấy nhiễu. Có thể bảo đảm đời sống hội thánh được tiến hành bình thường, bảo đảm các công tác của hội thánh được tiến triển bình thường, đây là điều quan trọng nhất. Nếu lãnh đạo hội thánh làm công tác thực tế, tố chất cũng đủ, nhân tính cũng rất tốt, vậy họ chỉ cần làm công tác theo sự sắp xếp công tác thì mọi người sẽ thuận phục họ. Nếu họ không làm công tác thực tế, thì đừng có để tâm đến họ hoặc cậy dựa vào họ, lúc này phải dựa vào lời Đức Chúa Trời và nguyên tắc lẽ thật mà giải quyết vấn đề, nên cách chức họ thì cách chức, nên bầu lại thì bầu lại. Nếu lãnh đạo giả này không bảo vệ lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, cũng không bảo vệ hoàn cảnh làm bổn phận của anh chị em, không quan tâm đến sự an nguy của anh chị em, vậy thì họ không đạt tiêu chuẩn, không xứng với chức danh, chỉ là thứ phế vật to tướng, thứ đồ trang trí mà thôi – anh chị em không được nghe lời họ, cũng không được để bị họ kìm kẹp. Hễ là lãnh đạo và người làm công mà không thể thanh lọc loại người như Giu-đa bất kỳ lúc nào, thì đều là lãnh đạo giả và người làm công giả, đối với loại lãnh đạo giả và người làm công giả thì nên xử lý như vậy. Nếu không kịp thời xử lý họ, thì anh chị em đều sẽ bị Giu-đa bán đứng và hội thánh sẽ không còn tồn tại nữa. Biểu hiện thứ tám “Có thể bán đứng bất kỳ lúc nào” thông công đến đây là xong.
I. Có thể rời bỏ bất kỳ lúc nào
Biểu hiện thứ chín là “Có thể rời bỏ bất kỳ lúc nào”. Loại người có thể rời bỏ nhà Đức Chúa Trời bất kỳ lúc nào này không phải là do họ gặp trường hợp đặc thù hoặc là gặp đại hoạ, đại nạn vượt quá sức chịu đựng của một người bình thường, vượt quá giới hạn của họ, nên họ mới rời bỏ. Thay vào đó, họ có thể rời bỏ bất kỳ lúc nào, nghĩa là vì một chút chuyện nhỏ họ cũng có thể rời bỏ, một chút chuyện nhỏ cũng có thể dẫn đến việc họ không muốn làm bổn phận nữa, cũng không muốn tin Đức Chúa Trời nữa, chỉ muốn rời bỏ nhà Đức Chúa Trời. Loại người này cũng là một mối phiền phức lớn. Nhìn bề ngoài họ có vẻ tốt hơn loại người là Giu-đa một chút, nhưng họ có thể rời bỏ nhà Đức Chúa Trời mọi nơi mọi lúc, chuyện họ có thể bán đứng anh chị em hay không thì vẫn rất khó nói. Các ngươi nói xem, loại người này có đáng tin cậy không? (Thưa, không đáng tin cậy.) Vậy họ có nguyên tắc trong việc làm người không? Họ có nền tảng trong việc tin Đức Chúa Trời không? (Thưa, không có.) Họ có ý tin thật không? (Thưa, không có.) Vậy đây là loại người gì? (Thưa, là người không tin.) Họ tin Đức Chúa Trời và làm bổn phận mà như đang đùa giỡn. Họ giống như kẻ không chuyên tâm làm việc chính đáng ra đường mua xì dầu, thấy trên đường có gánh xiếc, có người biểu diễn rong rất náo nhiệt, là họ cứ mải mê xem cảnh náo nhiệt mà quên mua xì dầu, kết quả làm chậm trễ việc chính đáng. Loại người này làm việc gì cũng không lâu dài, cứ chân trong chân ngoài. Khi tin Đức Chúa Trời, họ cũng dựa vào hứng thú – họ cảm thấy tin Đức Chúa Trời rất vui, nhưng chưa biết đến lúc nào đó hết hứng thú thì họ có thể lập tức bỏ đi, không lưu luyến chút nào. Có người lập tức đi làm ăn, có người theo đuổi con đường làm quan, có người yêu đương và chuẩn bị kết hôn, có người muốn lập tức làm giàu nên lao vào sòng bạc. Người ta có câu “Ba ngày không gặp, phải nhìn bằng con mắt khác”, loại người có thể rời bỏ nhà Đức Chúa Trời bất kỳ lúc nào này, chỉ cần một ngày không gặp thì khi gặp lại đã như hai người hoàn toàn khác rồi. Ngày hôm qua, họ còn ăn mặc đoan trang đứng đắn, trông rất có khuôn phép, có hình tượng đàng hoàng, còn nước mắt ngắn dài mà cầu nguyện với Đức Chúa Trời và nói rằng muốn dâng hiến thanh xuân và đổ máu vì Đức Chúa Trời, muốn chết vì Đức Chúa Trời, muốn trung thành cho đến chết, và muốn bước vào vương quốc. Họ hô những khẩu hiệu cao quý như vậy, chẳng bao lâu sau lại tìm tới sòng bạc. Hôm qua, họ còn rất vui vẻ làm bổn phận, lúc nhóm họp và đọc lời Đức Chúa Trời thì họ đọc đến mức mặt mày đỏ ửng cả lên, nhiệt huyết sục sôi, cảm động đến mức khóc nức nở, sao hôm nay lại chạy đến sòng bạc rồi? Họ chơi đến đêm hôm khuya khoắt cũng không muốn về nhà, chơi rất vui vẻ và nhiệt huyết sục sôi. Hôm qua họ còn nhóm họp, hôm nay đã chạy đến sòng bạc – rốt cuộc loại biểu hiện nào mới là con người thực sự của họ? (Thưa, biểu hiện sau mới là con người thực sự của họ.) Nếu người ta không hiểu lẽ thật thì thực sự không nhìn thấu được loại người này rốt cuộc là thứ gì. Hai loại biểu hiện trước và sau thực ra đều là của một người, nhưng sao lại giống như hai người vậy? Người như vậy thì người bình thường không thể nhìn thấu. Ngươi xem, họ tin Đức Chúa Trời thì cũng thường xuyên nhóm họp, cũng không làm việc ác, làm bổn phận cũng có thể chịu khổ và trả giá, ngồi trước máy tính hết sức chuyên tâm chăm chút rất chịu khó và để tâm. Ngươi cảm thấy họ là người tin Đức Chúa Trời thì hẳn là sẽ không chơi mạt chược đâu, phải không? Kết quả là nếu qua một ngày không thấy họ, thì chỉ có thể là họ đã chạy tới quán mạt chược, hoặc là lao vào sòng bạc để đánh bạc. Họ còn là tay chơi mạt chược thứ dữ, nhìn họ như vậy chẳng giống người tin Đức Chúa Trời chút nào! Ngươi sẽ hoang mang – họ rốt cuộc là người tin Đức Chúa Trời, hay là người ngoại đạo chơi mạt chược? Làm cách nào mà họ đổi vai nhanh như vậy? Vậy khi tin Đức Chúa Trời, trong lòng họ có Đức Chúa Trời không? (Thưa, không có.) Họ tin Đức Chúa Trời chỉ để góp vui và giải trí, xem thử tin Đức Chúa Trời rốt cuộc là như thế nào, đời sống có hạnh phúc không. Nếu không vui thì họ có thể bỏ đi bất kỳ lúc nào. Họ đâu dự tính tin cả đời, càng không dự tính làm bổn phận và đi theo Đức Chúa Trời cả đời. Vậy họ dự tính điều gì? Họ cho rằng, nếu thực sự phải tin Đức Chúa Trời thì ít nhất chuyện này không được làm lỡ việc vui chơi của họ, còn phải cho họ khỏi cần làm việc và bảo đảm cho họ một cuộc sống hạnh phúc, như vậy mới được. Nếu như mỗi ngày đều đọc lời Đức Chúa Trời và thông công về lẽ thật thì họ sẽ không có hứng thú, sẽ không vui, một khi chán ghét thì sẽ rời bỏ hội thánh mà chạy về với thế gian. Họ cảm thấy “Con người sống trên đời chẳng dễ dàng gì, không thể xử tệ với bản thân, số phận của mình phải do mình làm chủ, không thể bạc đãi xác thịt, phải bảo đảm mỗi ngày đều sống vui vẻ thì mới tự do tự tại. Tin Đức Chúa Trời, nhưng cũng không thể cố chấp. Xem tôi nghĩ thoáng biết bao, chỗ nào vui thì thì tôi tới, không vui thì tôi đi. Tại sao lại khiến cho mình không được tự tại chứ? Có thể rời bỏ bất kỳ lúc nào, đây mới là tín điều tối cao trong việc làm người của chúng tôi, làm một “kẻ tin chu du trên bầu trời”, sống như vậy mới tự tại và thoải mái biết bao!”. Loại người này thường hát bài gì? Họ hát: “Đừng hỏi tôi từ đâu tới, quê hương tôi ở nơi xa xôi”. Không thì hát bài gì? “Sao không tự do phóng khoáng một lần đi?”. Khi cảm thấy nhạt nhẽo và không vui nữa, thì họ nhanh chóng rời bỏ: “Chân trời nơi nào chẳng có cỏ thơm”. Họ còn có một câu hay ho nữa là gì? “Hà tất vì một cái cây mà bỏ cả khu rừng”. Các ngươi nói xem, loại người này có tín ngưỡng thực sự không? (Thưa, không có, họ là người không tin.) Đối với loại người không tin, vì vấn đề của họ mà chúng ta nói đến toàn là vấn đề về nhân tính, vậy nhân tính của loại người này rốt cuộc có vấn đề gì? Các ngươi nói xem, loại người này có suy ngẫm gì về những chuyện như nên làm người như thế nào, con người nên đi con đường nào, hay con người sống thì nên có nhân sinh quan và giá trị quan như thế nào, hay không? (Thưa, không có.) Vậy nhân tính của loại người có vấn đề gì? (Thưa, loại người này không có lý trí và lương tâm của nhân tính bình thường, họ không biết suy ngẫm về những vấn đề này.) Chắc chắn là vậy. Ngoài ra, nói cho chính xác, thì loại người này không có linh hồn, họ là cái xác không hồn, họ không có nhu cầu cũng không biết suy ngẫm về chuyện nên làm người như thế nào hay con người nên đi con đường nào. Nguyên nhân khiến họ không biết suy ngẫm là vì mặc dù bề ngoài họ có hình tượng của con người, nhưng thực chất của họ là cái xác không hồn, là cái vỏ rỗng. Thái độ của loại người này đối với chuyện nhân sinh và sinh tồn chính là sống tạm bợ. Nói một cách cụ thể thì sống tạm bợ nghĩa là ăn rồi chờ chết, vô học bất tài, suốt ngày ăn uống chơi bời, nơi nào vui vẻ thì đến, làm chuyện gì vui vẻ, sung sướng và khiến xác thịt thoải mái thì làm, còn những chuyện làm cho xác thịt chịu khổ và nội tâm đau khổ thì họ sẽ tránh né và rời xa, nghĩa là họ không muốn để cho xác thịt của mình chịu đau khổ. Ngược lại, có một vài người thông qua việc chịu đau khổ mà thể nghiệm cuộc đời, hoặc là thông qua việc trải nghiệm và thể nghiệm đủ loại chuyện mà làm cho cuộc đời của mình không trống rỗng, có thể có thu hoạch, cuối cùng đúc kết ra con đường mà con người nên đi là thế nào, nên làm dạng người ra sao. Thông qua thể nghiệm cuộc đời mà họ thu hoạch được rất nhiều, một mặt họ có thể nhìn thấu một vài người, mặt khác họ có thể đúc kết ra con người nên dùng nguyên tắc và phương thức như thế nào để đối đãi với các loại người, sự việc và sự vật, cũng như về chuyện một đời này con người nên sống như thế nào. Cho dù những thứ cuối cùng họ đúc kết được có phù hợp hay trái ngược với lẽ thật, thì tóm lại họ vẫn là người có suy ngẫm. Trái lại, loại người có thể rời bỏ nhà Đức Chúa Trời bất kỳ lúc nào thì không có hứng thú với việc tin Đức Chúa Trời, mưu cầu lẽ thật, hay là làm bổn phận. Họ luôn muốn tìm cơ hội để thỏa mãn tình dục và sở thích của mình, chẳng bao giờ muốn cần cù học cho tốt một nghiệp vụ nào đó trong lúc làm bổn phận, cũng không muốn làm tốt bổn phận và sống cuộc đời có ý nghĩa. Họ chỉ muốn giống như người ngoại đạo mỗi ngày đều vui vẻ, sung sướng là được. Vì thế, đi đến đâu họ cũng chỉ tìm niềm vui, tìm thú vui, chỉ để thỏa mãn hứng thú và lòng hiếu kỳ của mình. Nếu cứ để họ làm mãi một bổn phận thì họ sẽ mất hứng thú, cũng không có tâm tư để làm. Thái độ của loại người này đối với cuộc đời chính là “tạm bợ”. Nhìn bề ngoài, họ có vẻ sống rất tự tại, rất thoáng, cũng không so đo với người khác, mỗi ngày đều vui vẻ, hào sảng, đi đến đâu cũng có thể thích ứng với mọi hoàn cảnh. Có người còn không bị ảnh hưởng và trói buộc bởi tục lệ thế gian hoặc đạo lý đối nhân xử thế, nhìn bề ngoài có vẻ rất thoát tục và vượt trội. Nhưng thực ra, thực chất của họ lại là một cái xác không hồn, là một thứ không có linh hồn. Loại người tin Đức Chúa Trời nhưng có thể rời bỏ hội thánh bất kỳ lúc nào này, dù làm chuyện gì cũng không lâu dài, cả thèm chóng chán. Ngược lại, người có lương tâm và lý trí thì khác, bất kể làm bổn phận gì, họ đều nghiêm túc học tập, cố gắng làm tốt, có thể hoàn thành được việc và tạo ra chút giá trị. Một mặt, họ có thể đạt được sự công nhận của những người quanh mình, đồng thời họ khiến bản thân cảm thấy tự tin trong lòng, thấy mình có thể làm chút việc, là người có ích, chứ không phải phế nhân. Đây là điều tối thiểu mà người có lương tâm và lý trí của nhân tính bình thường có thể đạt đến. Nhưng loại người sống tạm bợ thì chưa bao giờ nghĩ đến những chuyện này, đi đến đâu cũng ăn uống chơi bời. Nhìn bề ngoài thì loại người này có vẻ sống rất tự do tự tại, rất tự nhiên, nhưng thực ra họ là người không có suy nghĩ, làm chuyện gì cũng không nghiêm túc, luôn qua quýt cẩu thả, cả thèm chóng chán, chẳng bao giờ hoàn thành được chuyện gì. Cả đời họ chỉ muốn tạm bợ, đi đến đâu cũng có thái độ tạm bợ, ngay cả việc tin Đức Chúa Trời cũng không ngoại lệ. Ngươi thấy trong một khoảng thời gian nào đó, họ làm bổn phận có vẻ rất nghiêm túc, cũng có thể chịu khổ và trả giá, nhưng cho dù có ai chỉ ra vấn đề gì của họ, hay là nói cho họ biết nên làm như thế nào, thì họ cũng chẳng bao giờ xem ra gì, chẳng tiếp nhận lẽ thật chút nào. Họ muốn làm như thế nào thì cứ làm như thế ấy, chỉ cần vui vẻ là được, nếu không vui nữa thì họ sẽ đi chơi, được ai khuyên, họ cũng không nghe. Trong lòng họ nghĩ: “Dù sao tôi cũng đâu có ý định tin đức chúa trời lâu dài”. Nếu bị ai đó tỉa sửa, thì họ lập tức có thể rời bỏ. Đây là một biểu hiện của những người có thể rời bỏ hội thánh bất kỳ lúc nào.
