100. Đừng để sự lười biếng hủy hoại chính mình
Tháng 7 năm 2024, tôi làm người phụ trách công tác văn tự trong hội thánh. Vì lãnh đạo bị bắt nên hoàn cảnh của tôi và chị em phối hợp có phần nguy hiểm, chúng tôi chỉ có thể ở nhà dùng thư tín để theo dõi công tác. Ban đầu, tôi vẫn có thể tích cực theo dõi công tác, viết thư trao đổi về các vấn đề trong nhóm. Hễ thành viên trong nhóm có tình trạng gì, tôi cũng tìm lời Đức Chúa Trời để giải quyết, có công việc nào cần triển khai thì cũng nhanh chóng triển khai. Tuy có hơi bận rộn một chút, nhưng trong lòng tôi cũng không thấy mệt mỏi lắm. Khi công tác ngày càng nhiều, mấy nhóm đều có một số vấn đề cần giải quyết, tôi thầm nghĩ: “Nếu việc nào cũng phải tham gia theo dõi, trao đổi chi tiết, thì phải hao tổn bao nhiêu tâm tư, hại bao nhiêu tế bào não đây? Với lại, nhiều công tác như vậy, cái nào cũng phải theo dõi chi tiết thì làm sao mà xuể chứ?”. Tôi nghĩ đến một nhóm làm bài giảng, các thành viên trong nhóm đều đã thực hiện bổn phận văn tự nhiều năm, cũng nắm được một số nguyên tắc và đạt được chút hiệu quả trong bổn phận, nên tôi thấy mình không cần phải lo nhiều cho nhóm này nữa. Kể từ đó, tôi không còn để tâm nhiều đến công tác của nhóm đó. Đôi khi tôi cũng nghĩ đến việc tìm hiểu chi tiết xem họ có gặp khó khăn gì trong bổn phận không, nhưng rồi lại nghĩ: “Muốn hiểu rõ những chi tiết này thì phải hao tâm tổn trí. Thôi bỏ đi. Mấy người này nghiệp vụ cũng không tệ, lại có kinh nghiệm công tác, cứ để họ tự làm đi”. Sau đó, tôi không còn tìm hiểu hay theo dõi chi tiết công tác trong nhóm nữa. Sau một thời gian, tôi thấy nhóm này nhiều ngày rồi chưa nộp được bài giảng nào nên vội viết thư hỏi rõ tình hình. Trưởng nhóm báo lại là dạo gần đây chất lượng bài giảng nhận được không tốt, nên không có nhiều bài để nộp. Thấy công tác không hiệu quả, tình trạng của chị ấy cũng hơi chán nản, tôi chỉ thông công sơ qua, nhắc chị ấy cần mang gánh nặng và dẫn dắt mọi người tổng kết lại những sai lệch. Lẽ ra sau đó tôi cũng định tìm hiểu công tác của nhóm này kỹ hơn, nhưng rồi lại nghĩ: “Mình vẫn còn một số công tác cần làm, giờ mà tìm hiểu rồi giải quyết những vấn đề này thì phải hao tâm tổn sức lắm. Trưởng nhóm cũng nắm được một số nguyên tắc rồi, lãnh đạo cũng đã tổng kết các vấn đề trong những bài giảng mình chuyển lên, con đường được bàn tới cũng rõ ràng rồi, cứ để họ tự tìm tòi thực hành thôi”. Thế là, tôi hài lòng với việc chỉ chuyển tiếp thư của lãnh đạo cho nhóm, chứ không dẫn dắt họ tổng kết vấn đề và sai lệch. Còn về những công tác chi tiết như họ học tập ra sao, có vận dụng được những gì đã học không, thì tôi hoàn toàn không hỏi đến.
Không lâu sau, lãnh đạo gửi thư đến nói rằng nhóm làm bài giảng tiến độ rất chậm, chất lượng bài giảng nộp lên cũng không tốt, và yêu cầu tôi phải nhanh chóng tìm ra nguyên nhân. Đọc thư này, lòng tôi vô cùng cắn rứt, và qua sự phản tỉnh, tôi đã có được chút hiểu biết về biểu hiện không làm công tác thực tế của mình: “Khi lãnh đạo giả làm công tác, đặc điểm lớn nhất chính là giảng đạo lý sáo rỗng và hô hào khẩu hiệu sáo rỗng. Họ ban hành mệnh lệnh xuống rồi thì phủi tay mặc kệ. Công tác đó về sau tiến triển như thế nào, có xuất hiện vấn đề, lệch lạc, khó khăn gì không, thì họ chẳng bao giờ hỏi han. Họ giao công tác rồi thì coi như xong việc. … Không theo sát công tác, giao