Mưu cầu tri thức có đảm bảo một tương lai tốt đẹp không?

05/01/2026

Bởi Phương Tiểu Vũ, Trung Quốc

Từ nhỏ, người thân và thầy cô đã bảo tôi rằng phải học hành cho tốt, sau này thi đỗ đại học thì mới có cuộc sống tốt đẹp, không thì cả đời chỉ có khổ sở, nghèo khó thôi. Thấy nhà mình nghèo, lại bị dân làng coi thường, nên tôi nghĩ chỉ cần thi đỗ đại học, tìm được một công việc tốt, thì dân làng sẽ không dám coi thường nhà mình nữa. Tôi nhớ trong sách giáo khoa tiểu học có câu: “Sách chứa giai nhân, sách sinh phú quý”. Tôi tin rằng chỉ cần chăm chỉ học hành thì sẽ thu được kiến thức uyên bác từ sách vở, người càng có tri thức, học vấn càng cao thì sẽ càng giàu có, và chỉ có tri thức mới có thể thay đổi vận mệnh. Khi người nhà nói với tôi về việc tin Đức Chúa Trời, dù miệng thì đồng ý, nhưng trong lòng tôi lại nghĩ: “Bây giờ học hành là quan trọng nhất, đợi sau này thi đỗ đại học, có công việc tốt rồi mình sẽ tin cho đàng hoàng”. Thế nên, tôi không bao giờ tham gia nhóm họp. Thỉnh thoảng người nhà có đưa lời Đức Chúa Trời cho tôi xem, nhưng tôi cũng chỉ xem như truyện để đọc, trong lòng chỉ chăm chăm vào việc thi đỗ đại học để xây dựng tương lai tốt đẹp cho mình.

Lúc đó, thành tích học tập của tôi khá tốt, dân làng gặp tôi đều khen tôi học giỏi lại ngoan ngoãn, sau này nhất định sẽ có tương lai. Họ hàng cũng thường xuyên động viên tôi phải chăm chỉ học hành, nói rằng nhà tôi chắc chắn sẽ có người đỗ đại học. Nghe những lời này, tôi vừa mừng vừa ngạc nhiên. Vì từ nhỏ nhà đã nghèo, ai cũng coi thường chúng tôi, nên giữa đám đông tôi luôn cảm thấy tự ti, thấy mình không bằng ai. Tôi không ngờ người ta lại vì thành tích học tập mà đánh giá cao mình, xem ra việc học giỏi quả thực có thể khiến người khác coi trọng và đánh giá cao mình. Nhưng rồi tôi lại nghĩ thành tích của mình vẫn chưa phải là tốt nhất, tôi phải thúc đẩy bản thân cố gắng hơn nữa mới được. Sau này, tôi thi đỗ vào trường trung học phổ thông trọng điểm của huyện, tôi cảm thấy mình có nhiều hy vọng vào đại học, đến lúc đó những người quen biết chắc chắn sẽ nhìn tôi bằng con mắt khác. Khi lên lớp 12, thầy cô thường nói: “Kỳ thi đại học quyết định bạn sẽ bay cao đến đâu trong cuộc đời”, “xã hội bây giờ cạnh tranh khốc liệt, theo quy luật chọn lọc tự nhiên, kẻ mạnh thắng, kẻ yếu bị đào thải, kẻ nào thích nghi được thì sống sót”, và “khi trẻ không cố gắng thì về già chỉ biết buồn thương”. Tôi nhận ra chỉ có tấm bằng đại học danh tiếng mới có thể mang lại một tương lai tốt đẹp, và để đạt được mục tiêu này, tôi càng học hành chăm chỉ hơn. Tôi thường bỏ cả giờ nghỉ trưa để ngồi trong lớp giải bài tập, ngay cả việc đi ăn cơm ở nhà ăn tôi cũng cảm thấy lãng phí thời gian. Mỗi kỳ thi, tôi đều rất xem trọng điểm số và thứ hạng của mình. Khi thứ hạng tăng lên, tôi cảm thấy vui sướng, nhưng khi thứ hạng không tăng hoặc bị tụt xuống, tôi lại vô cùng chán nản và bồn chồn. Dù đã rất nỗ lực học tập, nhưng phần lớn thời gian, thứ hạng của tôi trong lớp chỉ loanh quanh ở vị trí thứ mười hai, mười ba, tôi cảm thấy vô cùng khổ sở và áp lực. Nhưng nghĩ đến việc chỉ có đỗ đại học mới có cuộc sống tốt đẹp và không bị người khác coi thường, tôi lại tiếp tục vùi đầu vào học, không dám lơ là chút nào.

Ba tháng trước kỳ thi đại học, có một chuyện xảy ra đã tác động sâu sắc đến tôi. Trường tôi tổ chức một kỳ thi thử, có một học sinh thi lại, chỉ vì thiếu vài điểm là đủ vào trường đại học trọng điểm, đã nhảy lầu tự tử. Nghe tin này, lòng tôi cứ rối bời không yên. Điểm của cậu ấy cao hơn tôi rất nhiều, vậy mà chỉ vì chênh lệch vài điểm mà đã kết liễu đời mình! Ngồi trong lớp, tôi nhìn những chồng sách cao ngất trên bàn và các bạn học đang miệt mài ôn tập, tôi bỗng cảm thấy vô cùng mông lung. Tôi không khỏi tự hỏi: “Một sinh mệnh trẻ mới sống sờ sờ đó thôi, giờ đã chết đi chỉ vì thiếu vài điểm – liệu có đáng không? Lẽ nào học sinh chúng ta chỉ sống vì điểm số thôi sao? Điểm số có quan trọng hơn mạng sống không? Thứ hạng thi cử có thực sự quyết định được số phận cả đời người không? Tại sao cậu ấy lại không thể nghĩ thoáng ra được?”. Nghĩ đến việc mình cũng giống như cậu học sinh thi lại kia, đang mưu cầu một cách khổ cực vì điểm số để vào một trường đại học tốt, tôi tự hỏi lòng mình: “Đại học có phải là lối thoát duy nhất của mình không? Nếu không đỗ đại học thì sao chứ? Tri thức có thực sự thay đổi được vận mệnh cả đời người không?”. Bao nhiêu câu hỏi không lời giải đáp cứ ùa về trong tâm trí tôi. Tôi nghĩ đến ông nội. Ông học cao hiểu rộng, đọc rất nhiều sách, nhưng cả đời vẫn làm nông dân. Tri thức đã không thay đổi được số phận của ông. Rồi còn chị họ tôi, sau khi tốt nghiệp đại học, chị ấy đến thành phố lớn làm việc, dân làng ai cũng ngưỡng mộ và khen ngợi, nhưng chị vẫn phàn nàn rằng công việc đó chưa đủ tốt. Tôi không biết sau bao nỗ lực, mình sẽ giống như ông nội, học mà không dùng được, hay giống như chị họ, được người khác ngưỡng mộ nhưng không bao giờ biết đủ. Giả sử tôi thực sự đỗ vào một trường đại học tốt, ra trường có công việc tốt, được người khác coi trọng, rồi sau đó kết hôn, lập gia đình – liệu tôi có bắt con mình phải học hành chăm chỉ, nỗ lực thi đỗ đại học như tôi không? Đời này nối tiếp đời kia đều lặp lại quy luật sống như vậy, lẽ nào con người chỉ có thể sống như thế, không còn con đường nào khác sao? Tôi cảm thấy mông lung chưa từng có về con đường tương lai của mình, tôi không biết mình sống vì điều gì, nên mưu cầu điều gì mới có ý nghĩa.