Loại người có thể rời bỏ hội thánh bất kỳ lúc nào còn có một biểu hiện nữa. Có một vài người bất kể đã tin Đức Chúa Trời bao nhiêu năm, bất kể bề ngoài trông họ có nền tảng hay không, bất kể họ đã từng làm qua bổn phận nào – ngay khi gặp hoàn cảnh đặc biệt nào đó liên quan đến lợi ích thiết thân của mình thì họ có thể chơi trò biến mất. Bất kỳ lúc nào cũng có khả năng mất liên lạc với họ và chẳng thấy họ trong hội thánh nữa, những người khác còn không biết họ có gặp chuyện gì không. Có người gặp người khác giới thì tán tỉnh, thế là không làm bổn phận nữa mà chỉ lo yêu đương, rồi mất liên lạc luôn. Lại có người, khi con cái đến tuổi dựng vợ gả chồng, họ bận lo liệu hôn sự cho con nên không làm bổn phận, cũng không tham gia nhóm họp, ai đến tìm thì họ đều khoá cửa không gặp. Có người trong nhà có cha mẹ hoặc vợ chồng bị bệnh nằm viện, hoặc là xảy ra chuyện lớn gì đó, hoặc là xảy ra tai họa ngoài ý muốn, nếu như là người thật sự tin Đức Chúa Trời thì họ sẽ có một lời giải thích, sẽ nói: “Mấy ngày nay, trong nhà tôi có việc bận, không thể đến nhóm họp, tôi phải xin vắng mặt. Nếu các chị có thể tìm được người thích hợp thì nhanh chóng để họ làm bổn phận thay tôi đi”. Ít nhất họ sẽ thông báo một tiếng và có một lời giải thích. Nhưng loại người có thể rời bỏ hội thánh bất kỳ lúc nào thì không nói lời nào mà cứ thế trực tiếp cắt đứt liên lạc với hội thánh, anh chị em làm thế nào cũng không liên lạc được với họ. Không phải là họ không có điều kiện liên lạc, phương thức nào cũng có thể liên lạc được với họ, nhưng họ không muốn liên lạc, không muốn để ý tới anh chị em. Họ nói: “Tại sao tôi phải liên lạc với anh? Tôi làm bổn phận là tự nguyện, đâu có lấy tiền công, tôi muốn đi là đi thôi! Nhà tôi có việc là chuyện riêng của tôi, tôi không có nghĩa vụ thông báo cho anh và anh cũng không có quyền được biết!”. Có người đi một, hai tháng, lại trở về báo cáo mà chẳng cảm thấy mất mặt gì, như thể chưa có chuyện gì xảy ra. Có người đi biệt hai, ba năm, làm thế nào cũng không liên lạc được, người của hội thánh không hiểu tình hình còn cho rằng người này đã tin Đức Chúa Trời nhiều năm rồi nên sẽ không có chuyện họ rời bỏ hội thánh, chắc chắn là đã xảy ra chuyện ngoài ý muốn gì đó, còn lo lắng không biết họ có bị Trung Cộng bắt giữ hay không. Thực ra, người ta không muốn tin Đức Chúa Trời nữa, nên họ rời bỏ mà không thông báo gì với anh chị em. Có người rời bỏ chừng mười ngày nửa tháng lại quay về, như vậy vẫn chưa tính là không tin nữa. Có người rời bỏ hai năm, ba năm, vậy các ngươi nói xem, như vậy có phải tính là không tin nữa hay không? (Thưa, phải.) Đây chính là không tin nữa, nên gạch tên họ đi. Đây đâu phải là chuyện rời bỏ bình thường, mà là không tin nữa. Trong mắt con người, như vậy gọi là không tin nữa. Còn trong mắt Đức Chúa Trời thì thế nào? Trong mắt Đức Chúa Trời, đây gọi là phủ nhận Đức Chúa Trời, không đi theo Đức Chúa Trời và vứt bỏ Đức Chúa Trời. Nhưng trong mắt họ, thì họ cho rằng: “Tôi đâu có vứt bỏ Đức Chúa Trời, trong lòng tôi vẫn tin Ngài mà!”. Ngươi xem, người ta nói nhẹ như không vậy đó. Còn có người, chỉ cần tâm trạng không tốt, trong lòng không thoải mái, cảm thấy làm bổn phận quá khổ, quá mệt, hoặc bị tỉa sửa một chút, thì không đến nhóm họp, cũng không làm bổn phận nữa. Họ cũng không bàn giao công việc đang làm, cứ thế mà rời bỏ, còn nói: “Đừng ai liên lạc với tôi cả, tôi không vui, không muốn tin nữa!”. Họ không vui một cái là bỏ đi hơn một năm, người này đúng là nóng tính ghê gớm, hơn một năm rồi mà vẫn chưa nguôi ngoai. Có người đảm nhiệm công tác của lãnh đạo và người làm công ở hội thánh, kết quả chẳng những không làm tốt mà còn làm xằng làm bậy, gây nhiễu loạn và gián đoạn cho công tác hội thánh, sau đó anh chị em không bầu họ nữa, còn phân định, thông công và vạch trần họ. Thế là họ ngẫm nghĩ: “Các người đang đấu tố tôi sao? Chẳng phải chỉ là không làm tốt công tác thôi sao, có gì to tát chứ, sao còn thông công và vạch trần tôi như vậy? Tôi sống tới từng tuổi này mà chưa khi nào chịu ấm ức như vậy! Trước kia, lúc chưa tin đức chúa trời, chỉ có tôi giáo huấn người khác, nào có ai dám giáo huấn tôi, có bao giờ tôi phải chịu cái khổ như vậy chưa? Các ngươi đều ức hiếp tôi, làm cho tôi mất mặt, tôi không tin nữa!”. Họ nói không tin là liền không tin nữa. Những người nói lời này không chỉ là những người trẻ tuổi, mà những người đã tin Đức Chúa Trời tám năm, mười năm, đã bốn mươi, năm mươi tuổi rồi, nhưng lúc không vui cũng có thể nói ra lời này. Người như vậy thì trong lòng chỗ cho Đức Chúa Trời không? Có coi việc tin Đức Chúa Trời là đại sự lớn nhất trong đời không? Khi người ta bị tỉa sửa, gặp tai hoạ hoặc trắc trở, thì có chút tiêu cực, yếu đuối là bình thường, nhưng họ không đến mức vì chút chuyện này mà không tin Đức Chúa Trời nữa. Còn người có thể vì vậy mà không tin nữa thì đều không phải là người thật lòng tin Đức Chúa Trời. Người thật lòng tin Đức Chúa Trời mà bị bắt và bị bách hại thì vẫn có thể kiên trì tin Đức Chúa Trời, đây mới là người có lời chứng. Có người gặp chút thiên tai, mà anh chị em không biết, hoặc là biết hơi muộn nên không kịp thời giúp đỡ họ, thì trong lòng họ liền ngẫm nghĩ: “Tôi gặp khó khăn mà chẳng có ai để ý đến tôi, như vậy là xem thường tôi! Tin Đức Chúa Trời cũng chẳng có ý nghĩa gì, tôi không tin nữa!”. Chỉ vì chút chuyện nhỏ như vậy mà họ có thể không tin Đức Chúa Trời nữa. Đây là biểu hiện của loại người có thể rời bỏ hội thánh bất kỳ lúc nào.
Loại người có thể rời bỏ bất kỳ lúc nào còn có một trường hợp nữa. Trung Cộng vì muốn lôi kéo họ mà cho họ một công việc tốt, nói rằng: “Anh tin Đức Chúa Trời thì một xu cũng không kiếm nổi, vậy thì có thể có tiền đồ gì chứ? Chúng tôi đã tìm cho anh một công ty nước ngoài, lương cao, phúc lợi cũng tốt, còn có bảo hiểm lao động. Anh tin Đức Chúa Trời mà không có tiền đồ, chi bằng đi làm kiếm tiền, sống một cuộc sống tốt cho rồi”. Cuối cùng họ rời bỏ hội thánh để đi làm. Có người nói: “Hôm qua người này còn ở hội thánh làm bổn phận, hôm nay sao lại xách ba lô rời đi rồi?”. Người ta đi làm kiếm tiền rồi, không tin Đức Chúa Trời nữa. Họ đi mà không chào hỏi gì, từ đó về sau “nước sông không phạm nước giếng” với anh chị em nữa, thành đường ai nấy đi rồi. Người ta muốn theo đuổi danh lợi, một bước lên mây, không còn tin Đức Chúa Trời nữa. Còn có người trong quá trình rao truyền phúc âm thì gặp được đối tượng mình thích, sau khi tán tỉnh thì cùng người ấy sống ngày tháng đời mình, chẳng những không làm bổn phận mà còn không tin Đức Chúa Trời nữa. Cha mẹ ở nhà vẫn không biết, còn tưởng rằng họ đang ở nhà Đức Chúa Trời làm bổn phận, thực ra người này đã sớm đi mất tăm, nói không chừng đã sinh con rồi. Ngươi xem, việc làm bổn phận quan trọng như vậy, nhất là công tác rao truyền phúc âm quan trọng như vậy họ cũng có thể từ bỏ. Khi gặp được đối tượng họ thích hoặc là đối tượng thích họ, người ta nói vài lời tán tỉnh dụ dỗ đơn giản là họ liền đi theo, họ nhẹ dạ và tuỳ tiện như vậy đấy, họ có thể rời bỏ Đức Chúa Trời và phản bội Đức Chúa Trời mọi nơi mọi lúc. Bất kể đã tin Đức Chúa Trời mấy năm, nghe bao nhiêu bài giảng đạo, họ vẫn không hiểu chút lẽ thật nào. Đối với họ mà nói thì việc tin Đức Chúa Trời không quan trọng, việc làm bổn phận cũng chẳng là gì, họ vì muốn được phúc nên đành phải làm như vậy mà thôi. Ngay khi bản thân có chuyện hoặc trong nhà có chuyện, họ nói đi là có thể đi. Khi gặp chút thiên tai, họ nói không tin là không tin nữa. Chuyện gì cũng có thể quấy nhiễu việc họ tin Đức Chúa Trời, chuyện gì cũng có thể khiến họ tiêu cực và từ bỏ bổn phận, đây là loại người gì vậy? Chuyện này thật đáng để mọi người suy ngẫm cho sâu!