công tác rồi là xong việc, phủi tay mặc kệ, chính là tác phong làm việc của các lãnh đạo giả. Không theo sát hay chỉ đạo công tác, không hỏi han hay giải quyết vấn đề phát sinh, và không nắm rõ tiến độ hoặc hiệu suất công tác – đây cũng là những biểu hiện của lãnh đạo giả” (Chức trách của lãnh đạo và người làm công (4), Lời, Quyển 5 – Chức trách của lãnh đạo và người làm công). “Các lãnh đạo giả không làm được công tác thực tế, bất kể làm gì cũng đầu voi đuôi chuột. Vai trò của họ là người khai mạc buổi lễ: hô hào khẩu hiệu và giảng đạo lý, và khi họ đã giao công tác cho người khác cũng như sắp xếp ai phụ trách việc ấy thì họ coi như xong việc. Họ giống như cái loa phóng thanh thường thấy ở các vùng nông thôn Trung Quốc – vai trò họ đóng chỉ vẻn vẹn như vậy. Họ chỉ làm một chút công tác mở đầu; trong phần còn lại của công tác thì chẳng thấy bóng dáng họ đâu. Đối với một loạt câu hỏi cụ thể chẳng hạn như các hạng mục công tác được làm thế nào, có phù hợp với nguyên tắc hay không, có hiệu quả hay không, v.v. – thì họ không biết gì cả. Họ không bao giờ đến cấp cơ sở, thăm nơi làm việc để hiểu rõ và nắm rõ tiến độ cũng như các tình hình cụ thể của từng công tác. Do đó, các lãnh đạo giả có thể không cố ý gây gián đoạn và nhiễu loạn, không hành ác quá nhiều trong thời gian họ làm lãnh đạo, nhưng nhìn vào thực tế sẽ thấy rằng họ làm tê liệt công tác, làm chậm trễ sự tiến triển mọi công tác của hội thánh, dẫn đến việc dân được Đức Chúa Trời chọn không thể làm tốt bổn phận, cũng không có lối vào sự sống. Họ làm công tác như vậy thì có thể dẫn dắt dân được Đức Chúa Trời chọn đi đúng đường trong việc tin Đức Chúa Trời được sao? Điều này cho thấy rằng các lãnh đạo giả không làm bất kỳ công tác thực tế nào, họ không theo sát, hướng dẫn hay giám sát công tác họ nên phụ trách hầu bảo đảm công tác của hội thánh được tiến triển bình thường, họ không thể làm được chức năng của lãnh đạo và người làm công, không thể làm tròn lòng trung thành hay trách nhiệm của mình. Như vậy có thể khẳng định rằng các lãnh đạo giả không có lòng trung thành trong lúc làm bổn phận, chỉ toàn qua loa chiếu lệ, rằng họ lừa dối dân được Đức Chúa Trời chọn, cũng lừa dối cả Đức Chúa Trời, gây ảnh hưởng và cản trở đến việc tiến hành ý chỉ của Ngài. Đây là sự thật mà ai cũng có thể nhìn thấy” (Chức trách của lãnh đạo và người làm công (4), Lời, Quyển 5 – Chức trách của lãnh đạo và người làm công). Đọc những lời Đức Chúa Trời vạch rõ các lãnh đạo giả này, lòng tôi cảm thấy bị phán xét vô cùng. Khi thực hiện bổn phận, lãnh đạo giả tham hưởng xác thịt, qua loa chiếu lệ, làm việc đầu voi đuôi chuột. Khi triển khai công tác, họ thỏa mãn với việc chỉ truyền đạt mệnh lệnh, ban hành chỉ thị, chứ không giám sát hay theo dõi chi tiết công tác, không tìm hiểu hay nắm bắt các vấn đề trong công tác. Ngay cả khi phát hiện ra vấn đề, họ cũng không giải quyết kịp thời, làm chậm trễ nghiêm trọng tiến độ công tác. Mặc dù tôi không phải là lãnh đạo, nhưng biểu hiện của tôi chẳng phải y hệt như vậy sao? Khi thực hiện bổn phận, tôi luôn sợ phải hao tâm tổn sức, không có chút ý thức trách nhiệm nào. Khi thấy công tác làm bài giảng không có hiệu quả, tôi chỉ hỏi han qua loa cho có lệ, thông công sơ qua với trưởng nhóm về tình trạng của chị ấy, bảo chị ấy dẫn dắt các thành viên tổng kết lại những sai lệch