Sau này, tôi đọc lời của Đức Chúa Trời Toàn Năng, và những thắc mắc của tôi đã được giải đáp. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Trong sự bao la của vũ trụ và bầu trời, vô số sinh vật sống và sinh sôi, tuân theo quy luật tuần hoàn bất tận của sự sống, và gắn liền với một quy luật bất biến. Những sinh vật chết đi mang theo bên mình những câu chuyện về sự sống, còn những kẻ đang sống thì lặp lại lịch sử bi thương của những kẻ đã mất. Và như thế, nhân loại không thể không tự hỏi rằng: Tại sao chúng ta sống? Tại sao chúng ta phải chết đi? Ai cai quản thế giới này? Và ai đã tạo dựng ra nhân loại này? Liệu nhân loại có thực sự do thiên nhiên sinh ra không? Liệu con người có thực sự tự điều khiển lấy số phận của họ không? …(Phụ lục 3: Con người chỉ có thể được cứu rỗi giữa sự quản lý của Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Chẳng phải lời Ngài nói chính xác về những nghi vấn mà hiện tại tôi đang có trong lòng sao? Nhưng tôi chưa từng chia sẻ những suy nghĩ sâu kín này với bất kỳ ai, vậy sao Đức Chúa Trời lại biết được? Dường như Đức Chúa Trời thấu hiểu suy nghĩ của tôi, và hơn thế nữa, Ngài còn biết hiện trạng cuộc sống của toàn nhân loại. Trong lòng tôi cảm nhận được sự toàn năng của Đức Chúa Trời, đồng thời, lời Đức Chúa Trời thôi thúc tôi đọc tiếp. Tôi tiếp tục đọc lời Đức Chúa Trời: “Từ khi loài người nghĩ ra khoa học xã hội, tâm trí của con người đã trở nên bị chiếm lĩnh bởi khoa học và kiến thức. Khoa học và kiến thức từ đó đã trở thành những công cụ để cai trị nhân loại, không còn đủ chỗ cho con người thờ phượng Đức Chúa Trời, và không còn những điều kiện thuận lợi cho việc thờ phượng Đức Chúa Trời. Vị trí của Đức Chúa Trời ngày càng giảm sút trong lòng con người. Không có Đức Chúa Trời trong lòng, thế giới nội tâm của con người thật tăm tối, vô vọng và trống rỗng. Rồi sau đó, nhiều nhà khoa học xã hội, sử gia, và chính trị gia đã đứng ra phát biểu các lý thuyết về khoa học xã hội, lý thuyết về sự tiến hóa của loài người, và các lý thuyết khác trái với lẽ thật rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên con người, để lấp đầy trái tim và trí óc nhân loại. Và theo cách này, những người tin rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên mọi thứ đã trở nên ngày càng ít hơn, và những người tin vào thuyết tiến hóa đã trở nên ngày càng đông đảo hơn. Ngày càng có nhiều người xem những bản ghi chép về công tác của Đức Chúa Trời và những lời của Ngài trong thời đại Cựu Ước như thần thoại và truyền thuyết. Trong lòng họ, mọi người trở nên thờ ơ với sự tôn nghiêm và vĩ đại của Đức Chúa Trời, thờ ơ với tín điều rằng Đức Chúa Trời tồn tại và nắm quyền tể trị vạn vật. Sự tồn vong của nhân loại cùng vận mệnh của các quốc gia và các dân tộc không còn quan trọng đối với họ nữa, và con người sống trong một thế giới trống rỗng chỉ quan tâm đến ăn, uống và theo đuổi khoái lạc. … Khoa học, kiến thức, tự do, dân chủ, sự hưởng thụ và an nhàn: những điều này chỉ mang lại cho con người sự an ủi nhất thời. Ngay cả khi có những điều này, nhân loại vẫn không khỏi phạm tội và than vãn về những bất công của xã hội. Có được những điều này cũng không thể ngăn cản khao khát và ham muốn khám phá của con người. Đó là bởi con người do Đức Chúa Trời tạo dựng, những sự hy sinh và khám phá vô nghĩa của con người chỉ có thể ngày càng đem lại khổ não cho họ, khiến họ kinh hãi mãi không thôi, không biết làm sao để đối mặt với tương lai của nhân loại hoặc làm sao để đối mặt với con đường sau này. Thậm chí nhân loại còn sợ khoa học và kiến thức, lại càng sợ cảm giác trống rỗng. Trong thế giới này, bất kể ngươi sống trong một quốc gia tự do hay một quốc gia không có nhân quyền, thì ngươi cũng hoàn toàn không thể thoát khỏi số phận của nhân loại. Cho dù ngươi là kẻ cai trị hay kẻ bị trị, ngươi cũng hoàn toàn không thể thoát khỏi dục vọng muốn khám phá số phận, bí ẩn và đích đến của nhân loại, lại càng không thể thoát khỏi cảm giác trống rỗng kỳ lạ khó tả. Những hiện tượng chung này của nhân loại được các nhà xã hội học gọi là hiện tượng xã hội, nhưng không một vĩ nhân nào có thể đứng ra giải quyết những vấn đề như thế. Con người, suy cho cùng, chỉ là con người, địa vị và sự sống của Đức Chúa Trời, không ai có thể thay thế được. Nhân loại không chỉ cần một xã hội công bằng, trong đó mọi người đều được no đủ, bình đẳng và tự do; điều nhân loại cần là sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời và sự cung ứng sự sống của Ngài cho họ. Chỉ khi con người đạt được sự cung ứng sự sống của Đức Chúa Trời và sự cứu rỗi của Ngài, thì những nhu cầu, ham muốn khám phá, và sự trống rỗng tâm linh của con người mới được giải quyết(Phụ lục 2: Đức Chúa Trời tể trị số phận của cả nhân loại, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu ra rằng con người là do Đức Chúa Trời tạo ra, và gốc rễ của sự trống rỗng, bất lực của chúng ta là vì trong lòng chúng ta không có địa vị của Đức Chúa Trời. Nhìn lại, lúc nhỏ tôi tin là có Đức Chúa Trời, nhưng sau khi đi học, trong sách vở chưa bao giờ nhắc đến Đức Chúa Trời. Sách vở nói rằng con người tiến hóa từ vượn, rồi còn những câu như “Tri thức cải biến vận mệnh”, “Muôn việc đều tầm thường, chỉ có đọc sách là cao cả”, và “Khoa học là tối thượng”. Những tư tưởng và lời lẽ này đến từ Sa-tan, khiến con người tôn sùng tri thức và khoa học. Không biết từ lúc nào, tôi cũng đã tiếp nhận những lời lẽ này, đặc biệt đề cao giá trị của tri thức và coi trọng nó, vì mưu cầu tri thức, tôi đã xem việc tin Đức Chúa Trời như một chuyện phụ. Lúc này, tôi thấy cuộc đời mình thật mông lung, và nhiều lúc lại cảm thấy trống rỗng một cách khó hiểu. Thực ra, đó là vì tôi đã quá xa rời Đức Chúa Trời. Dù việc học hành đã mở rộng kiến thức và tầm nhìn của tôi, và tôi cũng nhận được lời khen ngợi và sự ngưỡng mộ từ người khác, nhưng tri thức không thể giải đáp những khúc mắc của tôi về cuộc đời, cũng không thể chỉ cho tôi con đường đời đúng đắn. Lòng tôi vẫn mông lung, bất lực và đau khổ. Tôi đọc được lời Đức Chúa Trời phán: “Không có Đức Chúa Trời trong lòng, thế giới nội tâm của con người thật tăm tối, vô vọng và trống rỗng”. “Nhân loại không chỉ cần một xã hội công bằng, trong đó mọi người đều được no đủ, bình đẳng và tự do; điều nhân loại cần là sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời và sự cung ứng sự sống của Ngài cho họ”. Tôi hiểu ra rằng chỉ có tin Đức Chúa Trời và nhận được sự cứu rỗi của Ngài thì mới có thể thoát khỏi mọi sự trống rỗng và đau khổ. Từ đó, tôi biết mình phải nghiêm túc tin Đức Chúa Trời và đọc lời Ngài, không thể lơ là việc tin Ngài nữa. Về sau, tôi bắt đầu tham gia nhóm họp mỗi tuần một lần, và việc có thể đọc lời Đức Chúa Trời khiến tôi cảm thấy rất vững tâm.