Người có thể rời bỏ hội thánh bất kỳ lúc nào là loại người gì? Một loại là người hồ đồ, không có đầu óc và không có suy nghĩ, họ tin bao nhiêu năm rồi cũng không biết vì sao phải tin Đức Chúa Trời, không biết tin Đức Chúa Trời rốt cuộc là chuyện như thế nào. Một loại khác chính là người không tin, họ căn bản không tin có Đức Chúa Trời, cũng không hiểu ý nghĩ và giá trị của việc tin Đức Chúa Trời là gì. Đối với họ, nghe giảng đạo và đọc lời Đức Chúa Trời cũng giống như học thần học hoặc học một môn tri thức nghiệp vụ, chỉ cần hiểu được và giảng được là xong chuyện, chứ họ chẳng bao giờ áp dụng vào thực hành. Đối với họ, lời Đức Chúa Trời cũng chỉ là một loại lý luận, một loại khẩu hiệu, không thể trở thành sự sống của họ. Vì vậy, đối với những người này mà nói, hễ là chuyện liên quan đến việc tin Đức Chúa Trời thì họ đều không thấy hứng thú. Những chuyện như làm bổn phận, mưu cầu lẽ thật, thực hành lời Đức Chúa Trời, hoặc cùng với anh chị em nhóm họp và sống đời sống hội thánh, v.v… đủ mọi phương diện này đều không có bất kỳ sức hấp dẫn nào đối với họ, đều không làm cho họ cảm thấy vui vẻ và thoả thích như lúc ăn uống chơi bời. Ngược lại, người thật lòng tin Đức Chúa Trời cảm thấy rằng khi chung sống cùng một chỗ với anh chị em để thông công lẽ thật và sống đời sống hội thánh thì bất kỳ lúc nào cũng có thể đạt được lợi ích và thu hoạch. Mặc dù có lúc phải đối mặt với nguy hiểm và bức bách, hoặc là chịu hiểm nguy khi rao truyền phúc âm, chịu chút vất vả cực khổ khi làm bổn phận, nhưng bất kể thế nào đi nữa, họ chịu khổ và trả giá thì đổi lại hiểu được lẽ thật, đạt đến kết quả là nhận thức được Đức Chúa Trời và đem lại sự thay đổi trong tâm tính sự sống. Như vậy, sau khi tính toán và đánh giá, họ cảm thấy việc tin Đức Chúa Trời thật tốt, có thể hiểu lẽ thật thì quá có giá trị, vì vậy lòng họ đặc biệt quyến luyến hội thánh và chẳng bao giờ muốn rời bỏ đời sống hội thánh. Nếu nhìn thấy người khác gây nhiễu loạn công tác hội thánh và bị gửi đến nhóm B hoặc bị hội thánh cách ly và thanh trừ, thì trong lòng những người thật lòng tin Đức Chúa Trời này sẽ có chút ngổn ngang, trong lòng họ nghĩ: “Mình phải làm bổn phận cho tốt. Mình không thể bị thanh trừ, bị thanh trừ đồng nghĩa với bị trừng phạt, kết cục sẽ là xuống địa ngục! Sống như vậy thì còn có ý nghĩa gì nữa?”. Đa số mọi người đều sợ rời bỏ hội thánh, họ cảm thấy một khi rời bỏ hội thánh, rời bỏ Đức Chúa Trời rồi thì sẽ không có cách nào sống sót, sẽ cảm thấy hết thảy đều tiêu tùng. Ngược lại, những người có thể rời bỏ hội thánh bất kỳ lúc nào thì cảm thấy rời bỏ hội thánh là chuyện rất bình thường, giống như bỏ công việc này đi tìm một công việc khác, trong lòng chẳng bao giờ khó chịu hay đau khổ gì. Các ngươi nói xem, người có thể rời bỏ hội thánh bất kỳ lúc nào thì có lương tâm và lý trí không? Người như vậy đúng là không thể tưởng tượng nổi! Có vài người làm bổn phận không đạt tiêu chuẩn, còn luôn làm xằng làm bậy, gây ra sự nhiễu loạn và gián đoạn cho công tác hội thánh, thế là hội thánh không để họ làm bổn phận nữa, mà sắp xếp họ đến hội thánh bình thường, kết quả thế nào? Ngày hôm sau, họ giống như biến thành một người khác, bắt đầu một cuộc đời khác. Có người yêu đương và kết hôn, có người bắt đầu tìm việc làm, có người thì đi học đại học, có người còn liên lạc với bạn bè trước đây, xây dựng quan hệ và tìm cơ hội làm giàu. Những người này lập tức trà trộn vào thế giới bao la và biến mất trong biển người mênh mông – nhanh như vậy đấy. Có một vài anh chị em sau khi bị sắp xếp đến hội thánh bình thường vì kết quả làm bổn phận không được tốt, thì cũng thấy ngổn ngang một thời gian, nhưng họ có thể phản tỉnh bản thân, có thể nhận thức được vấn đề của mình và có một chút thái độ quay đầu. Ngược lại, những người có thể rời bỏ hội thánh bất kỳ lúc nào thì hễ gặp chút khó khăn là không muốn làm bổn phận nữa, ngay hôm sau liền rời bỏ hội thánh và quay về cuộc sống của người ngoại đạo. Họ chẳng thấy khó chịu chút nào, còn cảm thấy: “Tin đức chúa trời có gì tốt chứ! Luôn luôn bị người ta chế ngạo và phỉ báng, chưa biết chừng còn bị bắt ngồi tù. Nếu như bị con rồng lớn sắc đỏ đánh chết thì chẳng phải mình đã sống uổng phí sao? Tin Đức Chúa Trời mấy năm nay, mình đã chịu khổ không ít, nhưng có được cái gì đâu? Nếu không tin đức chúa trời thì mình đã sớm làm quan, giàu có và sống cuộc sống đứng trên thiên hạ rồi! Tin đức chúa trời đến bây giờ, mình thấy hối hận rồi. Sớm biết như vậy thì mình đã rời bỏ từ lâu! Hiểu lẽ thật thì có ích gì? Có thể ăn thay cơm, có thể dùng làm tiền được à?”. Ngươi xem, họ chẳng những không hối hận mà còn vui mừng vì mình có thể rời bỏ hội thánh, đây có phải là bộ mặt thật của người không tin nơi họ đã lộ ra rồi hay không? (Thưa, phải.)
Có những người làm bổn phận lúc nào cũng qua loa chiếu lệ và làm xằng làm bậy. Sau khi bị hội thánh thanh trừ, họ nhìn thấy anh chị em thì giống như nhìn thấy kẻ thù. Anh chị em tốt bụng nên nói chuyện với họ mà họ cũng không thèm để ý, còn thù hằn và nói: “Chính các anh thanh trừ tôi ra khỏi hội thánh, giờ xem tôi thế nào đi? Tốt hơn các anh rồi phải không? Giờ tôi đeo vàng đeo bạc, là một ông chủ lớn! Tôi ở trên thế gian sống thoải mái biết bao, anh xem, các anh tin Đức Chúa Trời bần hàn và cực khổ biết mấy! Các anh luôn mưu cầu đạt được lẽ thật, nhưng tôi thấy các anh cũng không thông minh hơn tôi đâu! Có được lẽ thật thì tốt ở chỗ nào? Có thể ăn thay cơm, có thể dùng thay tiền không? Tôi không mưu cầu lẽ thật, chẳng phải cũng sống rất tốt sao? May mà các anh thanh trừ tôi, tôi phải cảm ơn các anh mới được!”. Trong lời nói của họ, có thể thấy được họ chính là một kẻ chẳng tin, việc làm bổn phận đã tỏ lộ họ. Một người ngoại đạo ngoài miệng nói tin Đức Chúa Trời thì có thể cam tâm làm bổn phận không? Làm bổn phận là thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ, không có lương và không kiếm được tiền, họ cảm thấy đây là chuyện thiệt thòi nên không sẵn lòng làm bổn phận. Chân tướng kẻ chẳng tin của họ cứ như vậy mà bị bại lộ, đây là cách công tác của Đức Chúa Trời tỏ lộ và đào thải những kẻ chẳng tin. Có vài người khi làm bổn phận thì luôn có thái độ qua loa chiếu lệ, được ngày nào hay ngày đó. Nhưng một khi có cơ hội làm giàu và thăng tiến trong thế gian, thì họ có thể rời bỏ hội thánh bất kỳ lúc nào – đây chính là chủ ý mà họ dự tính. Nếu họ lúc nào cũng qua loa chiếu lệ và làm xằng làm bậy khi làm bổn phận, sau đó bị phân đến hội thánh bình thường, thì họ chẳng những không biết phản tỉnh bản thân, lại còn cho rằng: “Anh thanh lọc tôi ra khỏi hội thánh làm bổn phận toàn thời gian, thì anh mới là người chịu tổn thất, còn đối với tôi mà nói, như vậy là có lợi”, họ còn rất đắc ý. Đây chẳng phải là kẻ chẳng tin sao? Các ngươi nói xem, đối với những kẻ chẳng tin vì làm xằng làm bậy mà gây ra sự nhiễu loạn và gián đoạn nghiêm trọng cho công tác hội thánh nên mới bị thanh lọc đi, nhà Đức Chúa Trời thanh lọc như vậy thì có phù hợp với nguyên tắc không? (Thưa, phù hợp với nguyên tắc.) Hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc, không oan uổng cho họ chút nào. Thái độ của họ đối với với Đức Chúa Trời và việc làm bổn phận chính là có thể từ bỏ và phản bội bất kỳ lúc nào, điều này đủ để chứng tỏ trong lòng họ không có chút hứng thú nào đối với những điều tích cực. Họ tin Đức Chúa Trời nhiều năm như vậy, cũng đã nghe rất nhiều bài giảng đạo, nhưng những lẽ thật về việc tin Đức Chúa Trời hay những lời chứng trải nghiệm của dân được Đức Chúa Trời chọn đều không giữ được lòng họ. Trong những điều này, chẳng có gì có thể khiến họ cảm thấy hứng thú, cũng chẳng có gì có thể khiến họ cảm động hay quyến luyến. Đây chính là thực chất nhân tính của họ, thực chất nhân tính này chính là không có chút hứng thú nào đối với những điều tích cực. Vậy họ hứng thú với những chuyện gì? Họ hứng thú với chuyện ăn uống chơi bời, hưởng thụ xác thịt, trào lưu tà ác và triết lý Sa-tan. Họ đặc biệt hứng thú với mọi điều tiêu cực trong xã hội, chỉ không hứng thú với lẽ thật và lời Đức Chúa Trời, cho nên họ có thể rời bỏ nhà Đức Chúa Trời bất kỳ lúc nào. Họ không hề có hứng thú với việc thường xuyên đọc lời Đức Chúa Trời và thường xuyên thông công khi nhóm họp của nhà Đức Chúa Trời, họ đặc biệt thấy ác cảm với việc làm bổn phận, còn cho rằng những người làm bổn phận đều là kẻ ngốc. Đây là tâm thái gì, là nhân tính gì? Họ không có hứng thú với lẽ thật và việc Đức Chúa Trời cứu rỗi con người, không hề quyến luyến đời sống hội thánh. Mặc dù không công khai xét đoán và kết tội lời Đức Chúa Trời, nhưng họ đã nghe giảng đạo mấy năm mà chẳng hiểu được chút lẽ thật nào, như vậy đã cho thấy có vấn đề rồi. Không có người nào vừa ác cảm với những điều tích cực vừa ác cảm với những điều tiêu cực cả. Chỉ cần không thích những điều tích cực thì ngươi sẽ đặc biệt hứng thú với những điều tiêu cực, còn nếu ngươi đặc biệt hứng thú với những điều tiêu cực thì chắc chắn ngươi không có hứng thú với những điều tích cực. Loại người này không có chút hứng thú nào đối với những điều tích cực, cho nên đối với họ, nhà Đức Chúa Trời chẳng có gì đáng để họ quyến luyến, chẳng có những thứ mà họ thích và hướng tới. Chỉ có trào lưu tà ác, tiền bạc, danh lợi, làm quan, làm giàu, đủ loại tà thuyết cùng luận điệu sai lầm thịnh hành của thế gian, mới là thứ họ khiến họ cảm thấy hứng thú nhất. Lòng của họ ở nơi thế gian, chứ không ở nhà Đức Chúa Trời, cho nên họ có thể rời bỏ bất kỳ lúc nào. Rời bỏ nhà Đức Chúa Trời, rời bỏ hội thánh thì họ không thấy hối hận, dày vò hay đau khổ gì, ngược lại còn cho đó là được hoàn toàn giải thoát, họ thầm nghĩ: “Cuối cùng mình đã khỏi phải ngày ngày nghe giảng đạo và nghe thông công về lẽ thật, khỏi cần chịu những sự ràng buộc này nữa. Giờ đây mình có thể mạnh dạn mưu cầu danh lợi, mưu cầu tiền bạc, mưu cầu gái đẹp và tiền đồ, cuối cùng mình cũng có thể yên tâm mạnh dạn mà nói dối, lừa gạt, giở mưu mô, dùng thủ đoạn và các thủ thuật tà ác, có thể dùng đủ loại thủ đoạn để qua lại với người ta rồi!”. Đối với họ, nghe giảng đạo và thông công lẽ thật ở nhà Đức Chúa Trời là đau khổ, rời bỏ nhà Đức Chúa Trời thì họ cảm thấy được giải thoát. Điều này có nghĩa là trong lòng họ không cần những điều tích cực. Thứ họ cần đều là những thứ trên thế gian và trong xã hội. Như vậy xem ra nguyên nhân mà họ rời bỏ hội thánh có liên quan trực tiếp đến sự mưu cầu và sở thích của họ.