và vấn đề. Ngay cả khi sau đó phát hiện các thành viên trong nhóm vẫn sống trong khó khăn, tôi cũng không muốn hao tâm tổn sức hay trả giá để giải quyết. Tôi chỉ chuyển cho họ những lá thư của lãnh đạo, bảo họ tự học tập và bước vào, chứ không thực sự giải quyết các vấn đề trong công tác. Tôi nhận ra, trong bổn phận của mình, tôi cũng vô trách nhiệm y như một lãnh đạo giả, chỉ làm cho có hình thức chứ không làm công tác thực tế. Tôi không giải quyết những khó khăn thực tế trong bổn phận, khiến mọi người không có được con đường trong bổn phận của mình, công tác cũng rơi vào đình trệ. Đây đều là hậu quả của việc tôi không làm công tác thực tế. Tôi nghĩ lại, tâm ý của Đức Chúa Trời khi để tôi thực hiện bổn phận người phụ trách là để tôi theo dõi, giám sát và tham gia vào các chi tiết công tác của nhóm, tìm hiểu và nắm bắt tình trạng của các thành viên, phát hiện những sai lệch và vấn đề trong bổn phận của họ, và có thể thông công lẽ thật để giải quyết kịp thời, giúp công tác tiến triển bình thường. Thế nhưng, tôi đã không làm tròn trách nhiệm của mình. Trong bổn phận, tôi thỏa mãn với việc chỉ truyền đạt mệnh lệnh, nghĩ rằng chỉ cần triển khai công việc là xong xuôi cả. Tôi còn nghĩ vì các thành viên trong nhóm đó đều đã thực hiện bổn phận văn tự nhiều năm và nắm được một số nguyên tắc, nên tôi không cần phải hao tâm tổn sức nữa. Tôi cứ thế mà đùn đẩy hết công tác cho họ, coi đó là chuyện đương nhiên, còn mình thì làm một người sếp chỉ tay năm ngón. Nghĩ lại thì, mặc dù họ có chút kinh nghiệm trong bổn phận, nhưng ai cũng có sai lệch và thiếu sót, đôi khi còn sống trong tâm tính bại hoại, lẽ ra tôi phải thường xuyên tìm hiểu thái độ của họ đối với bổn phận, nắm bắt các vấn đề và khó khăn trong công tác để giải quyết kịp thời. Đây là trách nhiệm của tôi. Thế nhưng, tôi chỉ luôn suy tính xem làm thế nào để xác thịt mình bớt khổ, không hề có chút lòng quan tâm đến tâm ý của Đức Chúa Trời! Mặc dù tôi bớt hao tâm tổn sức, xác thịt không mệt mỏi đến vậy, nhưng chính vì tôi quan tâm đến xác thịt và qua loa chiếu lệ nên đã làm chậm trễ tiến độ công tác, và đã vi phạm trước Đức Chúa Trời. Nghĩ đến đây, tôi cảm thấy vô cùng hối hận và mắc nợ Ngài.
Sau đó, tôi phản tỉnh bản thân: Tại sao trong bổn phận, tôi lại không muốn hao tâm tổn sức, cứ liên tục qua loa chiếu lệ và vô trách nhiệm? Tôi đọc được lời của Đức Chúa Trời: “Còn một loại lãnh đạo giả nữa, đó là loại người mà chúng ta thường xuyên nói đến từ khi thông công về chủ đề ‘chức trách của lãnh đạo và người làm công’ đến nay. Loại người này có chút tố chất, đầu óc không tệ, khi làm công tác thì có phương thức và phương pháp, có phương án giải quyết vấn đề, nếu giao cho họ một công tác, họ có thể thực hiện nó gần đạt đến tiêu chuẩn. Họ có thể phát hiện bất kỳ vấn đề nào xuất hiện trong công tác, cũng có thể giải quyết một số vấn đề; khi nghe thấy vài vấn đề được người khác phản ánh, hoặc quan sát thấy hành vi và biểu hiện, lời nói và cử chỉ của một số người, thì trong lòng họ có phản ứng, họ có quan điểm và cũng có thái độ. Đương nhiên, nếu những người này mưu cầu lẽ thật và biết mang gánh nặng, thì mọi vấn đề này đều có thể được giải quyết. Nhưng về loại người mà chúng ta thông công hôm nay, có những vấn đề nằm trong phạm vi công tác mà họ phụ trách lại không thể được giải quyết, tại sao lại như vậy? Vì