Sau kỳ thi đại học, tôi có nhiều thời gian hơn để đọc lời Đức Chúa Trời, và tôi thường sinh hoạt đời sống hội thánh cùng các anh chị em. Tôi thấy rằng trong hội thánh, lẽ thật nắm quyền, và giữa các anh chị em không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, thâm niên hay tuổi tác. Ai bộc lộ sự bại hoại cũng đều có thể cởi mở, thông công và giúp đỡ lẫn nhau, không có sự coi thường hay ganh đua. Tôi thực sự yêu thích cuộc sống như vậy. Không lâu sau, tôi nhận được giấy báo trúng tuyển đại học, và lòng tôi bắt đầu do dự không biết có nên đi học đại học hay không. Thật ra, tôi rất muốn đi học đại học, vì sau bao năm đèn sách, mục tiêu của tôi luôn là vào đại học, tìm một công việc danh giá với mức lương và đãi ngộ tốt để không bị người khác coi thường, không phải chịu cảnh nghèo khó. Nhưng tôi cũng lo nếu lên đại học, bận rộn với việc học hành thì sẽ không có thời gian để nhóm họp và đọc lời Đức Chúa Trời. Trong lúc do dự, tôi hỏi người nhà, và họ nói: “Con nên thành tâm cầu nguyện với Đức Chúa Trời rồi hãy quyết định, để sau này không hối tiếc”. Nghe vậy, tôi bèn đem khó khăn của mình thưa với Đức Chúa Trời, và cầu xin Ngài dẫn dắt để tôi có được lựa chọn đúng đắn.