Những người có thể rời bỏ nhà Đức Chúa Trời bất kỳ lúc nào thì có thực chất bản tính là gì? Giờ các ngươi đã nhìn rõ chưa? (Thưa, đã nhìn rõ, họ thuộc loại người là kẻ chẳng tin. Loại người này đa số là súc sinh đầu thai, đều là người hồ đồ không có đầu óc và suy nghĩ.) Đúng vậy. Họ không hiểu chuyện tín ngưỡng, đối với chuyện đời người rốt cuộc là gì, con người nên đi con đường nào, làm việc gì là có ý nghĩa nhất, làm người thì nên tuân thủ nguyên tắc thực hành nào, v.v., những chuyện này họ đều không hiểu, cũng không muốn tìm kiếm lẽ thật để hiểu. Họ thích mưu cầu điều gì? Đó là làm chuyện gì thì có thể được lợi ích và có thể hưởng thụ cuộc sống đứng trên thiên hạ, trong lòng họ suốt ngày chỉ ngẫm nghĩ những chuyện này. Có người tin Đức Chúa Trời trong lúc đang đi làm ở thế gian bên ngoài, ngay khi được thăng chức làm giám sát, quản lý hoặc lên làm ông chủ thì họ không tin nữa. Anh chị em tìm họ, thì họ nói: “Bây giờ tôi là người có vai vế, có thân phận rồi. Tôi mà cùng với các anh tin đức chúa trời thì mất mặt quá, các anh nên tránh xa tôi một chút, tuyệt đối đừng đến tìm tôi nữa! Các anh gạch tên tôi cũng được, khai trừ tôi cũng được, tóm lại, chuyện tôi tin đức chúa trời đã là chuyện quá khứ rồi. Từ giờ tôi không còn liên quan gì đến các anh nữa!”. Ngươi xem đi, đây là loại người gì? Vậy, các ngươi còn tìm họ nữa không? (Thưa, không tìm nữa.) Họ đã nói đến nước này, mà vẫn có vài lãnh đạo hội thánh khi nhìn thấy họ rời bỏ thì cứ cảm thấy đáng tiếc, còn nhiều lần tìm họ mà khuyên: “Tố chất của anh tốt biết mấy, trước đây anh còn làm lãnh đạo và người làm công cơ mà, chỉ vì anh không mưu cầu lẽ thật nên bị cách chức. Nếu anh mưu cầu lẽ thật cho tốt, thì đảm bảo anh có thể được cứu rỗi, sau này chắc chắn anh sẽ là trụ cột, rường cột ở nhà Đức Chúa Trời!”. Các lãnh đạo đó càng nói những lời này thì họ càng thấy ác cảm. Có vài lãnh đạo hội thánh hồ đồ và không có sự phân định, thấy người ta ở thế gian được thăng chức thì còn ngưỡng mộ, còn muốn kết thân, đây chẳng phải là hạ thấp bản thân sao? Người hiểu lẽ thật đều có thể nhìn rõ chuyện này, chuyện thăng chức trong xã hội không phải là điềm báo tốt, con đường họ đi không phải là con đường đúng đắn! Có người có chút địa vị trong xã hội thì không tin Đức Chúa Trời nữa – chuyện này vừa vặn đã tỏ lộ họ, chứng tỏ họ không thật lòng tin Đức Chúa Trời hay yêu thích lẽ thật. Nếu là người tin thật, thì cho dù được thăng chức hay có tiền đồ trong xã hội, họ cũng sẽ không rời bỏ Đức Chúa Trời. Bây giờ họ đã phản bội Đức Chúa Trời rồi, liệu hội thánh có cần phải đi tìm họ, và làm công tác trên họ không? Không cần thiết, vì họ bị tỏ lộ là kẻ chẳng tin rồi. Họ không tin Đức Chúa Trời thì người thiệt thòi là chính họ, họ không có phúc phần này. Họ là kẻ mang mệnh hèn, ngươi còn muốn níu kéo họ tin Đức Chúa Trời thì chẳng phải là ngu xuẩn sao? Ngươi càng lôi kéo họ như vậy thì họ càng xem thường ngươi, họ cảm thấy những người tin Đức Chúa Trời này đều là người có địa vị xã hội thấp, lại không có tố chất, cho nên họ đặc biệt kiêu ngạo và tự cho mình là đúng, coi thường bất kỳ ai, ai mà quan tâm và bảo vệ họ thì họ sẽ cho rằng đó đang nịnh bợ họ. Đây là tâm thái gì? Đó là tâm thái không thể nhìn nhận và đối đãi với anh chị em một cách đúng đắn. Đây mà là người thật lòng tin Đức Chúa Trời sao? Gặp phải loại người này thì nên vứt bỏ họ. Chỉ cần họ nói: “Bây giờ tôi là giám sát cấp cao, sau này các anh đừng tìm tôi nữa, còn tìm tôi nữa thì tôi sẽ trở mặt với các anh đấy! Nhất là đừng đến công ty tôi rồi làm mất mặt tôi, tôi không liên quan gì đến những người tin đức chúa trời!”. – họ mà nói ra lời này rồi thì các ngươi phải nhanh chóng rời đi, gạch tên họ, sau này không bao giờ được lui tới với dạng người như vậy nữa. Họ sợ chúng ta hưởng nhờ vinh quang họ, vậy thì chúng ta phải tự biết rõ mình. Người ta phát đạt rồi, muốn đi lên vị trí cao hơn, chúng ta trèo cao không nổi, chúng ta chỉ là dân chúng bình thường, là người thuộc tầng lớp thấp của xã hội, chúng ta không cố trèo cao, đừng tự hạ thấp mình! Còn có những người đã lớn tuổi, con cái mua một căn biệt thự trong thành phố. Họ vừa dọn vào ở là đã tạm biệt các anh chị em, nói rằng: “Các anh chị đừng tìm tôi nữa. Các anh chị đều xuất thân từ nông thôn, nếu các anh chị tìm tôi, người ta còn tưởng tôi cũng xuất thân từ nông thôn, cho rằng tôi có họ hàng ở nông thôn. Như vậy thì mất mặt tôi quá! Biết con trai tôi là ai không? Nó là người giàu có, đại gia, là nhân vật có tiếng trong xã hội! Các anh chị mà liên lạc với tôi chẳng phải là làm mất mặt con trai tôi sao? Sau này đừng tới tìm tôi nữa!”. Một khi họ đã nói ra lời này, ngươi chỉ cần đáp: “Nếu anh đã có thái độ này, vậy chúng tôi hiểu rồi, chúc anh hạnh phúc vui vẻ!”. Nếu nói thêm một câu nào nữa thì đâm ra là ngu xuẩn, thấp hèn, cứ nhanh chóng rời đi là được rồi. Đối với kẻ chẳng tin thì tuyệt đối đừng nài ép lôi kéo, làm vậy thì đều là biểu hiện ngu xuẩn, các ngươi đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Có người ngu xuẩn đến mức nào? Họ nói: “Con trai ông ấy là người giàu có, đại gia, có địa vị trong xã hội, còn kết giao với quan chức. Nếu có thể khuyên ông ấy tiếp tục tin Đức Chúa Trời, thì nhà ông ấy còn có thể làm việc tiếp đãi anh chị em!”. Ý nghĩ này như thế nào? Nếu đó là nghĩ cho công tác của hội thánh, nghĩ cho anh chị em và suy xét từ góc độ an toàn thì hoàn toàn thích hợp. Nhưng ngươi phải xem người ta có thật lòng tin Đức Chúa Trời không. Nếu người ta không sẵn lòng tin Đức Chúa Trời, không thích tiếp xúc với anh chị em mà ngươi vẫn muốn khuyên người ta tin Đức Chúa Trời, như vậy có phải là ngu xuẩn không? Đừng làm chuyện hạ thấp bản thân. Chúng ta tin Đức Chúa Trời thì có Đức Chúa Trời bảo vệ, có Đức Chúa Trời dẫn dắt, cho dù chúng ta sống trong hoàn cảnh nào đều là do Đức Chúa Trời sắp xếp và tể trị, cho dù chịu khổ thế nào, chúng ta cũng phải sống có tôn nghiêm. Có vài người còn ngưỡng mộ những người rời bỏ nhà Đức Chúa Trời, nói người ta có bản lĩnh, quan điểm này có đúng hay không? Chúng ta nên nhìn nhận chuyện này như thế nào? Người ta vừa vào ở biệt thự thì không tin Đức Chúa Trời nữa, người ta có địa vị, có thân phận trong xã hội rồi thì trong lòng coi thường anh chị em, coi anh chị em đều là người thuộc tầng lớp thấp trong xã hội, không xứng để tiếp xúc, qua lại với họ. Vậy thì chúng ta nên tự biết rõ mình, đừng cố trèo cao hay nịnh bợ người khác, phải không? (Thưa, phải.)
Đối với những người có thể rời bỏ nhà Đức Chúa Trời bất kỳ lúc nào, cho dù họ là kẻ chẳng tin hay là thứ ăn không ngồi rồi, cho dù họ tin Đức Chúa Trời để được phúc hay là để tránh tai hoạ – cho dù là trường hợp nào – tóm lại, chỉ cần họ có thể rời bỏ nhà Đức Chúa Trời bất kỳ lúc nào, sau khi rời bỏ còn tỏ ra rất ác cảm với anh chị em đến tìm họ, càng ác cảm với những anh chị em giúp đỡ và hỗ trợ họ, ai thông công lẽ thật cho họ thì họ thù hằn người đó, đối với người như vậy càng không cần để ý làm gì. Nếu phát hiện loại kẻ chẳng tin này thì nên kịp thời vạch trần và thanh trừ. Có những người tuy không yêu thích lẽ thật, nhưng cũng thích làm người tốt, thích ở cùng với anh chị em, như vậy khiến tâm trạng họ vui vẻ, hơn nữa cũng không bị ức hiếp. Trong lòng họ cũng biết họ đang tin Đức Chúa Trời thật, sẵn lòng chăm chỉ đem sức lực phục vụ. Nếu họ thực sự có thái độ này, thì các ngươi nói xem, có nên để cho họ tiếp tục làm bổn phận không? (Thưa, nên.) Nếu bản thân họ cam nguyện đem sức lực phục vụ, không gây nhiễu loạn hay gián đoạn, vậy thì có thể để cho họ tiếp tục đem sức lực phục vụ. Nếu như đến một ngày họ không sẵn lòng đem sức lực phục vụ nữa và muốn rời bỏ nhà Đức Chúa Trời, nói rằng: “Tôi muốn ra thế gian ngoài kia lăn lộn, không cùng các anh tin đức chúa trời nữa. Ở đây không vui, thậm chí có lúc tôi làm bổn phận qua loa chiếu lệ thì còn bị tỉa sửa. Ở nơi này rất khổ, tôi muốn rời bỏ”. Đối với người như vậy, ngươi còn muốn giữ lại sao? (Thưa, không giữ lại.) Chúng ta cứ hỏi họ một câu: “Anh đã nghĩ kỹ chưa?”. Nếu họ nói: “Tôi đã suy nghĩ rất lâu rồi”. Thế thì ngươi cứ nói: “Vậy thì chúc anh mọi điều tốt lành, đi đường bình an, tạm biệt!”. Làm như vậy có được không? (Thưa, được.) Các ngươi nói xem, loại người này là loại người nào? Họ chính là loại người tự cho mình là thoát tục và vượt trội, lại còn hận đời, thường đọc thuộc lòng những câu thơ của người nổi tiếng, cái gì mà: “Vẫy tay áo một cái, chẳng mang theo một áng mây”. Họ cảm thấy họ giữ mình trong sạch, không hợp với thế gian này, còn muốn thông qua việc tin Đức Chúa Trời để tìm chút an ủi. Họ luôn cảm thấy mình không phải người thường, nhưng thực ra họ lại là người dung tục nhất, nghĩa là chỉ sống để ăn uống chơi bời, không có suy nghĩ gì cũng không có sự mưu cầu gì. Họ còn tự xem mình là cao quý, như thể không ai có thể hiểu được tâm tư của họ, không ai có thể theo kịp suy nghĩ của họ, họ tự cho rằng cảnh giới suy nghĩ của mình cao hơn người bình thường, và nói những câu như: “Các anh đều là phàm phu tục tử, xem tôi đi, tôi khác biệt mà. Anh hỏi tôi từ đâu tới, tôi bảo là quê hương tôi ở phương xa”. Họ có nói cho ngươi biết họ từ đâu tới không? Ngươi có biết “phương xa” là ở đâu không? Người có thể rời bỏ hội thánh bất kỳ lúc nào chính là loại người như thế. Họ cảm thấy ở đâu cũng không thể thỏa mãn họ, và họ luôn nghĩ đến những chuyện kỳ ảo, hư vô mờ mịt. Họ không sống theo hiện thực, không hiểu được đời người là thế nào, con người nên lựa chọn con đường như thế nào. Họ chẳng hiểu những chuyện này, họ là thứ lạc loài. Nếu loại người này quyết định rời bỏ hội thánh, nói rằng họ suy xét đã lâu, vậy thì không cần giữ họ lại, không cần nói thêm câu nào nữa, cứ gạch tên họ là xong chuyện. Đối với loại người này thì nên xử lý như vậy, làm vậy là phù hợp với nguyên tắc đối đãi người ta. Đến đây cũng đã thông công xong về loại người có thể rời bỏ hội thánh bất kỳ lúc nào.