những người này không làm công tác thực tế, tham ăn biếng làm, làm qua loa cho có, thích sự nhàn hạ và hưởng thụ lợi ích của địa vị, thích ra lệnh và chỉ tay năm ngón rồi coi như xong chuyện. Hễ là công tác thực tế của hội thánh hay công tác then chốt mà Đức Chúa Trời giao phó, thì họ đều không để tâm – trong lòng họ không có gánh nặng này, cho dù nhà Đức Chúa Trời có nhấn mạnh nhiều lần thì họ vẫn không để tâm. Chẳng hạn như, họ không muốn can thiệp hay hỏi han về công tác làm phim hoặc công tác văn tự của nhà Đức Chúa Trời, cũng không muốn tìm hiểu xem tiến độ và kết quả của những công tác này ra sao. Họ chỉ nghe ngóng gián tiếp, khi biết được mọi người đều đang bận rộn, đang làm việc, thì họ cũng không quan tâm nữa. Họ biết rõ trong công tác có tồn tại vấn đề, nhưng vẫn không muốn thông công để giải quyết, cũng không hỏi han hay tìm hiểu tình hình làm bổn phận của mọi người. Tại sao họ không hỏi han hay tìm hiểu? Vì họ cảm thấy nếu như tìm hiểu những việc này thì sẽ có rất nhiều vấn đề chờ họ giải quyết, mà như vậy thì họ sẽ phải lao tâm quá nhiều. Nếu như luôn phải giải quyết vấn đề thì sống mệt mỏi biết bao! Lao tâm quá nhiều thì họ ăn không ngon, ngủ cũng không yên, xác thịt thì mệt mỏi, sống vậy thì rất đau khổ. Cho nên thấy chỗ nào có vấn đề mà có thể tránh được thì họ sẽ tránh, có thể mặc kệ được thì họ sẽ mặc kệ. Vấn đề của loại người này là gì? (Thưa, là quá lười biếng.) Các ngươi nói xem, ai có vấn đề nghiêm trọng: những người lười biếng, hay những người có tố chất kém? (Thưa, những người lười biếng.) Tại sao những người lười biếng lại có vấn đề nghiêm trọng? (Thưa, những người có tố chất kém không làm lãnh đạo hay người làm công được, nhưng họ có thể hiệu quả phần nào khi làm bổn phận phù hợp với khả năng của mình. Những người lười biếng thì không thể làm được gì cả; ngay cả khi có tố chất thì nó cũng chẳng có tác dụng gì.) Những người lười biếng không làm được bất kỳ việc gì. Dùng hai chữ để khái quát thì họ là ‘phế nhân’, là tàn phế cấp độ hai. Dù tố chất của những người lười biếng có tốt cỡ nào thì đó cũng chỉ là cái mã bên ngoài; tố chất tốt của họ cũng chẳng dùng được. Điều này là do họ quá lười biếng, họ biết đúng ra họ phải làm gì, nhưng lại không làm; ngay cả khi biết có vấn đề, họ cũng không tìm kiếm lẽ thật để giải quyết; họ biết phải chịu những cái khổ nào thì mới có thể làm công tác có hiệu quả, nhưng họ không sẵn lòng chịu đựng những cái khổ đáng giá này. Kết quả là, họ không đạt được bất kỳ lẽ thật nào, cũng không làm được bất kỳ công tác thực tế nào. Họ không muốn chịu những cái khổ mà con người nên chịu; họ chỉ biết tham hưởng an nhàn, hưởng thụ những lúc sung sướng nhàn hạ, hưởng thụ cuộc sống tự do và thoải mái. Người như vậy chẳng phải là phế rồi sao? Người không thể chịu khổ thì không đáng sống. Bất cứ ai luôn muốn sống như ký sinh trùng đều là người không có lương tâm hay lý trí; họ là súc sinh, loại người này thậm chí không xứng đem sức lực phục vụ. Bởi vì họ không thể chịu khổ nên hiệu quả đem sức lực phục vụ của họ cũng kém, và nếu họ muốn đạt được lẽ thật thì càng không có hy vọng gì. Người không thể chịu khổ và không yêu thích lẽ thật thì là phế nhân, thậm chí không đạt tiêu chuẩn để đem sức lực phục vụ. Họ là súc sinh, không có chút nhân tính nào. Dạng người này buộc phải bị đào thải, như thế thì