Sau đó, tôi đọc lời Đức Chúa Trời: “Kiến thức có phải là điều gì đó mà mọi người xem là một điều tích cực không? Ít nhất, con người nghĩ rằng nghĩa rộng của từ ‘kiến thức’ thì tích cực hơn là tiêu cực. Vậy thì tại sao chúng ta đang đề cập ở đây rằng Sa-tan sử dụng kiến thức để làm cho con người bại hoại? Chẳng phải thuyết tiến hóa là một khía cạnh của kiến thức sao? Chẳng phải các định luật khoa học của Niu-tơn là một phần của kiến thức sao? Lực hấp dẫn của trái đất cũng là một phần của kiến thức, phải không? (Phải.) Vậy thì tại sao kiến thức lại được liệt kê trong số những thứ mà Sa-tan sử dụng để làm cho con người bại hoại? Quan điểm của các ngươi về điều này là gì? Trong kiến thức có đến một chút lẽ thật nào không? (Không.) Vậy thì thực chất của kiến thức là gì? Tất cả kiến thức mà con người có được học trên cơ sở nào? Có phải dựa trên thuyết tiến hóa không? Chẳng phải kiến thức mà con người đã có được qua sự khám phá và tổng kết dựa trên chủ nghĩa vô thần sao? Có phần nào trong kiến thức này liên quan đến Đức Chúa Trời không? Nó có liên quan đến sự thờ phượng Đức Chúa Trời không? Nó có liên quan đến lẽ thật không? (Không.) Vậy thì Sa-tan sử dụng kiến thức để làm cho con người bại hoại theo cách nào? Ta vừa phán rằng không có gì trong kiến thức này liên quan đến việc thờ phượng Đức Chúa Trời hoặc đến lẽ thật. Một vài người suy nghĩ về điều đó như thế này: ‘Kiến thức có thể không liên quan gì đến lẽ thật, nhưng dù gì, nó cũng không làm cho con người bại hoại’. Quan điểm của các ngươi về điều này là gì? Có phải kiến thức đã dạy ngươi rằng hạnh phúc của một người phải được tạo ra bằng chính đôi tay của họ không? Có phải kiến thức đã dạy ngươi rằng số phận con người nằm trong chính đôi tay của họ không? (Phải.) Đây là kiểu ăn nói gì vậy? (Ăn nói gian tà.) Hoàn toàn đúng! Đây là ăn nói gian tà! Kiến thức là một đề tài phức tạp để thảo luận. Ngươi có thể nói đơn giản rằng một lĩnh vực kiến thức cũng chỉ là kiến thức. Đó là một lĩnh vực kiến thức được học trên cơ sở không thờ phượng Đức Chúa Trời và không hiểu rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên muôn vật. Khi con người nghiên cứu loại kiến thức này, họ không nhìn thấy Đức Chúa Trời có quyền tối thượng trên muôn vật; họ không thấy Đức Chúa Trời đang chịu trách nhiệm hoặc quản lý muôn vật. Thay vào đó, tất cả những gì họ làm là không ngừng nghiên cứu và khám phá lĩnh vực kiến thức đó, và tìm kiếm câu trả lời dựa trên kiến thức. Tuy nhiên, chẳng phải sự thực là nếu con người không tin vào Đức Chúa Trời và thay vào đó chỉ theo đuổi sự nghiên cứu, thì họ sẽ không bao giờ tìm được câu trả lời đúng sao? Tất cả những gì kiến thức có thể cho ngươi là một phương kế sinh nhai, một công việc, thu nhập để ngươi không bị đói; nhưng nó sẽ không bao giờ khiến ngươi thờ phượng Đức Chúa Trời, và sẽ không bao giờ giữ ngươi lánh xa khỏi điều ác. Càng học về kiến thức, người ta sẽ càng mong muốn phản nghịch Đức Chúa Trời, đưa Đức Chúa Trời vào nghiên cứu, thử thách Đức Chúa Trời, và chống đối Đức Chúa Trời. Thế bây giờ chúng ta thấy điều gì mà kiến thức đang dạy cho con người? Đó là tất cả triết lý của Sa-tan. Các triết lý và quy tắc sinh tồn được Sa-tan truyền bá giữa những con người bại hoại có liên quan gì đến lẽ thật không? Chúng không liên quan gì đến lẽ thật và, trên thực tế, còn trái ngược với lẽ thật(Chính Đức Chúa Trời, Đấng độc nhất V, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). Đức Chúa Trời vạch rõ cách Sa-tan dùng tri thức làm mưu kế để làm bại hoại con người. Tôi thấy rằng tri thức thực tế có thể giúp chúng ta hiểu được những thường thức cơ bản, và có thể hỗ trợ chúng ta trong công việc và cuộc sống, nhưng trong quá trình học tập, Sa-tan đã tiêm nhiễm vào chúng ta chủ nghĩa vô thần, thuyết tiến hóa, chủ nghĩa Mác và các hệ tư tưởng khác. Những điều này khiến chúng ta ngày càng phủ nhận và ngày càng xa rời Ngài hơn. Tôi nhớ có một người chị em nói rằng con gái chị ấy lúc nhỏ tin có Đức Chúa Trời và đã theo chị ấy tin Ngài, nhưng sau này khi lên đại học, lúc chị nói với con gái về việc tin Đức Chúa Trời thì con gái chị không còn thừa nhận sự tồn tại của Đức Chúa Trời nữa. Thật ra, tôi cũng vậy. Lúc nhỏ tôi tin là có Đức Chúa Trời, nhưng trong sách giáo khoa và kiến thức được dạy ở trường, từ “Đức Chúa Trời” không bao giờ được nhắc đến, mà chỉ tràn ngập chủ nghĩa duy vật và thuyết tiến hóa, nói rằng mọi thứ trên thế gian đều hình thành tự nhiên và con người tiến hóa từ vượn, điều này khiến tôi bắt đầu nghi ngờ sự tồn tại của Đức Chúa Trời. Tôi nhận ra rằng Sa-tan thực sự lợi dụng tri thức để làm bại hoại con người. Nhưng lúc đó, tôi không hề nhận thức được điều này, và tôi vẫn khao khát tri thức, muốn tiếp tục bơi lội trong biển tri thức. Làm sao tôi biết được rằng đây là một thủ đoạn mà Sa-tan dùng để mê hoặc và làm bại hoại con người chứ? Giống như một con ếch bị luộc sống trong nước ấm dần, nếu một người không cảnh giác và không thoát ra khỏi nước kịp thời, thì đến khi bị Sa-tan nuốt chửng, họ cũng không hề hay biết. Tri thức được dạy ở các trường đại học đều là vô thần, và tôi càng học nhiều, tôi càng bị đầu độc sâu sắc hơn. Nếu cuối cùng, tôi trở thành người phủ nhận Đức Chúa Trời vì có quá nhiều tri thức, thì đã quá muộn. Chẳng phải đây là tự hủy hoại mình sao? Hậu quả của việc này thật đáng sợ!