J. Dao động
Biểu hiện thứ 10, dao động. Loại người dao động này có những biểu hiện cụ thể nào? Trước hết, những mối hoài nghi lớn nhất của loại người này đối với việc tin Đức Chúa Trời chính là: “Rốt cuộc có đức chúa trời không? Có cõi thuộc linh không, có địa ngục không? Những lời đức chúa trời phán có phải là lẽ thật không? Họ nói Ngài là đức chúa trời nhập thể, nhưng tôi có nhìn ra điểm nào giống đức chúa trời nhập thể đâu! Thần của đức chúa trời rốt cuộc ở đâu? Đức chúa trời có tồn tại không vậy?”. Họ chẳng bao giờ giải cho rõ được những câu hỏi này. Họ thấy có nhiều người tin Đức Chúa Trời thì cảm thấy: “Hẳn đức chúa trời tồn tại, có khả năng Ngài tồn tại và mình chỉ mong Ngài tồn tại. Tin đức chúa trời đằng nào cũng không chịu thiệt thòi gì, cũng không bị ai xử tệ. Nghe nói làm bổn phận còn có thể được phúc, có đích đến tốt đẹp và sau này sẽ bất tử. Vậy thì cứ đi theo và tin thôi”. Sau khi tin một thời gian, thấy có người gặp thử luyện và nghịch cảnh, họ lại suy nghĩ: “Chẳng phải tin đức chúa trời thì có thể được phúc sao? Có người bị bệnh nặng mà chết, có người bị con rồng lớn sắc đỏ bắt giữ và bị bách hại mà chết, còn có người bị bệnh hoặc gia đình gặp tai họa khi đang làm bổn phận. Sao đức chúa trời không bảo vệ họ chứ? Vậy rốt cuộc đức chúa trời có tồn tại không? Nếu như đức chúa trời tồn tại thì những chuyện này không nên xảy ra mới phải!”. Có người tốt bụng thông công lẽ thật với họ rằng: “Đức Chúa Trời tể trị hết thảy, số phận của con người đều nằm trong tay Đức Chúa Trời sắp đặt. Những chuyện này con người nên lĩnh hội từ Đức Chúa Trời, thuận theo sự sắp đặt của Đức Chúa Trời. Việc Đức Chúa Trời làm đều tốt”. Họ nói: “Tôi chẳng thấy tốt ở chỗ nào cả! Gặp họa mà tốt sao? Bị bệnh nặng, mắc bệnh nan y mà tốt sao? Chết rồi thì càng không tốt chút nào. Vậy đức chúa trời có tồn tại không? Không biết được”. Họ luôn có sự nghi ngờ về Đức Chúa Trời. Khi thấy nhiều người làm bổn phận, công tác của nhà Đức Chúa Trời càng làm càng lớn mạnh, và hội thánh càng ngày càng thịnh vượng, thì họ cảm thấy chắc chắn Đức Chúa Trời tồn tại. Nhất là khi nghe các anh chị em làm chứng về những dấu kỳ và phép lạ mà Đức Chúa Trời hiển lộ và những ân điển mà con người nhận được từ Đức Chúa Trời, thì họ càng cảm thấy: “Chắc chắn Đức Chúa Trời tồn tại! Mặc dù người ta không nhìn thấy được thần của đức chúa trời, nhưng đã nghe được lời mà đức chúa trời nhập thể phán. Mình còn nghe quá nhiều người thông công và trải nghiệm lời đức chúa trời. Vậy thì chắc chắn đức chúa trời tồn tại!”. Khi hội thánh thịnh vượng, thuận lợi và phát đạt, công tác của hội thánh càng làm càng lớn mạnh, nhất là khi anh chị em trải qua một vài hoàn cảnh đặc biệt và những chuyện đặc biệt rồi từ đó thấy được sự bảo vệ, tể trị và dẫn dắt của Đức Chúa Trời, thì họ cảm thấy Đức Chúa Trời tồn tại, thấy Đức Chúa Trời thực sự tốt. Nhưng sau một thời gian, nói không chừng, khi phải trải nghiệm những chuyện không thuận lợi hoặc trắc trở, còn có vài người trải nghiệm thất bại và bước lùi, nhất là khi nhà Đức Chúa Trời đào thải một số người – những chuyện này không phù hợp với quan niệm của họ, cũng nằm ngoài dự liệu của họ – lúc đó họ lại cảm thấy: “Nếu như đức chúa trời tồn tại thì những chuyện này sao có thể xảy ra chứ? Đáng lẽ không nên xảy ra! Giữa những người ngoại đạo mà xảy ra những chuyện này là bình thường, nhưng sao ở nhà đức chúa trời cũng xảy ra những chuyện này chứ? Nếu như đức chúa trời tồn tại, vì ngài toàn năng, có thẩm quyền và quyền năng, thì ngài nên giải quyết công bằng những chuyện này, không để cho những chuyện này xảy ra mới phải! Vậy rốt cuộc đức chúa trời có tồn tại không? Thần của đức chúa trời thì con người không thể thấy được, nhưng những lời do đức chúa trời nhập thể phán thì mọi người đều nói đó là lẽ thật, là con đường, còn có thể làm sự sống của con người. Nhưng tại sao tôi không cảm giác được đó là lẽ thật? Tôi đã nghe giảng đạo một thời gian dài rồi, mà sự sống của tôi vẫn không thay đổi! Tôi đã chịu khổ nhiều như vậy mà đã nhận được gì đâu?”. Họ nảy sinh hoài nghi về Đức Chúa Trời, tinh thần làm bổn phận cũng không còn hăng hái nữa mà nguội lạnh dần. Họ chỉ muốn rời bỏ nhà Đức Chúa Trời để đi làm, kiếm tiền và sống cuộc sống tốt, những suy nghĩ sống động này liền xuất hiện. Họ thầm nghĩ: “Nếu như vị mà mình tin không phải đức chúa trời thật, thì mấy năm nay vì tin đức chúa trời mà mình không đi làm và kiếm tiền là mình đã chịu nhiều thiệt thòi rồi! Không được, mình nghĩ như vậy là không đúng, mình vẫn phải tin cho tốt. Nghe người ta nói đọc nhiều lời đức chúa trời là có thể hiểu lẽ thật, vấn đề gì cũng có thể được giải quyết, sẽ không yếu đuối nữa. Nhưng mình đọc lời đức chúa trời rồi mà vẫn không hiểu lẽ thật, tại sao mình vẫn có thể tiêu cực? Tại sao mình luôn cảm thấy không có tinh thần làm bổn phận? Đức chúa trời cũng không làm công tác trên mình! Mình có nhiều khó khăn như vậy, mà đức chúa trời cũng không mở đường cho mình. Vậy rốt cuộc đức chúa trời có tồn tại không? Nếu đây là con đường thật thì đức chúa trời nên chúc phúc cho người làm bổn phận được bình an, thuận lợi và bình thường chứ. Tại sao khi rao truyền phúc âm và làm bổn phận vẫn gặp nhiều khó khăn lớn như vậy? Mặc dù biết rằng giới tôn giáo bây giờ lạc hậu, tin đức chúa trời toàn năng là bước vào Thời đại Vương quốc, nhưng tại sao mình vẫn chưa thấy được công tác của đức thánh linh?”. Đây là loại người gì? Đây là người không hiểu chuyện thuộc linh, đọc lời Đức Chúa Trời cũng không hiểu lẽ thật, cho dù được thông công bao nhiêu lẽ thật cũng nghe mà không hiểu được ý nghĩa trong đó. Họ chỉ toàn dựa vào quan niệm và tưởng tượng để nhìn nhận sự việc, luôn nghi ngờ Đức Chúa Trời, người như vậy làm sao có thể hiểu lẽ thật chứ? Có người thấy công tác rao truyền phúc âm rất khó, nên cho rằng: “Nếu như đây là con đường thật thì đức thánh linh nên làm công tác lớn lao. Anh chị em đi đến đâu rao truyền phúc âm cũng thuận lợi và thông suốt. Nhất là quan chức chính phủ cũng phải tin theo và bật đèn xanh. Như vậy mới là việc mà đức chúa trời thật làm. Nhưng bây giờ sự thật lại không phải như vậy. Tổng thống và quan chức ở các nước chẳng những không tin đức chúa trời, mà còn không ủng hộ việc tin đức chúa trời. Thậm chí có vài chính phủ còn bức bách và cản trở người ta tin đức chúa trời. Vậy thì liệu đức chúa trời mà chúng ta tin rốt cuộc có phải là đức chúa trời thật không? Không biết được, khó nói lắm”. Trong lòng họ luôn có một dấu chấm hỏi thật lớn. Mỗi lần nghe được chút tin tức gì đó thì họ đều cảm thấy nó như một cơn “động đất” không lớn cũng không nhỏ, làm cho họ dao động. Có vài người nói: “Có phải vì họ mới tin Đức Chúa Trời một thời gian ngắn nên mới luôn dao động?”. Cũng không phải, có người tin đã ba năm, năm năm, thậm chí hơn mười năm, như vậy mà tính là thời gian ngắn sao? Nếu trong thời đại Ân điển thì tin ba đến năm năm không phải là dài, vì lúc đó người ta chưa nghe tiếng nói và lời phán của Đức Chúa Trời vào thời kỳ sau rốt, mà chỉ hiểu được chút tri thức Kinh Thánh và lý luận thuộc linh từ Kinh Thánh và nhờ nghe người khác giảng đạo, nên những gì họ đạt được rất ít. Tiếp nhận bước công tác này thì lại khác, chỉ cần làm bổn phận và đi theo Đức Chúa Trời ba năm, thì những gì con người trải nghiệm, nhận thức và thu hoạch được còn nhiều hơn thu hoạch khi tin Chúa 20 năm, 30 năm, thậm chí là cả đời trong Thời đại Ân điển. Nhưng loại người dao động này tin ba năm, năm năm thậm chí hơn mười năm, mà vẫn không thể xác định liệu bước công tác này có phải do Đức Chúa Trời làm hay không, thậm chí còn nảy sinh nghi ngờ về sự tồn tại của Đức Chúa Trời. Ngươi nói xem, loại người này có phải rất phiền phức không? Họ có năng lực lĩnh hội lẽ thật không? (Thưa, không có.) Họ có tư duy của nhân tính bình thường không? (Thưa, không có.) Họ không lĩnh hội được lẽ thật. Bất kể trong hội thánh xảy ra tình huống gì đều có thể khiến họ dao động, nghĩa là dấu chấm hỏi trong lòng họ luôn có thể khiến cho họ nảy sinh “động đất”. Khi trong hội thánh xuất hiện kẻ địch lại Đấng Christ gây nhiễu loạn và khiến cho vài người bị mê hoặc, hoặc là khi người mà họ sùng bái làm ra một chuyện mà họ không ngờ tới, chẳng hạn như ăn trộm của lễ hoặc là làm chuyện dâm loạn và bị thanh trừ, thì lòng họ sẽ dao động và nảy sinh nghi ngờ về Đức Chúa Trời: “Đây không phải là dòng chảy công tác của đức chúa trời sao? Vậy tại sao trong hội thánh có thể xảy ra những chuyện vô pháp này? Sao đức chúa trời có thể cho phép kẻ địch lại Đấng Christ và kẻ ác xuất hiện chứ? Đây còn là con đường thật sao?”. Bất kể hội thánh xảy ra chuyện gì không phù hợp với quan niệm của họ, thì họ đều nảy sinh nghi ngờ, đều muốn hoài nghi liệu đây có phải là con đường thật không, có phải là công tác của Đức Chúa Trời không, rốt cuộc Đức Chúa Trời có tồn tại không. Họ cũng không tìm kiếm lẽ thật để nhìn nhận chuyện này một cách đúng đắn. Nội điều này là đủ để chứng tỏ họ từ đầu đến cuối căn bản không tin bước công tác này là do Đức Chúa Trời làm, từ đầu đến cuối họ cũng không biết lẽ thật là gì và lý do tại sao Đức Chúa Trời bày tỏ lẽ thật. Đức Chúa Trời phán nhiều lời như vậy, làm nhiều công tác như vậy – đây chính là việc Đức Chúa Trời làm, nhiều người đã kiểm chứng và chắc chắn như vậy, nhưng họ không bao giờ xem xét từ những chuyện này, mà luôn dùng ánh mắt và tư duy của con người để phán đoán, họ quá tin tưởng vào bản thân rồi. Khi công tác hội thánh và đời sống hội thánh xuất hiện một vài lỗ hổng, sai lệch, hoặc là hội thánh bị chính phủ đàn áp và bách hại, thì họ lại hoài nghi: “Rốt cuộc đây có phải là con đường thật không?”. Khi trong hội thánh xuất hiện kẻ địch lại Đấng Christ và lãnh đạo giả, họ cũng hoài nghi, họ nói: “Anh xem, những mục sư trưởng lão trong nhà thờ của tôn giáo yêu kính Chúa lắm. Trong nhà thờ của họ cũng không có những vụ việc của kẻ địch lại Đấng Christ, đó mới là con đường thật. Các anh nói đây là con đường thật, nhưng sao vẫn xảy ra những chuyện này?”. Họ so sánh như vậy đấy. Còn những kẻ đần độn khác thì so sánh thế nào? Họ nói: “Anh xem những người ở trong nhà thờ Tam Tự, họ tin Đức Chúa Trời mà vẫn có sự cho phép của nhà nước, nhà nước còn cấp giấy chứng nhận cho họ, thậm chí còn cấp đất họ để họ xây nhà thờ, tất cả đều hợp lý và hợp pháp. Các anh có nhà thờ công khai không? Nhà thờ các anh có đăng ký không? Nhà thờ Tam Tự của người ta còn được nhà nước chỉ định mục sư cho, mục sư còn có giấy phép. Lãnh đạo và người làm công của các anh có giấy phép không? Nhà nước không cho phép các anh tin Đức Chúa Trời, còn bắt giữ và bách hại các anh. Ngay cả địa điểm nhóm họp cố định mà các anh còn không có, khi nào nhóm họp cũng lén lút, đây rốt cuộc có phải là con đường thật không? Nếu là con đường thật thì tại sao cứ luôn nhóm họp và làm bổn phận theo kiểu lén lút như vậy?”. Chút chuyện này họ cũng không nhìn thấu, chuyện gì cũng có thể khiến họ dao động, có thể khiến họ nảy sinh nghi ngờ về Đức Chúa Trời. Các ngươi nói xem, người như vậy có thể đứng vững được không? (Thưa, không thể đứng vững.) Mặc dù bề ngoài họ không rời bỏ hội thánh, nhưng trong lòng họ đã ở bên bờ vực nguy hiểm. Đối với công tác của Đức Chúa Trời và những lẽ thật mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ, từ đầu đến cuối họ đều không xác định chắc chắn, luôn bán tín bán nghi, như vậy thì họ không thể nào có đức tin thực sự. Họ không nhìn thấy được rằng những chuyện bức bách, đàn áp, bắt giữ xảy ra trong những năm Đức Chúa Trời công tác đó, đều nằm dưới sự tể trị, sắp xếp và an bài của Đức Chúa Trời. Vì vậy, họ có quan niệm, và có thể hoài nghi liệu Đức Chúa Trời có thể tể trị hết thảy hay không. Từ đầu đến cuối họ luôn cho rằng hết thảy công tác của nhà Đức Chúa Trời đều do con người làm, không hề nhìn thấy hành động của Đức Chúa Trời. Họ có phải là kẻ chẳng tin không? Nếu loại người này chỉ mới tin nửa năm hoặc một năm, chưa nhìn thấu tỏ phương diện lẽ thật này, lúc thấy một vài chuyện không phù hợp với quan niệm của mình thì có thể nghi ngờ và dao động, như vậy thì còn có thể thông cảm. Nhưng có người tin Đức Chúa Trời đã mấy năm, cũng nghe không ít bài giảng đạo, lúc gặp khó khăn cũng được thông công lẽ thật cho. Lúc ấy họ nghe thì cũng hiểu về mặt đạo lý, nhưng sau đó gặp chuyện thì họ vẫn có thể nảy sinh hoài nghi về Đức Chúa Trời và công tác của Ngài. Vậy thì người này không có năng lực lĩnh hội lẽ thật, không có tư duy của nhân tính bình thường và không với tới tiêu chuẩn của con người.