mới hợp với tâm ý của Đức Chúa Trời” (Chức trách của lãnh đạo và người làm công (8), Lời, Quyển 5 – Chức trách của lãnh đạo và người làm công). “Triết lý và lô-gic của Sa-tan đã trở thành sự sống của con người. Bất kể người ta theo đuổi điều gì thì họ thực sự làm vậy vì bản thân họ – và do đó họ sống chỉ cho bản thân họ. ‘Người không vì mình, trời tru đất diệt’ – đây là triết lý xử thế của con người, và chúng cũng đại diện cho bản tính của con người. Những lời này đã trở thành bản tính của nhân loại bại hoại và chúng là chân dung thật của bản tính Sa-tan của nhân loại bại hoại. Bản tính Sa-tan này đã hoàn toàn trở thành nền tảng tồn tại của nhân loại bại hoại. Trong vài ngàn năm qua, nhân loại bại hoại đã sống theo chất độc này của Sa-tan, mãi cho đến tận ngày nay” (Làm thế nào để đi con đường của Phi-e-rơ, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Đức Chúa Trời phán: “Dù tố chất của những người lười biếng có tốt cỡ nào thì đó cũng chỉ là cái mã bên ngoài” và “thậm chí không đạt tiêu chuẩn để đem sức lực phục vụ. Họ là súc sinh, không có chút nhân tính nào” và “Dạng người này buộc phải bị đào thải”. Tôi thấy Đức Chúa Trời ghét các lãnh đạo giả đến mức nào. Bất kể tố chất của một lãnh đạo giả có tốt đến đâu, nhưng vì nhân tính của họ không đạt tiêu chuẩn, lại quá lười biếng, vô trách nhiệm trong bổn phận, không giám sát hay theo dõi chi tiết công tác, nên họ không có cả tư cách để đem sức lực phục vụ, và sẽ chuốc lấy sự căm ghét và ghê tởm của Đức Chúa Trời. Đọc những lời này, tôi cảm thấy như thể Đức Chúa Trời đang phán xét tôi mặt đối mặt, từng câu từng chữ đâm vào tim tôi. Tôi nghĩ lại trước khi tin Đức Chúa Trời, tôi thường nghe người ta nói: “Người không vì mình, trời tru đất diệt”, “Có rượu nên hát, đời được bao lâu?” và “Có rượu hôm nay thì cứ say, chớ bận tâm chuyện thị phi ngoài cửa”. Bị ảnh hưởng và đầu độc bởi những tư tưởng sai lầm mà Sa-tan tiêm nhiễm cho mình, nên tôi thích mưu cầu sự hưởng thụ xác thịt, sống một cuộc sống tự do và thoải mái. Tôi cảm thấy chỉ khi xác thịt được hưởng thụ tốt thì cuộc sống mới phóng khoáng, tự tại. Tôi đã sống theo những quan điểm sinh tồn này của Sa-tan, nên hễ có nhiều công tác phải làm trong bổn phận, tôi liền bắt đầu cân nhắc và tính toán cho xác thịt của mình, ngay cả những việc trong khả năng tôi cũng không làm. Tôi biết rõ tiến độ công tác chậm, các thành viên trong nhóm gặp khó khăn trong bổn phận, nhưng tôi không muốn trả giá để giải quyết những vấn đề này. Tôi chỉ nghĩ làm thế nào để mình có thể làm ít việc hơn và chịu ít khổ hơn. Bản tính của tôi thật ích kỷ và đê tiện, không có chút nhân tính nào! Tôi nghĩ đến việc Đức Chúa Trời trở nên xác thịt và đến thế gian để công tác và cứu rỗi con người. Ngài không bao giờ hô hào khẩu hiệu suông, mà thực tế bày tỏ lẽ thật để cung ứng cho con người dựa theo những gì họ thiếu. Dù con người chúng ta có khó khăn và vấn đề gì, Đấng Christ cũng không mệt mỏi và kiên nhẫn thông công với chúng ta, thực tế giải quyết các vấn đề và khó khăn khác nhau trong bổn phận của chúng ta. Tôi thấy Đấng Christ làm việc rất cần mẫn và có trách nhiệm. Rồi tôi lại nhìn lại bản thân. Trong bổn phận của mình, tôi qua loa chiếu lệ bất cứ khi nào có thể, và cố gắng chịu khổ ít nhất có thể. Tôi quá lười biếng và sa đọa, sống không có chút nhân cách hay tôn nghiêm