Một ngày nọ, tôi đọc được thêm lời của Đức Chúa Trời: “Ngay từ khoảnh khắc cất tiếng khóc chào đời trên thế gian này, ngươi bắt đầu thực hiện chức trách của mình. Vì kế hoạch của Đức Chúa Trời và sự tiền định của Ngài, mà ngươi thực hiện vai trò của mình và bắt đầu hành trình cuộc đời. Bất kể lai lịch của ngươi như thế nào, bất kể hành trình phía trước của ngươi như thế nào, tóm lại, không một ai có thể thoát khỏi những sự sắp đặt và an bài của Trời, không một ai kiểm soát được vận mệnh của chính mình, vì chỉ có Đấng tể trị vạn vật mới có thể làm công tác như vậy(Đức Chúa Trời là nguồn sự sống của con người, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Tôi hiểu ra rằng số phận của một người nằm trong tay Đức Chúa Trời, và con người không có khả năng thay đổi số phận của mình. Số phận của tôi sẽ ra sao, tôi sẽ làm công việc gì, có cuộc sống như thế nào, và liệu tôi sẽ nghèo hay giàu – tất cả những điều này đều do Đức Chúa Trời tiền định và tể trị, và tôi không thể thay đổi chúng, huống hồ là chỉ dựa vào tri thức hay một tấm bằng. Giống như ông nội tôi; Đức Chúa Trời đã tiền định ông là một nông dân, và dù ông đọc rất nhiều sách và học rất nhiều, điều đó cũng không thể thay đổi số phận của ông. Tôi nhận ra rằng số phận của một người thực sự không nằm trong tay họ, và có học vấn cao hơn không nhất thiết sẽ có một công việc hay tương lai tốt. Tôi đã muốn thay đổi số phận của mình thông qua việc học hành, nhưng ý nghĩ đó thực sự ngu muội và vô tri. Khi nhận ra điều này, tôi sẵn lòng phó thác bản thân cho Đức Chúa Trời, và tôi sẵn lòng thuận phục sự tể trị và an bài của Đức Chúa Trời.

Trong thời gian đó, tôi cũng đọc thêm lời của Đức Chúa Trời, và có một đoạn đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Người trẻ tuổi không nên thiếu lý tưởng, chí khí và khí chất mạnh mẽ muốn vươn lên; họ không nên ngã lòng về tiền đồ của mình, và họ cũng không nên mất hy vọng trong cuộc sống hay sự tin tưởng vào tương lai; họ nên có nghị lực để tiếp tục theo con đường của lẽ thật mà họ giờ đã chọn – để thực hiện mong muốn dâng cả cuộc đời mình cho Ta. Họ không nên thiếu vắng lẽ thật, cũng không nên che đậy sự giả tạo và sự bất nghĩa – mà nên đứng vững lập trường mình nên có. Họ không nên bị cuốn theo số đông, mà nên có tinh thần dâng hiến và lăn xả vì chính nghĩa và lẽ thật. Những người trẻ nên có lòng dũng cảm để không chịu khuất phục sự áp bức bởi những thế lực của bóng tối và thay đổi ý nghĩa sự tồn tại của họ. Những người trẻ không nên phó mặc mình cho nghịch cảnh, mà càng nên có tinh thần cởi mở và thẳng thắn, tha thứ cho các anh chị em. Dĩ nhiên, đây là những yêu cầu của Ta với mọi người, và lời khuyên của Ta với mọi người. Nhưng còn hơn thế nữa, đây là những lời vỗ về của Ta đối với tất cả những người trẻ. Các ngươi nên thực hành theo lời Ta. Đặc biệt, những người trẻ không nên thiếu ý chí phân rõ lý lẽ sự tình, tìm kiếm chính nghĩa và lẽ thật. Các ngươi nên mưu cầu tất cả mọi thứ đẹp đẽ và tốt lành, và các ngươi nên đạt đến thực tế của tất cả những điều tích cực. Ngoài ra, các ngươi nên có trách nhiệm đối với cuộc đời của mình, và các ngươi không được coi nhẹ nó. Con người đến với thế gian và hiếm khi gặp được Ta, và cũng hiếm khi có cơ hội tìm kiếm và đạt được lẽ thật. Tại sao các ngươi không trân quý thời gian tươi đẹp này như con đường đúng để đi theo trong cuộc đời này? Và tại sao các ngươi luôn quá coi thường lẽ thật và công lý? … Sự sống của các ngươi nên đầy công lý, lẽ thật, và sự thánh khiết; cuộc sống của các ngươi không nên suy đồi ở độ tuổi trẻ như vậy, khiến các ngươi đọa xuống âm phủ. Các ngươi không cảm thấy rằng đây sẽ là một sự bất hạnh khủng khiếp sao? Các ngươi không cảm thấy rằng điều này sẽ là bất công khủng khiếp sao?(Những lời cho người trẻ và người già, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Những lời này của Đức Chúa Trời đã giúp tôi tìm ra hướng đi đúng đắn trong cuộc đời. Đức Chúa Trời là nguồn của mọi sự tốt đẹp và thiện lành. Tôi tin Đức Chúa Trời và đọc lời Ngài, và từ đó, tôi có thể phân định được những điều tích cực và tiêu cực, phân định được các trào lưu tà ác khác nhau, và tôi cũng biết cách sống thể hiện ra nhân tính bình thường, vân vân. Đây là tất cả những điều tôi cần. Nếu tôi không mưu cầu lẽ thật mà lại chọn tiếp tục mưu cầu tri thức, tôi sẽ chỉ bị ảnh hưởng bởi đủ loại triết lý và độc tố của Sa-tan, và ngày càng trở nên bại hoại hơn. Giống như khi còn đi học, tôi biết rõ thành tích của mình chỉ ở mức trung bình, nhưng không chấp nhận điều đó và đã học hành rất chăm chỉ để đỗ vào một trường đại học tốt. Kết quả là, tôi đã tự làm khổ mình và ngày càng xa rời Đức Chúa Trời. Vốn dĩ chúng ta được Đức Chúa Trời tạo ra, và chúng ta nên tin Ngài và mưu cầu lẽ thật, nhưng vì sự dụ dỗ và mê hoặc của Sa-tan, tôi chỉ biết đi học và học tập, và không hiểu rằng mình nên tin Đức Chúa Trời và thờ phượng Ngài, và tôi không hiểu rằng con người sống thì nên mưu cầu lẽ thật và sự cứu rỗi. Tôi đã hoàn toàn tập trung vào việc học, và tôi đã lãng phí quá nhiều thời gian. Tôi thấy rằng Đức Chúa Trời đã bày tỏ rất nhiều lẽ thật và vẫn còn rất nhiều điều tôi chưa hiểu, và lòng tôi vô cùng hối hận. Nếu đã sớm nhóm họp nghiêm túc từ vài năm trước thì chẳng phải tôi đã hiểu thêm nhiều lẽ thật sao? Nếu tôi tiếp tục học đại học thêm vài năm nữa, công tác của Đức Chúa Trời có thể đã kết thúc, và như vậy, tôi chắc chắn sẽ bỏ lỡ cơ hội được cứu rỗi của mình. Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, tôi cảm nhận được tâm ý cấp thiết của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đang chờ đợi nhân loại trở về trước Ngài và tiếp nhận sự cứu rỗi của Ngài để họ không còn phải chịu sự hãm hại của Sa-tan nữa. Tôi không thể bỏ lỡ cơ hội này.