Đối với loại người dao động này nên xử lý như thế nào? Nếu nói về nhân tính, loại người này không tính là kẻ ác. Nhưng họ lại là một loại người rất phiền phức, bởi vì họ không có năng lực lĩnh hội lẽ thật và không có tư duy của nhân tính bình thường, hơn nữa. Quan trọng nhất là, đối với biết bao lẽ thật mà Đức Chúa Trời bày tỏ họ đều không thể xác định, cũng không biết những lời này có phải là lẽ thật không, có phải là lời Đức Chúa Trời bày tỏ không, có phải là công tác của Đức Chúa Trời không. Xét từ năng lực lĩnh hội, thì họ là loại người gì? Nói họ là kẻ chẳng tin cũng đúng, nói họ là người hồ đồ cũng không sai. Loại người này tuy rằng không làm việc ác gì rõ ràng, cũng không tới mức là kẻ ác, nhưng họ có thể hồ đồ tới mức này, có thể làm rất nhiều chuyện gây nhiễu loạn và gián đoạn, vậy họ chẳng phải là phế nhân sao? (Thưa, phải.) Cho dù đã tin Đức Chúa Trời bao lâu, nghe bao nhiêu bài giảng đạo, thì từ đầu tới cuối họ đều không thể hiểu lẽ thật, thậm chí cũng không xác định được sự tồn tại và tể trị của Đức Chúa Trời. Tố chất của họ là kiểu gì vậy? Loại người này một chút năng lực lĩnh hội lẽ thật cũng không có, đây chính là người có tố chất rất kém, cũng có thể nói là người không có tố chất, là một phế nhân không có đầu óc. Các ngươi nói xem, phế nhân thì có thể làm bổn phận gì? (Thưa, bổn phận gì cũng không làm được.) Bổn phận gì họ cũng không làm được, hơn nữa còn luôn nghi hoặc và dao động, vậy nên đối đãi và xử lý loại người này như thế nào? Biện pháp thích hợp nhất để xử lý loại người này chính là không cho họ làm bất kỳ bổn phận nào, họ yêu cầu làm bổn phận thì cũng đừng đồng ý. Vì sao? Vì loại người này một khi làm bổn phận, nhất là khi phải chịu khổ và trả giá một chút, thì sớm muộn gì họ cũng sẽ tính toán sổ sách với nhà Đức Chúa Trời. Ngay khi bị bắt giữ, hoặc là gặp thiên tai nhân họa, thì họ sẽ hối hận vì đã dâng mình cho Đức Chúa Trời, sẽ buông lời oán trách ghê gớm, và đi lan truyền khắp nơi rằng: “Tôi vì công tác của hội thánh, vì làm bổn phận, mà chịu bao nhiêu khổ sở, ăn ít đi nhiều, ngủ ít đi nhiều, kiếm tiền cũng ít đi nhiều. Nếu tôi không làm bổn phận, tiền tôi kiếm được gửi vào ngân hàng còn sinh lãi cho tôi! Tôi còn phải chịu bao nhiêu nguy hiểm, một giờ chịu nguy hiểm đáng giá bao nhiêu tiền, phí nhân công bao nhiêu tiền…”. Họ sẽ tính toán chi phí với nhà Đức Chúa Trời, còn tuyên bố nếu nhà Đức Chúa Trời không bồi thường cho họ thì họ sẽ tố cáo nhà Đức Chúa Trời. Các ngươi nói xem, để cho người như vậy làm bổn phận có phải sẽ gây ra hậu họa vô cùng không? Kết giao với loại tiểu nhân này thì dây dưa mãi không dứt được. Cho dù loại người này làm bao nhiêu chuyện cho hội thánh thì trong lòng họ cũng luôn có một quyển sổ nhỏ, ghi chép rõ ràng từng khoản một. Mọi việc họ làm cho hội thánh, đều không phải họ cam tâm làm, mà không cam tâm thì sẽ tính toán sổ sách. Vì sao? Vì trong lòng họ không thừa nhận sự tồn tại của Đức Chúa Trời, không tin vào sự tồn tại của Đức Chúa Trời, không thừa nhận lời Đức Chúa Trời phán là lẽ thật hay công tác của Đức Chúa Trời có thể cứu rỗi con người. Cho nên, nếu như đã trả chút giá, chịu chút khổ, làm chút bổn phận, tiêu phí chút nhân lực và vật lực cho vị được gọi là đức chúa trời mà họ tưởng tượng trong đầu, họ phải đòi thù lao như thế nào mới cam tâm đây? Nếu không đạt được gì, họ có thể sẵn lòng cam tâm sao? Nếu như đến một ngày họ nhận ra mình bị đào thải vì không mưu cầu lẽ thật, thì hậu quả sẽ thế nào? Họ sẽ cho rằng nhà Đức Chúa Trời lừa họ, lãnh đạo và người làm công lừa họ, họ bị lừa mà chẳng hề hay biết, bị mắc bẫy lừa đảo, thế là họ muốn kiện nhà Đức Chúa Trời để đòi bồi thường, kiện đến khi nào được mới thôi. Ngươi nói xem, nhà Đức Chúa Trời có muốn dây dưa với người như vậy không? Nhà Đức Chúa Trời tuyệt đối không làm chuyện ngu xuẩn như vậy! Dân được Đức Chúa Trời chọn làm bổn phận là để thực hiện trách nhiệm của loài thọ tạo, đều là lựa chọn của người ta, là người ta cam nguyện, chứ nhà Đức Chúa Trời không hề nài ép hay ép buộc họ. Nhưng kẻ chẳng tin mà làm bổn phận thì sớm muộn gì cũng gây phiền phức. Khi tâm trạng không tốt, chắc chắn họ sẽ kêu ca, phàn nàn, nói với người khác rằng: “Các anh đều nói dễ nghe, đều lừa tôi. Các anh nói tin Đức Chúa Trời thì có thể đạt được lẽ thật và được sống đời đời. Nhưng các anh không hề nói trong hội thánh còn có kẻ địch lại Đấng Christ mê hoặc con người, có kẻ ác gây nhiễu loạn và gián đoạn công tác hội thánh, hay chuyện hội thánh còn có thể thanh trừ và khai trừ người ta. Các anh cũng không hề nói trong hội thánh có những chuyện này!”. Họ còn có thể quay ra cắn ngược, nói rằng: “Anh không nói rõ ràng những chuyện này với tôi, nên tôi mới đi theo các anh tin Đức Chúa Trời và làm bổn phận. Kết quả là bây giờ tiền đồ của tôi trên thế gian cũng không có, các anh làm lỡ việc kiếm tiền và làm giàu của tôi, các anh phải bồi thường tổn thất cho tôi!”. Ngươi nói xem, lúc họ tính toán sổ sách với ngươi, ngươi có thấy ghê tởm không? Ngươi có sẵn lòng dây dưa với họ không? (Thưa, không.) Người như vậy thì ai mà nói rõ ràng với họ được? Họ không tiếp nhận lẽ thật, cũng không thấy được sự tồn tại của Đức Chúa Trời, không thể nghiệm được sự tồn tại của Ngài. Ngươi nói xem, ai có thể truyền thụ sự thật này vào trong đầu họ đây? Không ai có thể làm được. Họ không có cơ quan để tiếp nhận lẽ thật, nếu yêu cầu họ mưu cầu lẽ thật thì rất khó khăn, khó xử và không thực tế đối với họ. Họ tin Đức Chúa Trời chỉ để được phúc, chỉ cần làm chút bổn phận thì phải đòi thù lao, nếu không trả cho họ thì họ sẽ chửi ầm lên, nói: “Tôi bị lừa rồi, các anh đều là kẻ lừa đảo!”. Các ngươi nói xem, các ngươi có muốn gánh tiếng xấu đó không? (Thưa, không muốn.) Ai lừa ngươi chứ? Đó chẳng phải là do chính ngươi có dã tâm, có dục vọng muốn được phúc sao? Chẳng phải ngươi tin Đức Chúa Trời chỉ để được phúc sao? Bây giờ ngươi không có được phúc, chẳng phải vì ngươi không mưu cầu lẽ thật sao? Vậy đó chẳng phải là vấn đề của ngươi sao? Ngươi thậm chí không tin Đức Chúa Trời, vậy mà còn muốn đòi phúc lành từ tay Đức Chúa Trời, được phúc là chuyện dễ dàng như vậy sao? Những chuyện này có phải đã sớm nói rõ ràng với họ trước khi họ làm bổn phận không? (Thưa, phải.) Nhưng ngươi nói chuyện phải trái với họ thì có nói cho họ hiểu ra được không? Ngươi không thể – họ sẽ cứ nói ngươi lừa họ. Các ngươi nói xem, ở nhà Đức Chúa Trời, anh chị em tin Đức Chúa Trời bất kể thời gian dài hay ngắn, liệu có ai làm bổn phận mà không phải tự nguyện không? Mặc dù có trường hợp con cái không tin Đức Chúa Trời, nhưng cha mẹ hoặc họ hàng nài ép chúng tin Đức Chúa Trời và làm bổn phận, nhưng dù sao đây cũng là chuyện hiếm. Cho dù cha mẹ nài ép thì cũng là để tốt cho ngươi, điều này ngươi nên hiểu rõ. Nhưng đó là người nhà ngươi nài ép ngươi, chứ anh chị em trong nhà Đức Chúa Trời không ai nài ép ngươi cả, cũng không ai cưỡng ép ngươi. Việc tin Đức Chúa Trời và làm bổn phận đều là tự nguyện. Bây giờ ai muốn rời bỏ đều được, cổng chính của nhà Đức Chúa Trời luôn mở, nhưng sau khi rời bỏ mà muốn vào lại thì không dễ đâu. Những người làm bổn phận toàn thời gian ở nhà Đức Chúa Trời đều đã được chọn lọc kỹ càng – không phải ai cũng được chọn, mà chuyện này có tiêu chuẩn theo yêu cầu và nguyên tắc cả, ai đủ tư cách ở lại hội thánh toàn thời gian thì mới được giữ lại. Loại người dao động này cho rằng, “Chuyện lớn như vậy mà các anh đều không nói rõ ràng với tôi, lúc ấy tôi chỉ là nhất thời hồ đồ mới làm bổn phận”. Chuyện gì mà không nói rõ ràng? Anh chị em cùng nhau làm bổn phận, mỗi ngày đều thông công lẽ thật, ngươi không nghe rõ là do ngươi hồ đồ, ngươi mù quáng, không trách người khác được. Nhưng họ mà không nói được lý lẽ này với ngươi, thì sẽ cảm thấy mình chịu thiệt thòi lớn, họ sẽ muốn tính toán sổ sách và nói chuyện phải trái với nhà Đức Chúa Trời. Chẳng phải loại người này bất chấp lý lẽ, làm cho người ta thấy cực kỳ đáng ghê tởm sao? Cho nên, một khi các ngươi biết được bộ mặt thật của loại người này, thấy rõ họ chính là một người hồ đồ, vô dụng, bổn phận gì cũng không làm được mà còn luôn muốn được phúc, trong lòng chỉ tràn ngập chuyện được phúc, chỉ biết làm bổn phận là có thể được phúc, làm bổn phận là có thể được cứu rỗi, được vào vương quốc và được bất tử, họ chỉ biết mấy câu nói này, còn mọi cái khác họ đều không hiểu – họ không biết lẽ thật là gì, cũng không biết cách thực hành lẽ thật và thuận phục Đức Chúa Trời là như thế nào. Người như vậy cho dù muốn làm bổn phận, yêu cầu làm bổn phận, liệu còn có thể sắp xếp họ làm bổn phận sao? (Thưa, không thể.)