nào. Nếu tôi không ăn năn, cuối cùng tôi sẽ bị Đức Chúa Trời ghét bỏ và đào thải, tôi sẽ hủy hoại cơ hội được cứu rỗi của mình, và thời điểm công tác của Đức Chúa Trời kết thúc cũng sẽ là lúc tôi bị trừng phạt. Nghĩ đến đây, tôi cảm thấy vô cùng buồn bã và tự trách. Tôi cầu nguyện với Đức Chúa Trời: “Lạy Đức Chúa Trời, con luôn quan tâm đến xác thịt trong bổn phận của mình, và không muốn hao tâm tổn sức. Con chỉ hô hào khẩu hiệu suông và không làm công tác thực tế nào. Con đã gây tổn hại cho bổn phận của mình và để lại những hối tiếc. Con đã khiến Ngài ghê tởm mình. Lạy Đức Chúa Trời, con sẵn lòng ăn năn với Ngài. Về sau, con sẵn lòng chống lại xác thịt và kiên định giải quyết mọi vấn đề thực tế trong nhóm, làm tốt bổn phận của mình để thỏa mãn Ngài”.
Sau đó, tôi đọc thêm lời của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời phán: “Đức Chúa Trời đã ban cho ngươi tố chất đủ dùng, cũng ban cho ngươi những điều kiện vượt trội, để ngươi có thể nhìn thấu một số chuyện và có thể đảm nhiệm công tác này. Thế mà ngươi không có thái độ đúng đắn đối với bổn phận, không có lòng thành, càng không có sự tận tụy, ngươi không muốn dốc hết sức mình để làm tốt nó. Chuyện này khiến Đức Chúa Trời quá thất vọng rồi. Cho nên, nếu người ta lười biếng, đối với công tác được giao thì luôn cảm thấy phiền phức và không muốn làm, trong lòng còn oán trách rằng: ‘Tại sao lại bảo tôi làm mà không bảo người khác làm?’, thì đây là một ý nghĩ ngu xuẩn. Bổn phận đến với ngươi đâu phải là chuyện xui xẻo, mà là chuyện vinh dự, là sự nâng cao của Đức Chúa Trời. Ngươi nên vui vẻ tiếp nhận nó và làm bổn phận mình nên làm, làm vậy đâu có mệt đến chết được. Ngược lại, nếu ngươi làm tốt bổn phận, hiểu lẽ thật và giải quyết được vấn đề, thì trong lòng ngươi sẽ bình an yên ổn, và ngươi sẽ không làm Đức Chúa Trời thất vọng. Trước mặt Đức Chúa Trời, ngươi sẽ có đức tin và có thể ngẩng cao đầu mà làm người” (Cách mưu cầu lẽ thật (11), Lời, Quyển 7 – Về việc mưu cầu lẽ thật). “Chưa nói đến việc làm tròn một sứ mạng, bổn phận hay trách nhiệm gì lớn lao, nhưng ít nhất ngươi nên làm xong một điều gì đó. Chẳng hạn, trong hội thánh, một số người dốc toàn lực cho công tác rao giảng phúc âm, dốc hết sinh lực cả đời mình, trả giá đắt và đưa về được nhiều người. Vì thế họ cảm thấy mình đã không sống một cuộc đời vô ích, mà có giá trị và sự an ủi. Khi phải đối mặt với bệnh tật hay cái chết, hoặc khi tổng kết lại cả cuộc đời mình và nghĩ lại mọi việc mình từng làm, con đường mình đã đi, họ cảm thấy lòng mình được an ủi, không cảm thấy bị buộc tội hay hối tiếc. Có những người khi lãnh đạo hội thánh hoặc chịu trách nhiệm về một khía cạnh công tác nào đó, thì không tiếc công sức, phát huy tối đa tiềm năng của mình, dốc hết sức lực, dốc hết tâm huyết và trả giá. Thông qua việc chăm tưới, lãnh đạo, giúp đỡ và hỗ trợ mọi người, họ đã giúp được nhiều người vốn chìm trong tiêu cực và yếu đuối được trở nên mạnh mẽ, đứng vững, không rút lui, mà thay vào đó trở lại trước mặt Đức Chúa Trời, thậm chí cuối cùng còn làm chứng cho Ngài. Hơn nữa, trong nhiệm kỳ lãnh đạo, họ còn hoàn thành được nhiều công tác quan trọng, thanh trừ khá nhiều kẻ ác, bảo vệ nhiều dân được Đức Chúa Trời chọn và khắc phục được một số tổn thất lớn. Tất cả những thành tựu này đều đạt được trong nhiệm kỳ lãnh đạo của họ. Nhìn lại