Tôi đọc thêm lời Đức Chúa Trời: “Nếu ngươi ở địa vị cao, có tiếng tăm, sở hữu kiến thức phong phú, làm chủ nhiều của cải và được nhiều người ủng hộ, nhưng những điều này không ngăn cản ngươi đến trước mặt Đức Chúa Trời chấp nhận sự kêu gọi của Ngài cùng sự ủy nhiệm của Ngài và làm những gì Đức Chúa Trời yêu cầu ở ngươi, thì mọi thứ ngươi làm sẽ là chính nghĩa ý nghĩa nhất trên đất và là sự nghiệp chính nghĩa nhất của nhân loại. Nếu ngươi từ chối lời kêu gọi của Đức Chúa Trời vì địa vị và những mục tiêu riêng của mình, thì mọi thứ ngươi làm đều sẽ bị Đức Chúa Trời rủa sả và thậm chí căm ghét(Phụ lục 2: Đức Chúa Trời tể trị số phận của cả nhân loại, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Sau khi đọc lời Đức Chúa Trời, tôi càng hiểu rõ hơn về tâm ý của Ngài, và trong lòng cảm thấy được khích lệ vô cùng, Đức Chúa Trời phán rõ loại người nào sẽ được Ngài khen ngợi và ban phước, và loại người nào sẽ bị Ngài rủa sả và ghê tởm. Những ai có thể đến trước Đức Chúa Trời bất chấp mọi trở ngại và dâng cả thân lẫn tâm cho Ngài là những người sẽ được Ngài khen ngợi và ban phước. Nếu ai đó vì mưu cầu lợi ích cá nhân mà từ chối lời kêu gọi và sự ủy thác của Đức Chúa Trời, thì đó chính là phản nghịch Ngài, và người như vậy sẽ bị Đức Chúa Trời ghét bỏ. Tôi nghĩ rằng, với tư cách là một loài thọ tạo, nếu tôi chỉ mưu cầu tri thức mà không mưu cầu lẽ thật, thì chẳng phải tôi đang lãng phí hơi thở mà Đức Chúa Trời đã ban cho sao. Nếu tôi có thể dùng những năm tháng này để thực hiện bổn phận của một loài thọ tạo thay vì theo đuổi việc học ở trường đại học – nói cho nhiều người hơn biết tin mừng về việc Đức Chúa Trời đến để thực hiện công tác cứu rỗi nhân loại, và giúp nhiều người lạc lối như tôi trở về trước Đức Chúa Trời – thì đó sẽ là việc làm ý nghĩa nhất. Tôi nghĩ đến Phi-e-rơ. Ông từ nhỏ đã học giỏi, phẩm hạnh tốt, cha mẹ hy vọng ông sẽ thành công trong việc học và nên người xuất chúng, nhưng Phi-e-rơ không mưu cầu thêm tri thức hay học vấn cao hơn để đạt được danh lợi và địa vị. Thay vào đó, ông đã chọn tin Đức Chúa Trời và truyền đạo. Dù bị cha mẹ phản đối, ông vẫn ngừng việc học sau khi tốt nghiệp trung học. Mặc dù ông kiếm sống bằng nghề đánh cá và sống một cuộc đời bình thường, nhưng vì lòng khao khát Đức Chúa Trời, ông đã không ngừng mưu cầu việc nhận biết và yêu kính Đức Chúa Trời, và cuối cùng, ông đã được Đức Chúa Trời khen ngợi. Sự mưu cầu của Phi-e-rơ khiến tôi ngưỡng mộ, đồng thời cũng truyền cảm hứng cho tôi, cho tôi quyết tâm từ bỏ việc học đại học.

Chẳng mấy chốc, ngày nhập học đã đến. Một người bạn cùng lớp gọi điện rủ tôi đi đăng ký cùng, nhưng tôi nói với bạn ấy rằng tôi không đi học đại học nữa. Sau đó, bạn bè, người quen, và những người thân không tin lần lượt đến khuyên nhủ tôi. Có người nói: “Ra xã hội mà không có bằng cấp thì không tìm được việc tốt đâu”. Người khác lại nói: “Người ta muốn thi đỗ còn không được, đằng này mày thi đỗ rồi mà lại không đi, đầu óc mày có vấn đề à?”. Anh trai tôi còn nói: “Mày cứ đi học đại học đi, anh cho mày ba ngàn tệ, còn mua cho mày một cái điện thoại tốt”. Trong lòng tôi vừa buồn tủi vừa yếu đuối, vì cảm thấy mình từng là một đứa trẻ ngoan ngoãn, hiểu chuyện trong mắt họ, một học sinh giỏi với thành tích xuất sắc, một thanh niên đầy hứa hẹn với tương lai tươi sáng, vậy mà bây giờ lại bị coi là một đứa không nghe lời, đầu óc có vấn đề. Tôi cảm thấy có chút khó chịu trong lòng. Nhưng nhờ sự bảo vệ của Đức Chúa Trời, khi nghĩ rằng mình đang đi trên con đường đúng đắn của cuộc đời, lựa chọn sự nghiệp chính nghĩa nhất, lòng tôi lại tràn đầy đức tin. Họ muốn nghĩ sao, nói sao thì tùy, tôi vẫn sẽ nhóm họp và thực hiện bổn phận như thường lệ. Lúc đó, tôi rất thích hát một bài thánh ca lời Đức Chúa Trời có tên là “Ngươi nên từ bỏ mọi sự vì lẽ thật”:

1  Là một con người, và là người theo đuổi Đức Chúa Trời, ngươi phải có khả năng cân nhắc và đối xử với cuộc đời của mình một cách cẩn thận – cân nhắc cách ngươi nên dâng mình cho Đức Chúa Trời, cách ngươi nên có đức tin ý nghĩa hơn vào Đức Chúa Trời, và vì ngươi yêu mến Đức Chúa Trời, làm sao để ngươi yêu kính Ngài một cách thuần khiết hơn, đẹp hơn, và tốt hơn. Giờ đây, ngươi không thể chỉ hài lòng với cách mình được chinh phục mà còn phải suy xét xem ngươi nên bước đi như thế nào trên con đường phía trước. Ngươi phải có ý chí và dũng khí để được hoàn thiện. Các ngươi phải chịu đựng gian khổ vì lẽ thật, các ngươi phải hy sinh bản thân cho lẽ thật, các ngươi phải chịu đựng nhục nhã vì lẽ thật, và càng phải chịu khổ nạn nhiều hơn nữa để đạt được càng nhiều lẽ thật. Đây chính là những gì các ngươi nên làm.