Loại người dao động này, thực ra lúc bình an vô sự họ cũng mang trong mình sự nghi ngờ và luôn quan sát, một khi bị bức bách, bị bắt giữ thì họ sẽ bắt đầu dao động. Từ điều này có thể thấy lúc bình thường tin Đức Chúa Trời, họ không có đức tin chân thật, lúc hoàn cảnh ập đến thì họ bị tỏ lộ. Điều này cho thấy từ đầu đến cuối họ không xác định chắc chắn về công tác của Đức Chúa Trời, vẫn luôn hoài nghi và quan sát. Tại sao họ không rời bỏ hội thánh? Vì họ cảm thấy: “Mình tin đức chúa trời bao nhiêu năm, đã chịu bao nhiêu cái khổ, nếu bây giờ chưa được lợi ích gì mà đã bỏ đi, thì chẳng phải là thiệt thòi sao? Mình chịu chừng đó cái khổ chẳng phải sẽ uổng phí sao?”. Họ nghĩ như vậy đấy. Ngươi còn tưởng rằng họ đã xác định chắc chắn rồi, đã có đức tin và hiểu lẽ thật rồi, nhưng thực ra đâu phải. Họ vẫn đang nghi ngờ và quan sát, trong lòng họ chỉ muốn xem thử rốt cuộc công tác của nhà Đức Chúa Trời có thuận lợi hay không, các hạng mục công tác có thành quả không, sức ảnh hưởng trên toàn thế giới có lớn không. Điều họ đặc biệt muốn thấy nhất chính là những chuyện như: Việc mở rộng phúc âm của hội thánh ở các nước như thế nào, có quy mô không, có thế lực không? Dòng chảy này có được thừa nhận trên tầm quốc tế không? Có người danh tiếng hay nhân vật lớn nào tiếp nhận giai đoạn công tác này không? Hội Thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng có được Liên Hợp Quốc công nhận và phê chuẩn không? Có được chính phủ các nước ủng hộ không? Anh chị em xin tị nạn chính trị ở các nước thì có được phê chuẩn không? Loại người này luôn quan tâm đến những chuyện này, đây là biểu hiện rõ ràng của sự dao động. Một khi họ thấy nhà Đức Chúa Trời có được quyền thế và công tác phúc âm mở rộng rồi, thì họ liền vui mừng vì mình đã không rời bỏ nhà Đức Chúa Trời, cũng không nghi ngờ gì về Đức Chúa Trời nữa. Nhưng ngay khi thấy công tác của Đức Chúa Trời bị quấy nhiễu, cản trở hay phá hoại, anh chị em làm bổn phận cũng bị ảnh hưởng, hội thánh bị thế giới này bài xích và phủ nhận, thì họ sẽ ngẫm nghĩ chuyện rời bỏ nhà Đức Chúa Trời. Họ luôn hoài nghi: “Đức chúa trời thật sự tể trị hết thảy những chuyện này sao? Tại sao tôi không nhìn thấy sự toàn năng của đức chúa trời? Lời đức chúa trời rốt cuộc có phải là lẽ thật không? Có thể làm tinh sạch và cứu rỗi người ta không?”. Họ chẳng bao giờ nhìn thấu, lại còn hoài nghi những chuyện này, nghĩa là họ không hiểu chuyện thuộc linh, xem mà không hiểu lời Đức Chúa Trời, nghe bao nhiêu bài giảng đạo cũng không đưa ra được kết luận. Do đó, họ luôn nghe ngóng, hy vọng mình có thể có đôi tai nghe được tiếng từ rất xa, đôi mắt nhìn thấy vật xa ngàn dặm, để có thể biết và thu được tin tức của những chuyện xảy ra xa ngàn dặm, sau đó họ sẽ sớm dự tính nên đi hay ở. Đây chẳng phải người ngu xuẩn sao? (Thưa, phải.) Chẳng phải loại người này sống rất mệt mỏi sao? (Thưa, phải.) Họ không có tư duy của nhân tính bình thường, cũng không hiểu lẽ thật. Chuyện xảy ra càng nhiều thì họ càng lúng ta lúng túng và bế tắc. Họ không biết làm sao để phân định những chuyện này, cũng không biết xác định tính chất những chuyện này như thế nào, càng không biết cách để từ trong những chuyện này mà phân định đúng sai, rút ra bài học, sau đó tìm ra nguyên tắc thực hành trong lời Đức Chúa Trời. Họ không biết làm những việc này, vậy họ làm thế nào? Chẳng hạn như, trong hội thánh xuất hiện kẻ địch lại Đấng Christ và kẻ ác mê hoặc người khác thì họ sẽ ngẫm nghĩ: “Rốt cuộc là ai đúng ai sai, con đường này có phải là con đường thật không? Mình tin đến cùng, liệu có thể được phúc không? Bây giờ mình làm bổn phận cũng được mấy năm rồi, mình chịu khổ như vậy có đáng không? Có nên tiếp tục làm bổn phận không?”. Họ chỉ suy xét từ góc độ lợi ích của mình, còn đối với bất kỳ con người, sự việc và sự vật nào xảy ra trước mắt thì họ đều không nhìn rõ, tỏ ra rất vụng về. Họ không có tư tưởng và quan điểm đúng đắn, còn muốn đứng ở lập trường của người ngoài mà quan sát, xem thử kết quả như thế nào. Ngươi nhìn họ thì cảm thấy họ vừa đáng thương vừa buồn cười. Khi chưa xảy ra chuyện gì, biểu hiện của họ cũng rất bình thường, nhưng một khi xảy ra chuyện lớn thì họ sẽ không biết nên đứng ở lập trường nào để nhìn nhận sự việc, lời mà họ nói cũng giống với tư tưởng và quan điểm của người ngoại đạo, đợi đến khi sự việc qua đi, cũng không thấy họ có được thu hoạch gì. Loại người này có phải rất ngu xuẩn không? (Thưa, phải.) Người ngu xuẩn thì có biểu hiện như vậy. Vậy nguyên tắc đối đãi đối với loại người này là gì? Xét từ biểu hiện của họ, thì họ cũng không tới mức là người đại gian đại ác, nhưng họ có một điểm trí mạng, đó là họ không có tư tưởng, không có linh hồn, và chẳng nhìn thấu chuyện gì. Quanh mình xảy ra chuyện gì cũng khiến họ lúng ta lúng túng, không biết tin tưởng ai, cậy dựa ai, cũng không biết nhìn nhận vấn đề này như thế nào, nên bắt đầu từ đâu để giải quyết vấn đề này – nói cách khác là họ rơi vào cơn hoảng loạn. Sau khi hoảng loạn, có khả năng họ sẽ nảy sinh sự nghi ngờ, cũng có khả năng họ sẽ tạm thời ổn định lại, nhưng trạng thái dao động thành thói của họ không thay đổi. Xét từ biểu hiện này của họ thì không thể quy họ vào loại kẻ ác, cho nên nếu trước mắt họ có thể làm chút bổn phận, có thể cam tâm đem sức lực phục vụ, thì hãy cho phép họ làm bổn phận. Nhưng chuyện này phải dựa trên tiền đề là ít nhất họ làm bổn phận phải có hiệu quả. Nếu họ làm bổn phận mà không hề tiếp nhận lẽ thật, toàn làm qua loa chiếu lệ, thì nên đuổi họ về nhà. Nếu họ sẵn lòng sửa chữa sai lầm của mình, vậy hãy cho phép họ ở lại nhà Đức Chúa Trời và tiếp tục làm bổn phận, họ thích hợp làm bổn phận gì thì hãy sắp xếp cho họ làm bổn phận đó. Nếu như bổn phận nào họ cũng không làm được, là một thứ phế vật, thì nên đuổi họ đến chỗ nào thích hợp, trong chuyện này không thể dựa vào việc họ có cam tâm sẵn lòng đem lực phục vụ hay không. Xử lý như vậy có đơn giản không? (Thưa, đơn giản.)
Các ngươi có thể phân định được loại người dao động này hay chưa? Bên cạnh các ngươi có người như vậy không? Trước đây, có những người bị hội thánh thanh lọc. Nếu như họ nói: “Bây giờ tôi đã trở nên tốt hơn rồi, không còn dao động nữa. Trước đây tôi luôn dao động về chuyện con đường thật là vì khi nhà đức chúa trời mới mở rộng công tác ở nước ngoài thì quá gian nan. Lúc đó việc rao truyền phúc âm của anh chị em hội thánh rất khó khăn, người ở nước ngoài tiếp nhận con đường thật cũng ít, công tác mở rộng phúc âm không thấy có triển vọng, cho nên tôi luôn nghi ngờ về công tác của đức chúa trời. Bây giờ nhìn thấy công tác phúc âm của nhà đức chúa trời đã mở rộng rồi, các hạng mục công tác cũng càng làm càng tốt và đều có thành quả, hội thánh ở các nước cũng ngày càng thịnh vượng, nên tôi không nghi ngờ hay dao động nữa. Các anh để tôi làm bổn phận nhé, đừng đưa tôi vào danh sách những người bị thanh trừ và khai trừ nữa!”. Cho người như vậy chút cơ hội thì có được không? (Thưa, không được.) Tại sao không được? (Thưa, vì lời này của họ là giả. Chỉ vì thấy công tác của nhà Đức Chúa Trời có chiều hướng mở rộng, thấy nhà Đức Chúa Trời có thế lực rồi, nên họ muốn cậy dựa. Nhưng chỉ cần đến ngày nào đó xảy ra chút chuyện không phù hợp với quan niệm của họ, thì họ sẽ lại dao động.) Chuyện này các ngươi nhìn thấu rồi phải không? (Thưa, phải.) Có vài người trời sinh đã là người dao động, hôm nay ngả theo cơn gió này, ngày mai ngả theo cơn gió kia, thậm chí khi không có gió, họ vẫn tự mình dao động. Loại người này không có năng lực tư duy của người bình thường, như vậy thì họ không với tới nổi tiêu chuẩn của con người. Nói như vậy có đúng không? (Thưa, đúng.) Nếu có năng lực tư duy của người bình thường, có sẵn năng lực lĩnh hội của con người, thì người ta sẽ có thể nhìn thấy rằng Đức Chúa Trời bày tỏ nhiều lẽ thật đến vậy và có thể xác định đây là công tác của Đức Chúa Trời. Huống chi đã có nhiều người tin Đức Chúa Trời như vậy – mỗi ngày họ đều có thể thấy được công tác của Đức Chúa Trời và công tác của Đức Thánh Linh, còn có thể nhìn thấy những việc làm kỳ diệu của Đức Chúa Trời, đức tin càng ngày càng lớn mạnh, làm bổn phận cũng càng ngày càng có tinh thần. Công tác của con người có thể đạt được như vậy không? Với những người không có năng lực tư duy của con người, thì cho dù ngươi nói những chuyện này rõ ràng hơn nữa, họ cũng không xác định được đây là công tác của Đức Chúa Trời, họ không có năng lực phán đoán này. Cho dù bây giờ Đức Chúa Trời có làm công tác lớn đến mức nào, phán bao nhiêu lời, có bao nhiêu người đi theo Ngài, có bao nhiêu người nhận định rằng đây là công tác của Đức Chúa Trời, có bao nhiêu người nhận định rằng số phận của nhân loại nằm dưới sự tể trị và an bài của Đức Chúa Trời, rằng Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa, thì đối với họ tất cả những điều này đều không quan trọng. Thế thì với họ, điều gì là quan trọng nhất? Đó là họ cần được tận mắt nhìn thấy Đức Chúa Trời từ trời hiện ra, còn cần nhìn thấy chính miệng Đức Chúa Trời phán lời, thấy Đức Chúa Trời đích thân tạo dựng trời đất vạn vật, đích thân hiển lộ dấu kỳ và phép lạ, còn phải thấy tiếng Ngài phán ra vang như sấm động, thì họ mới tin Đức Chúa Trời. Họ giống như Tô-ma – cho dù Đức Chúa Jêsus đã phán bao nhiêu lời, đã bày tỏ bao nhiêu lẽ thật, hiển lộ bao nhiêu dấu kỳ và phép lạ trong thời gian còn tại thế, tất cả đều không quan trọng, quan trọng là chuyện Đức Chúa Jêsus phục sinh là thật hay giả. Vậy Tô-ma làm cách nào để xác định? Bằng cách yêu cầu Đức Chúa Jêsus: “Hãy đưa tay ngài ra để con xem dấu đinh của ngài, nếu ngài thực sự là đức chúa Jêsus sống lại từ cõi chết thì trên tay Ngài sẽ có dấu đinh, vậy con sẽ thừa nhận ngài là đức chúa Jêsus. Nếu con không chạm được dấu đinh nơi tay ngài, thì con sẽ không thừa nhận Ngài là đức chúa Jêsus, không thừa nhận ngài là đức chúa trời.” Đây có phải là thứ ngu ngốc không? (Thưa, phải.) Loại người này chỉ tin vào những sự thật mà mắt họ thấy, tin vào những tưởng tượng và suy luận của mình. Cho dù có nghe thấy lời Đức Chúa Trời, trải nghiệm công tác của Ngài, nhìn thấy công tác của Đức Chúa Trời phát triển, lớn mạnh và hưng thịnh, họ vẫn không tin đây là công tác của Đức Chúa Trời. Họ không thấy được quyền năng lớn lao và thẩm quyền của Đức Chúa Trời, cũng không phân định được quyền năng trong lời Đức Chúa Trời và kết quả mà lời Đức Chúa Trời có thể đạt được trên người con người, những điều này họ không thể nhìn thấy hay phân định được. Hy vọng duy nhất của họ chính là: “Ngài hãy từ trời phán ra tiếng như sấm động tuyên bố rằng ngài là đấng tạo hóa. Ngài còn phải hiển lộ dấu kỳ và phép lạ, đích thân tạo dựng trời đất vạn vật và hiển lộ quyền năng lớn lao của ngài. Như vậy tôi sẽ tin ngài là đức chúa trời, sẽ thừa nhận ngài là đức chúa trời.” Đức Chúa Trời có quý sự thừa nhận như vậy không, có quý niềm tin như vậy không? (Thưa, không.) Chuyện Đức Chúa Trời có phải là Đức Chúa Trời hay không, còn cần ngươi thừa nhận sao? Còn cần ngươi công nhận sao? Đức Chúa Trời bày tỏ nhiều lẽ thật như vậy, có nhiều người tiếp nhận công tác của Ngài như vậy, có nhiều lời chứng trải nghiệm như vậy, vượt xa những lời chứng của các thời đại trước, thế mà ngươi vẫn không thể xác định được liệu đây có phải là sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời không. Nếu ngươi vẫn không tin và thừa nhận những sự thật mà Đức Chúa Trời đã hoàn thành và những lời hứa Ngài đã thành tựu, vậy ngươi là thứ gì? Ngươi chính là thứ không phải người, nghĩa là thứ ngu xuẩn! Thế mà ngươi còn muốn được phúc từ Đức Chúa Trời thì không có cửa đâu, ngươi nằm mơ đi! Chuyện gì ngươi cũng nghi ngờ và phủ nhận Đức Chúa Trời, luôn muốn cười vào bất hạnh của nhà Đức Chúa Trời, chưa bao giờ thừa nhận và tin vào sự tồn tại của Đức Chúa Trời, cũng chưa bao giờ thừa nhận, tin hoặc tiếp nhận lời phán và công tác của Đức Chúa Trời. Do đó, lời hứa của Đức Chúa Trời chẳng liên quan gì đến ngươi, ngươi sẽ chẳng đạt được gì hết. Có vài người nói: “Người ta vẫn làm bổn phận mà, sao lại chẳng đạt được gì?”. Vậy phải hiểu rõ khi làm bổn phận, họ có mục đích gì, làm cho ai, và dựa vào nguyên tắc gì mà làm bổn phận. Ngươi không tiếp nhận lời Đức Chúa Trời, vậy thì ngươi có làm bổn phận cũng là đang đem sức lực phục vụ, chứ đâu phải thực sự thuận phục. Đức Chúa Trời không thừa nhận ngươi đang làm bổn phận, trong mắt Ngài ngươi là một xác chết không có linh hồn. Một xác chết mà còn muốn được phúc, như vậy chẳng phải là hy vọng hão huyền sao? Ngươi có thể làm chút bổn phận cũng là do sự chi phối của ý định được phúc. Ngươi vẫn không ngừng nghi ngờ, trong lòng luôn xét đoán, kết tội và phủ nhận Đức Chúa Trời, còn xét đoán và phủ nhận lời và công tác của Đức Chúa Trời, vậy thì ngươi chính là kẻ đối địch với Đức Chúa Trời. Kẻ có thể đối địch với Đức Chúa Trời thì có phải là loài thọ tạo đạt tiêu chuẩn không? (Thưa, không phải.) Chuyện gì cũng đối địch với Đức Chúa Trời, ở trong bóng tối mà âm thầm quan sát Đức Chúa Trời và công tác của Ngài, trong lòng thầm kêu gào với Đức Chúa Trời, còn xét đoán và kết tội Đức Chúa Trời, xét đoán và kết tội lời và công tác của Đức Chúa Trời, đây không phải là đối địch với Đức Chúa Trời thì là gì? Như vậy chính là công khai đối địch với Đức Chúa Trời. Người còn không ở thế giới ngoại đạo mà đối địch với Đức Chúa Trời, thay vào đó ở nhà Đức Chúa Trời mà đối địch với Đức Chúa Trời, như vậy càng không thể tha thứ!