chặng đường mình đã qua, hồi tưởng lại những việc mình đã làm và những cái giá mình đã phải trả trong bao năm qua, họ không hề cảm thấy hối tiếc hay bị lương tâm buộc tội. Họ không cảm thấy hối hận gì và tin mình đã sống có giá trị, lòng họ vững vàng và có sự an ủi. Như vậy thật quá tốt! Chẳng phải đây chính là thành quả sao? (Thưa, phải.) Cảm giác vững vàng và an ủi này, cảm giác không hối tiếc này, là kết quả và thu hoạch của việc mưu cầu những điều tích cực và lẽ thật. Chúng ta đừng đặt tiêu chuẩn cao cho mọi người. Hãy xem xét tình huống khi người ta phải đối mặt với một nhiệm vụ họ nên làm hoặc sẵn lòng làm trong đời. Sau khi tìm được vị trí cho mình, họ đứng vững, giữ vững vị trí của mình, dốc hết tâm huyết và sinh lực để làm tròn và hoàn thành những gì mình nên làm và hoàn thành. Cuối cùng, khi đứng trước Đức Chúa Trời giải trình, họ cảm thấy tương đối mãn nguyện, trong lòng không cảm thấy bị lương tâm buộc tội hay hối tiếc. Họ cảm thấy được an ủi, có thu hoạch, thấy mình đã sống có giá trị” (Cách mưu cầu lẽ thật (6), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). Suy ngẫm lời Đức Chúa Trời, tôi đã hiểu được tâm ý của Ngài. Đức Chúa Trời ban cho tôi ân tứ và tố chất, lại cho tôi cơ hội làm người phụ trách, với hy vọng tôi sẽ trả giá trong bổn phận, làm việc nghiêm túc, có trách nhiệm, và dốc lòng làm tốt bổn phận của mình. Chỉ như vậy cuộc sống của tôi mới có ý nghĩa. Nếu trong bổn phận, tôi cứ lười biếng và tham hưởng an nhàn, thì dù xác thịt không phải chịu nhiều khổ sở, tôi cũng sẽ gây tổn hại cho công tác. Đây là điều khiến Đức Chúa Trời ghê tởm. Hiện tại công tác của Đức Chúa Trời đã đến thời khắc then chốt cuối cùng. Nếu tôi cứ tiếp tục quan tâm đến xác thịt, không dành thời gian và tâm sức cho bổn phận, thì khi công tác của Đức Chúa Trời kết thúc, tôi sẽ phải hối tiếc đời đời. Tôi phải xoay chuyển thái độ của mình đối với bổn phận: phải nghiêm túc, có trách nhiệm trong hành động, dốc hết lòng vào đó; khi phát hiện vấn đề nào, phải cậy dựa Đức Chúa Trời và tìm kiếm lẽ thật để giải quyết; và bắt tay vào làm những công tác thực tế một cách vững vàng. Sau đó, tôi đã thực sự tìm hiểu và điều tra nguyên nhân chất lượng bài giảng kém. Chủ yếu là vì các anh chị em không nắm vững các nguyên tắc sàng lọc bài giảng, và không thể vận dụng những gì đã học. Để giải quyết những vấn đề này, tôi đã cùng họ sàng lọc một số bài giảng và nghiên cứu các nguyên tắc, phát hiện vấn đề và sai lệch nào thì kịp thời thông công và sửa chữa. Chúng tôi đã đạt được một số kết quả trong bổn phận của mình. Tuy phải tốn thêm thời gian, tâm sức, xác thịt cũng chịu khổ hơn một chút, nhưng lòng tôi cảm thấy bình an và thanh thản. Đồng thời, qua việc nghiên cứu các nguyên tắc cùng với các thành viên trong nhóm, bản thân tôi cũng hiểu rõ hơn về chúng. Đây đều là những kết quả đạt được thông qua việc thực sự tham gia vào công tác.