2  Các ngươi đừng vứt bỏ lẽ thật để hưởng thụ gia đình hòa thuận, và các ngươi không được mất đi một đời tôn nghiêm và nhân cách vì sự hưởng thụ nhất thời. Các ngươi nên theo đuổi tất cả những gì đẹp đẽ và tốt lành, và nên theo đuổi con đường nhân sinh có ý nghĩa hơn. Nếu các ngươi sống một cuộc đời dung tục như vậy và chẳng hề có mục tiêu mưu cầu nào, chẳng phải các ngươi đang lãng phí cuộc đời mình sao? Các ngươi có được gì từ việc sống như vậy? Các ngươi nên từ bỏ tất cả những sự hưởng thụ xác thịt để có được một lẽ thật, và đừng nên vứt bỏ tất cả lẽ thật chỉ vì một chút hưởng thụ. Những người như vậy không có nhân cách hay tôn nghiêm; chẳng có ý nghĩa gì cho sự tồn tại của họ!

– Các kinh nghiệm của Phi-e-rơ: Hiểu biết của ông về hình phạt và sự phán xét, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời

Từ lời Đức Chúa Trời, tôi nhận ra rằng Đức Chúa Trời hy vọng chúng ta sống vì mưu cầu lẽ thật và chính nghĩa, và nếu chúng ta từ bỏ lẽ thật vì những thú vui tạm thời, thì chúng ta sẽ đánh mất tôn nghiêm, và quan trọng hơn là giá trị và ý nghĩa của cuộc sống. Trước đây, tôi không biết thế nào là cuộc đời có ý nghĩa. Tôi nghĩ rằng việc học tập tri thức ở trường, đỗ vào một trường đại học tốt và có một tương lai hứa hẹn sẽ khiến người khác nể phục, và đó mới là sống có triển vọng. Nhưng không ngờ, sau bao năm đèn sách, không những tôi không học được cách làm người, mà còn lạc lối. Tôi thậm chí đã quên rằng mình đến từ Đức Chúa Trời, rằng hơi thở này là do Đức Chúa Trời ban cho, và tôi còn bị Sa-tan hãm hại và lừa bịp. Cuối cùng, tôi suýt nữa đã trở nên giống như Sa-tan, chống đối và phủ nhận Đức Chúa Trời, sống không có chút giá trị hay tôn nghiêm nào. Bây giờ, tôi đã chọn đi con đường tin Đức Chúa Trời và mưu cầu lẽ thật. Dù gia đình và bạn bè không hiểu và phỉ báng tôi, và trong tương lai, có thể tôi sẽ không sống trong giàu sang hay được người khác coi trọng, nhưng bằng việc tin Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận, tôi có thể hiểu lẽ thật và đạt được sự sống. Đây là điều ý nghĩa nhất, và nỗi khổ này không vô ích. Vì vậy, bất kể họ cố gắng thuyết phục tôi thế nào, tôi cũng không hề lay chuyển, và tôi biết rằng sức mạnh này là do Đức Chúa Trời ban cho tôi.