Xét từ bản chất nhân tính hoặc biểu hiện thì loại người dao động này không tiếp nhận lẽ thật, cũng không tiếp nhận lời và công tác của Đức Chúa Trời. Họ chỉ quan tâm xem mình có được phúc hay không, còn đối với Đức Chúa Trời và công tác của Ngài thì họ chẳng bao giờ xác định được, cứ mãi đứng đằng sau mà quan sát, không ngừng dao động và nghi ngờ. Trong lúc quan sát, họ vẫn đi theo Đức Chúa Trời, lúc đi lúc dừng, lúc dừng lúc đi. Những người này quá đủ phiền phức rồi! Nhất là bây giờ hội thánh thường xuyên thanh lọc người, họ cũng luôn nơm nớp lo sợ: “Mình luôn dao động, chưa biết chừng ngày nào đó bị người ta phát hiện ra, rồi bị thanh trừ khỏi hội thánh. Không được để lộ sự nghi ngờ trong lòng mình đối với đức chúa trời, không được nhắc tới chuyện này với ai”. Họ âm thầm đứng đằng sau mà quan sát, họ cũng không sợ bị Đức Chúa Trời tỏ lộ, bởi vì họ đâu có tin vào sự tồn tại của Đức Chúa Trời, càng không tin vào sự dò xét của Đức Chúa Trời. Loại người này thường nghe anh chị em thông công với nhau về chuyện Đức Chúa Trời dẫn dắt mình như thế nào, sửa dạy mình ra sao, về chuyện Đức Chúa Trời tỏ lộ con người như thế nào, cứu rỗi con người ra sao, ban cho mình ân điển và phúc lành như thế nào, còn có chuyện trong quá trình đi theo Đức Chúa Trời thì mình đã trải nghiệm công tác của Ngài như thế nào, cùng những gì mình đã cảm nhận được, nhìn thấy được hoặc thể nghiệm được, v.v... Khi nghe anh chị em thông công về những nhận thức và trải nghiệm của mình, họ ngẫm nghĩ trong lòng: “Những trải nghiệm mà anh chị em nói đó, có phải là do họ tưởng tượng ra không? Có phải là cảm giác của con người không? Tại sao mình không có những cảm giác đó? Nhất là những người viết bài lời chứng trải nghiệm – mình không quen biết họ, không nhìn thấy họ đạt được những điều này từ trải nghiệm như thế nào. Rốt cuộc họ có thực tế lẽ thật không thì mình vẫn không xác định chắc chắn được!”. Có vài kẻ ngu xuẩn vẫn đang quan sát và hoài nghi công tác của Đức Chúa Trời. Họ cũng không nhìn thấy thực tế lẽ thật nào trong những bài lời chứng trải nghiệm của dân được Đức Chúa Trời chọn, lại còn tìm lý do và căn cứ cho việc mình dao động và không có đức tin. Họ cho rằng bản thân họ dao động thì chắc chắn người khác cũng dao động. Nếu có ai đó không bao giờ dao động, cũng không nghi ngờ gì, bình thường thông công lẽ thật cũng rất thực tế, cho dù gặp phải vấn đề gì đều có thể tìm kiếm lẽ thật để giải quyết, thì trong lòng họ sẽ thấy chông chênh và rất khó chịu. Lúc họ khó chịu thì họ làm thế nào để giải tỏa? Họ sẽ xem có ai giống họ, muốn tìm người tri kỷ, thấy ai tiêu cực và yếu đuối thì họ sẽ tiết lộ chút suy nghĩ của mình để thăm dò, họ nói: “Tôi cũng có lúc tiêu cực. Những lúc tiêu cực, tôi cũng biết là không nên như vậy, nhưng có lúc tôi cũng nghi ngờ rốt cuộc đức chúa trời có tồn tại không.” Nếu như đối phương không để ý tới họ, thì họ thấy được người ta chỉ tiêu cực và yếu đuối, chứ không nghi ngờ về Đức Chúa Trời, lúc đó, họ sẽ nói chút lời trái lòng mình để thử người khác rằng: “Anh xem, con người tôi bị sao vậy? Đang tin Đức Chúa Trời rất tốt, mà sao tôi luôn có sự nghi hoặc đối với Ngài vậy? Đây chẳng phải là phản nghịch sao? Như vậy thật không nên chút nào!”. Họ nói ra lời này hoàn toàn là để lấy lòng người khác, cũng là để thử người khác, chỉ mong người khác cũng hoài nghi Đức Chúa Trời như họ thì họ mới vui! Nếu như họ phát hiện ai đó luôn nghi ngờ và có quan niệm về Đức Chúa Trời, thì họ sẽ vui mừng vì tìm được tri kỷ. Hai người họ ngưu tầm ngưu mã tầm mã, lúc nào cũng tâm sự cùng nhau. Họ càng nói càng xa cách Đức Chúa Trời, càng nói càng không muốn làm bổn phận và càng nói càng không muốn đọc lời Đức Chúa Trời, thậm chí không muốn sống đời sống hội thánh nữa. Dần dần hai người họ chạy về thế gian để đi làm, quấn lấy nhau mà rời đi, lúc đi cũng không mang theo sách lời Đức Chúa Trời. Có người hỏi: “Anh không tin Đức Chúa Trời nữa à?”. Họ đáp: “Đâu có, tôi vẫn tin”, họ còn mạnh miệng nói vậy. Người ta hỏi: “Vậy sao anh không mang theo sách lời Đức Chúa Trời?”. Họ nói: “Nặng quá, không có chỗ để.” Những lời họ nói toàn là lấy lệ, thực ra họ chuẩn bị quay về thế gian để tìm việc làm và sống đời mình. Nói thật cho các ngươi biết, loại người này chính là kẻ chẳng tin, kết cục cuối cùng của họ sẽ như vậy – họ đích thị là vậy. Họ tin Đức Chúa Trời không lâu dài được đâu, một khi tìm được người mình thích để họ có thể nói lời tận đáy lòng, thì họ cho rằng “Cuối cùng cũng tìm được chỗ dựa vững chắc, có người để nương tựa rồi, đi thôi! Tin đức chúa trời quá vô nghĩa, trên đời này cũng không có đức chúa trời nào đâu. Coi những chuyện hư ảo như chuyện có thật thì rất khó chịu. Mấy năm nay, mình sống cũng không dễ dàng gì!”. Bản thân họ rút lui và không tin nữa, còn không cho anh chị em tìm họ. Họ nói: “Hai chúng tôi đi làm rồi, sau này đừng gọi điện cho chúng tôi nữa, nếu còn gọi thì tôi sẽ báo cảnh sát.” Hai kẻ ngốc, một cặp lừa đần độn này, cứ thế mà rời đi. Ta thấy như vậy là tốt, nhà Đức Chúa Trời đỡ phải khai trừ và thanh trừ họ. Các ngươi nói xem, đối với loại người này, còn cần thông công lẽ thật để giúp đỡ và hỗ trợ không, còn cần giảng đạo lý để khuyên nhủ họ không? (Thưa, không khuyên nữa.) Các ngươi mà khuyên thì các ngươi quá ngu ngốc. Loại người này trong xương tủy đã là một kẻ chẳng tin, họ là một cái xác không hồn, là thứ ngu xuẩn không có đầu óc, ngươi khuyên họ thì ngươi cũng là kẻ ngốc. Đối với người như vậy thì phải nhanh chóng tiễn đi, cũng không cần tìm họ nữa. Người ta đã nói rõ ràng rồi, sau này họ không tin Đức Chúa Trời nữa, gọi điện cho họ nữa thì họ sẽ báo cảnh sát, ngươi còn tìm người ta, vậy chẳng phải là ngươi chuốc rắc rối sao? Nếu người ta báo cảnh sát nói ngươi quấy rối họ, rồi chuyện này loan truyền ra thì có để lại tiếng tốt không? (Thưa, không tốt.) Tuyệt đối đừng làm chuyện ngu xuẩn như vậy. Hãy để cho họ tự giải quyết ổn thoả, yên lặng mà rời đi, như vậy thật tốt biết mấy! Đường ai người nấy đi, người thế nào thì đi đường thế đó. Họ không có phúc, chỉ là một cái mạng quèn và ti tiện, phúc lành lớn như vậy mà họ không tiếp nhận được, không hưởng thụ được – họ không có phúc hưởng rồi. Tiếp nhận sự cung ứng của lời Đức Chúa Trời và tiếp nhận lẽ thật làm sự sống chính là chuyện có phúc nhất toàn vũ trụ và toàn nhân loại. Ai có thể tiếp nhận lẽ thật thì là người có phúc, ai không tiếp nhận được lẽ thật thì sẽ không có phúc lành này. Đến một ngày nào đó, những người tiếp nhận lẽ thật sẽ sống sót trong đại hoạ và được phúc lớn, còn những người không tiếp nhận lẽ thật thì sẽ chết trong thảm hoạ và chịu khổ, lúc ấy hối hận cũng đã muộn. Cho dù bây giờ ngươi thừa nhận lời Đức Chúa Trời là lẽ thật và công tác của Đức Chúa Trời là do Đức Chúa Trời làm, nhưng nếu ngươi không mưu cầu lẽ thật, tiếp nhận lẽ thật và không bước vào lẽ thật, thì ngươi vẫn không đạt được gì! Phúc lành này dễ có vậy sao? Đây là phúc lành mà từ trước đến nay và cả sau này đều không có, sao có thể dễ dàng để cho ngươi đạt được như vậy? Đức Chúa Trời hứa ban cho con người phúc lành, phúc lành này không phải người bình thường nào cũng có thể đạt được, mà phải là người được Đức Chúa Trời tuyển chọn, chứ không thể có chuyện con lừa ngu ngốc, cái xác không hồn, thứ cặn bã, đốn mạt gì cũng có thể được chọn. Đức Chúa Trời vì cứu rỗi nhân loại mà làm ba giai đoạn công tác, cuối cùng Ngài muốn tạo thành một nhóm người đắc thắng, để cho những người này trở thành chủ nhân của vạn vật, trở thành một nhân loại mới, đây là phúc lành lớn lao biết mấy của nhân loại! Giai đoạn công tác phán xét trong thời kỳ sau rốt này đã kéo dài bao nhiêu năm rồi? (Thưa, hơn ba mươi năm rồi.) Chỉ cần nhìn vào thời gian hơn ba mươi năm này là có thể thấy Đức Chúa Trời đã trả giá bao nhiêu và làm bao nhiêu công tác, vì vậy rõ ràng nhân loại mà cuối cùng Ngài thu nhận cực kỳ có giá trị, cao quý, quý báu và quan trọng trong mắt Đức Chúa Trời! Đối với các ngươi mà nói, đó là may mắn và phúc lành lớn lao biết bao! Cho nên, có những người đến bây giờ vẫn dao động, vậy thì họ đúng là không có phúc! Nếu ngươi không dao động, có thể một lòng một dạ đi theo, nhưng ngươi không mưu cầu lẽ thật thì cũng không đạt được phúc lành này. Cho nên những người cuối cùng đạt được phúc lành này đều không phải là người bình thường, mà là người Đức Chúa Trời chọn đi chọn lại, chọn lựa kỹ càng, là người cuối cùng có thể được Đức Chúa Trời thu nhận.
Các biểu hiện chính của loại người dao động chính là những vấn đề này. Cho dù kết cục của họ cuối cùng như thế nào, tóm lại một khi phát hiện ra loại người này trong hội thánh thì nên xử lý theo nguyên tắc, không nên đối đãi với họ như anh chị em. Nếu họ có thiện cảm với việc tin Đức Chúa Trời hoặc có thể ra chút sức, cam tâm đem sức lực phục vụ một chút, thì cùng lắm họ cũng chỉ là một giáo hữu, không tính là anh chị em. Cho nên cho dù họ có khoác lấy một cái tên mới, như “Thuận phục” hoặc “Thật lòng”, thì ngươi cũng đừng gọi họ là anh chị em, gọi danh xưng mới của họ là được rồi. Vì sao? Vì những người như vậy không tới tầm anh chị em. Các ngươi đã hiểu chưa? (Thưa, đã hiểu.) Vậy xử lý loại người này cũng nên có nguyên tắc, phải không? (Thưa, phải.) Hôm nay thông công đến đây thôi. Tạm biệt!
Ngày 29 tháng 6 năm 2024