Sau đó, ngoài việc theo dõi công tác của nhóm khác, tôi cũng để tâm đến công tác của nhóm làm bài giảng. Tôi đã trao đổi chi tiết từng nguyên tắc mà lãnh đạo triển khai với các anh chị em, và kịp thời thảo luận, giải quyết bất kỳ sai lệch nào chúng tôi phát hiện trong công tác. Có lần, lãnh đạo chỉ ra rằng nhóm làm bài giảng chỉ chú trọng số lượng bài giảng nộp lên chứ không chú trọng chất lượng. Điều này có nghĩa là dù họ nộp rất nhiều bài giảng nhưng chất lượng lại không tốt. Đọc xong lá thư này, tôi thầm nghĩ: “Hiện tại mình vẫn còn một số công tác phải triển khai. Viết thư cho nhóm làm bài giảng để trao đổi chuyện này sẽ tốn thêm thời gian và tâm sức, xác thịt sẽ phải chịu khổ nhiều hơn. Hay là mình cứ dựa vào thư của lãnh đạo mà trao đổi sơ qua với họ, bảo họ sau này chú ý hơn là được rồi?”. Thế nhưng, sau đó, tôi đọc được lời của Đức Chúa Trời: “Bất cứ khi nào ngươi muốn làm việc một cách qua loa chiếu lệ, bất cứ khi nào ngươi muốn giở trò dối trá và lười biếng, cũng như bất cứ khi nào ngươi xao nhãng hay muốn chơi đùa, thì ngươi nên suy ngẫm: ‘Khi cư xử như vậy, tôi có phải là người không đáng tin cậy không? Đây có phải là dốc lòng thực hiện bổn phận của mình không? Làm thế này thì chẳng phải là tôi không tận tụy sao? Làm thế này, chẳng phải tôi đang phụ lòng ủy thác của Đức Chúa Trời dành cho tôi sao?’. Đây là cách ngươi nên phản tỉnh. Nếu ngươi có thể biết được mình luôn qua loa chiếu lệ trong bổn phận, không tận tụy, và đã làm tổn thương Đức Chúa Trời, thì ngươi nên làm gì? Ngươi nên nói rằng: ‘Lúc đó trong lòng con đã cảm thấy có điều gì đó không ổn ở đây, nhưng con không coi đó là vấn đề; mà cứ lơ mơ không rõ rồi qua chuyện. Đến bây giờ con mới nhận ra rằng con thực sự đã làm việc một cách qua loa chiếu lệ, rằng con chưa làm tròn trách nhiệm. Con thật sự không có lương tâm và lý trí!’. Ngươi đã tìm ra vấn đề và bắt đầu tự biết mình một chút – vậy thì bây giờ ngươi phải biết quay đầu! Trước đây thái độ của ngươi đối với việc thực hiện bổn phận là sai. Ngươi đã xem bổn phận như thể là công việc phụ, nỗ lực nửa vời, và không hết lòng. Nếu ngươi qua loa chiếu lệ như thế này lần nữa, ngươi phải cầu nguyện với Đức Chúa Trời, để Ngài sửa dạy và trách phạt ngươi. Chỉ khi có ý chí như vậy khi thực hiện bổn phận của mình, thì ngươi mới có thể thực sự ăn năn. Lương tâm của ngươi mới có được sự bình an và thái độ đối với việc thực hiện bổn phận của ngươi mới có chuyển biến, như vậy mới được gọi là quay đầu” (Thường xuyên đọc lời Đức Chúa Trời và suy ngẫm về lẽ thật thì mới có con đường để đi, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Suy ngẫm lời Đức Chúa Trời, tôi nghĩ lại trước đây mình đã quá lười biếng khi thực hiện bổn phận, không muốn chịu khổ hay hao tâm tổn sức, nên đã làm chậm trễ công tác. Giờ đây, tôi phải thay đổi thái độ đối với bổn phận, không thể cứ tham hưởng an nhàn như trước đây nữa. Tôi phải cầu nguyện với Đức Chúa Trời để chống lại xác thịt, và làm tròn những trách nhiệm mà mình nên làm. Sau đó, tôi đã viết một lá thư để thông công về những sai lệch trong công tác của nhóm và chỉ ra con đường phía trước một cách chi tiết. Sau một thời gian, những sai lệch trong nhóm đã được xoay chuyển, và việc thực hiện bổn phận của họ đã có tiến bộ hơn trước. Mặc dù vẫn còn nhiều hạng mục công tác, nhưng tôi đã xoay chuyển thái độ đối với bổn phận của mình, biết ưu tiên công tác một cách đúng đắn, thực sự tham gia, giám sát và theo dõi chi tiết công tác của nhóm. Khi gặp khó khăn, tôi dẫn dắt các thành viên trong nhóm tìm kiếm lẽ thật và giải quyết chúng, và dần dần công tác bắt đầu có khởi sắc. Mặc dù xác thịt tôi trả giá nhiều hơn và chịu khổ hơn một chút, nhưng lòng tôi cảm thấy bình an và thanh thản. Làm tốt bổn phận của mình để thỏa mãn Đức Chúa Trời.