Sau đó, tôi không đi học đại học nữa, mà thay vào đó thực hiện bổn phận trong hội thánh. Qua sự thông công và vạch rõ của Đức Chúa Trời, tôi đã có được sự hiểu biết sâu sắc hơn về việc mưu cầu tri thức của mình. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Trong suốt quá trình con người học hỏi kiến thức, Sa-tan sử dụng tất cả các phương thức, cho dù đó là kể những câu chuyện, hoặc chỉ đơn giản là cho họ một hạng mục tri thức, hoặc để cho họ thỏa mãn những dục vọng hoặc lý tưởng của mình. Sa-tan muốn đưa ngươi xuống theo con đường nào? Con người nghĩ rằng việc học hỏi kiến thức không có gì sai, rằng điều đó hoàn toàn tự nhiên. Nói cho dễ nghe hơn, nuôi dưỡng những lý tưởng cao cả hoặc có tham vọng được gọi là có chí khí, và điều này nên là con đường đúng đắn trong đời người. Chẳng phải đó là cách sống vinh quang hơn cho con người nếu họ có thể thực hiện lý tưởng của riêng mình, hoặc lập nghiệp thành công sao? Bằng cách làm những điều này, con người không chỉ có thể làm rạng danh tổ tiên mình mà còn có cơ hội để lại tiếng thơm muôn đời – chẳng phải đây là một điều tốt sao? Đây là một điều tốt trong mắt của những con người trần tục, và đối với họ thì nó nên là đúng đắn và tích cực. Tuy nhiên, Sa-tan, với những động cơ nham hiểm của mình, có dẫn con người vào con đường kiểu này là xong chuyện không? Tất nhiên là không. Trên thực tế, cho dù lý tưởng của con người có cao đến đâu, cho dù mong muốn của con người có thực tế đến đâu hoặc chúng có thể chính đáng đến mức nào, thì tất cả những gì con người muốn đạt được, tất cả những gì con người mưu cầu đều gắn chặt với hai từ. Hai từ này cực kỳ quan trọng đối với mỗi người trong suốt cả cuộc đời, và chúng là những gì Sa-tan muốn tiêm nhiễm vào trong con người. Hai từ này là gì? Đó là ‘danh’ và ‘lợi’. Sa-tan sử dụng một phương thức rất ôn hòa, một phương thức rất phù hợp với những quan niệm của con người, không phải là phương thức rất quá khích, qua đó nó khiến con người bất tri bất giác tiếp nhận phương thức sinh tồn của nó, phép tắc sống của nó, thiết lập mục tiêu và phương hướng cuộc đời của họ, cũng bất tri bất giác có những lý tưởng trong đời. Bất kể những lý tưởng trong đời này được mô tả hoành tráng đến thế nào, chúng vẫn luôn xoay quanh danh và lợi. Sự mưu cầu một đời của bất kỳ vĩ nhân, danh nhân, hay bất kỳ con người nào, chỉ liên quan đến hai từ này: ‘danh’ và ‘lợi’. Trong mắt con người, một khi họ có được danh lợi, thì họ có vốn liếng để hưởng thụ vinh hoa phú quý, hưởng thụ cuộc đời. Trong mắt con người, có danh và lợi thì họ có vốn liếng để vui chơi phè phỡn, hưởng thụ xác thịt không chút kiêng dè. Vì danh và lợi mà con người rất thèm khát này, người ta vui vẻ và bất tri bất giác đem thân xác và tâm hồn mình, đem hết mọi sự của mình, cả tiền đồ và số phận của mình mà giao cho Sa-tan. Họ làm vậy không chút do dự, không chút nghi hoặc, càng không hề biết lấy lại tất cả những gì là của mình. Con người đã giao mình cho Sa-tan và trung thành với nó như vậy rồi, thì còn có thể khống chế bản thân hay không? Chắc chắn là không. Họ bị Sa-tan kiểm soát triệt để rồi. Họ cũng triệt để chìm trong vũng lầy, và không thể tự mình thoát ra(Chính Đức Chúa Trời, Đấng độc nhất VI, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). Đọc lời Đức Chúa Trời, tôi mới nhận ra mình đã bị Sa-tan dụ dỗ vào con đường sai trái của việc mưu cầu danh lợi. Sa-tan quả thực rất nham hiểm và tà ác: Nó trước tiên dùng một việc có vẻ chính đáng, khiến người ta học hành và tiếp thu tri thức, rồi trong quá trình học tập, từ lúc nào không hay, nó đã tiêm nhiễm vào lòng người đủ loại tư tưởng và lời lẽ của Sa-tan, chẳng hạn như “Tri thức cải biến vận mệnh”, “Muôn việc đều tầm thường, chỉ có đọc sách là cao cả”, “Nên người xuất chúng, rạng danh tiên tổ”, và “Người có trí tuệ sẽ cai trị những kẻ chỉ có cơ bắp”. Những tư tưởng này khiến chúng ta tôn sùng tri thức và mưu cầu danh lợi, nghĩ rằng có học vấn cao hơn sẽ có công việc tốt, làm rạng danh tổ tiên, và giúp chúng ta thoát khỏi cuộc sống lao khổ. Vì vậy, tôi đã nghĩ rằng bằng cách vào đại học, tôi có thể thay đổi số phận của mình, và đạt được cái mà người ta gọi là cuộc sống tốt đẹp. Tôi bắt đầu tập trung vào điểm số và thứ hạng thi cử, và tôi thường cảm thấy thất vọng và buồn bực khi những nỗ lực của mình không mang lại kết quả tốt. Dù nhiều lúc tôi cảm thấy cuộc sống học sinh thật trống rỗng và tẻ nhạt, hay cảm thấy đau khổ vì phải cạnh tranh thứ hạng với người khác, tôi vẫn cam tâm chịu khổ chịu nhọc vì mục tiêu này, mà không hề biết cách thoát ra hay phản kháng. Tôi nghĩ đến người bạn cùng bàn của mình. Cô ấy thường thức khuya học bài để thi đỗ vào một trường đại học tốt, nhưng lại mắc một căn bệnh lạ do quá lo lắng. Cuối cùng, cô ấy phải nghỉ học để chữa bệnh. Rồi còn có cậu học sinh thi lại đã nhảy lầu tự tử. Đối với người khác, đó chỉ là chênh lệch vài điểm, nhưng cậu ấy lại coi điểm số quan trọng hơn cả mạng sống. Cuối cùng cậu ấy đã chọn cách nhảy lầu. Điều này cũng là do việc mưu cầu danh lợi gây ra. Từ những sự thật này, tôi đã thấy được ý đồ nham hiểm của Sa-tan khi dụ dỗ người ta mưu cầu danh lợi. Sa-tan không chỉ khiến chúng ta xa rời Đức Chúa Trời, mà còn hành hạ và đùa giỡn với chúng ta tùy ý, rồi cuối cùng nó nuốt chửng chúng ta. Nếu không có Đức Chúa Trời vạch rõ điều này, tôi sẽ không bao giờ thấy rõ được rằng danh lợi là thủ đoạn mà Sa-tan dùng để làm bại hoại con người, và tôi sẽ tiếp tục chịu đủ mọi khổ sở không cần thiết vì danh lợi, hơn nữa, tôi sẽ lạc lối khỏi Đức Chúa Trời và đóng sập cánh cửa dẫn đến sự cứu rỗi của Ngài. Tôi đã học hành chăm chỉ hơn mười năm để được người khác coi trọng, và tôi đã lơ là, thậm chí quên mất việc tin Đức Chúa Trời. Nếu không có tình yêu của Đức Chúa Trời, không có sự sắp đặt của Ngài để các anh chị em giúp đỡ tôi và đưa tôi vào đời sống hội thánh, tôi không biết mình sẽ còn trôi dạt trong hoang mang bao lâu nữa.

Mấy năm qua, nhờ thực hiện bổn phận và đọc lời Đức Chúa Trời, tôi ngày càng nhận thức rõ con đường tin Đức Chúa Trời mới là con đường đúng đắn trong cuộc đời. Đức Chúa Trời đã tỏ lộ cho chúng ta mọi lẽ mầu nhiệm của lẽ thật, ví dụ như, nhân loại đã phát triển đến ngày nay như thế nào, con người từ đâu đến và sẽ đi về đâu, chân tướng về việc nhân loại đã bị Sa-tan làm bại hoại ra sao, làm thế nào để giải quyết tâm tính bại hoại và sống thể hiện ra hình tượng giống con người thật sự, làm thế nào để biết và thờ phượng Đức Chúa Trời, làm thế nào để trở thành một loài thọ tạo đạt tiêu chuẩn, vân vân. Trong những lẽ thật mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ, tôi đã thấy được phương hướng của cuộc đời, và tôi đã tìm thấy giá trị của cuộc sống mình. Tôi thực sự biết ơn vì sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời đã đến với tôi, cho phép tôi được trở về trước Ngài. Tạ ơn Đức Chúa Trời!

Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?

Nội dung liên quan

Một quyết định khắc cốt ghi tâm

Bởi Bạch Dương, Trung Quốc Ba tôi đã chết vì bị bệnh khi tôi 15 tuổi và gia đình tôi đã mất đi người trụ cột. Tôi không thể chấp nhận nổi...

Liên hệ với chúng tôi qua Messenger