Tôi không còn sợ trách nhiệm nữa
Bởi Trình Nặc, Trung Quốc Một ngày tháng Mười một năm 2020, một lãnh đạo dự buổi họp của nhóm chúng tôi và sau khi kết thúc buổi họp, anh...
Hoan nghênh tất cả những người tìm kiếm sự xuất hiện của Đức Chúa Trời!
Tháng 5 năm 2004, trên đường đi nhóm họp về, tôi và Ngô đã bị bắt vì bị một Giu-đa bán đứng. Tại đồn cảnh sát, cảnh sát liên tục tra hỏi để biết ai là lãnh đạo hội thánh và của lễ để ở đâu. Thấy tôi không khai, bốn năm tên cảnh sát liền bao vây lấy tôi, xô đẩy và đánh đập tôi. Một tên dùng thanh tre dài hơn một mét, to bằng ngón tay cái vụt tàn nhẫn khắp người tôi, lại còn dùng chân giẫm qua giẫm lại trên đùi tôi. Một nữ cảnh sát thì tát mạnh vào mặt tôi. Chúng còng tay tôi ra sau lưng rồi kéo mạnh về phía sau. Bị tra tấn đến mức nghẹt thở, tôi có cảm giác như mình sắp chết ngạt. Mồ hôi trên mặt chảy ròng ròng xuống, và như thế chúng cứ luân phiên hết đánh rồi lại tra hỏi tôi. Toàn thân tôi đau đớn tột cùng. Đến đi vệ sinh tôi cũng không thể tự kéo quần xuống được, phải nhờ một nữ cảnh sát kéo xuống giúp. Tôi thấy đùi và hai bên mông mình có những vết bầm tím lớn như màu quả cà tím. Đau đến mức tôi không thể ngồi xổm xuống được. Đêm đó, thấy tôi vẫn không chịu khai, chúng bắt tôi ngồi trên sàn nhà lạnh cóng rồi chia ca tiếp tục thẩm vấn. Chúng không cho tôi nhúc nhích hay chợp mắt. Lưng và chân tôi tê cứng và sưng phù lên vì lạnh. Đầu tôi choáng váng và đau nhức bưng bưng. Hễ tôi nhắm mắt lại là bọn chúng lại quát tháo ầm ĩ. Tôi cảm thấy sắp không cầm cự nổi rồi, giống như sắp chết đến nơi. Tôi nghĩ thầm: “Xem ra nếu mình không khai chút gì ra thì chúng sẽ không tha cho mình đâu. Không biết chúng sẽ còn dùng trò tra tấn nào tiếp theo nữa, liệu mình có chịu đựng nổi không? Nếu bị tra tấn đến chết, chẳng phải đức tin của mình sẽ thành công cốc sao? Nếu chết rồi thì làm sao mình được cứu rỗi đây?”. Thế là tôi bịa ra một chuyện hòng lừa gạt chúng, nhưng chúng hoàn toàn không tin và vẫn tiếp tục thẩm vấn tôi.
Khoảng năm, sáu giờ chiều hôm sau, cảnh sát của Cục Công an Thành phố và Đội An ninh Quốc gia đã đưa tôi và Ngô đến một khách sạn để tiếp tục thẩm vấn. Cửa sổ bị che kín bằng rèm đen, bên ngoài có cảnh sát vũ trang đứng gác. Nhìn cảnh đó, sống lưng tôi lạnh toát. Tôi vô cùng khiếp sợ, không biết tiếp theo chúng sẽ còn tra tấn mình ra sao nữa. Trong lòng, tôi không ngừng cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Bọn cảnh sát tách tôi và Ngô ra, rồi chia ca thẩm vấn suốt 24 giờ mỗi ngày. Chúng bắt tôi ngồi trên ghế, không cho nhúc nhích hay chợp mắt. Hễ tôi nhắm mắt lại là chúng lại lớn tiếng quát mắng tôi. Bị hành hạ đến mức căng đầu nhức óc. Hai ngày sau, Ngô đã bán đứng tôi. Cô ta khai với chúng rằng tôi là người phụ trách dời vị trí của lễ. Cô ta còn bán đứng một số lãnh đạo tiểu khu, gia đình tiếp đãi và gia đình bảo quản. Cầm bản khẩu cung của Ngô trên tay, một tên cảnh sát nói với tôi một cách hung tợn: “Chị không khai thì cũng vô ích thôi. Người ta đã khai hết rồi. Chị đã chuyển của lễ đi đâu rồi? Có phải đào sâu ba thước đất chúng tôi cũng phải tìm ra số tiền đó. Dù chị không khai thì vẫn bị kết án thôi! Hội thánh Đức Chúa Trời Toàn Năng là mục tiêu đàn áp trọng điểm của nhà nước. Tin Đức Chúa Trời Toàn Năng là gây rối trật tự xã hội, là phạm pháp. Chúng tôi có đánh chết chị thì cũng chẳng sao cả! Chúng tôi đánh chị thế này, sao Đức Chúa Trời của chị không đến cứu chị đi? Làm gì có Đức Chúa Trời nào!”. Sau đó, chúng cố ép tôi nói những lời báng bổ Đức Chúa Trời. Thấy tôi không chịu, hắn tát mạnh vào mặt tôi rồi nói một cách hung tợn: “Chúng tôi có thừa cách để đối phó với chị! Nếu chị không khai, tôi sẽ lấy dao rạch nát mặt chị, rồi nhét vào bao tải ném xuống sông Hoàng Phố cho cá ăn!”. Tôi nghĩ thầm: “Bọn cảnh sát tà ác này chuyện gì cũng dám làm. Nếu chúng thực sự ném mình xuống sông, thì mình có chết cũng chẳng ai hay biết. Mình chưa muốn chết lúc này. Nếu chết rồi, chẳng phải đức tin của mình sẽ thành công cốc sao? Vậy làm sao mình được cứu rỗi nữa? Hay là mình cứ khai ra chút gì đó… Dù sao thì Ngô cũng đã khai rồi, mình có nhận hay không thì cũng vậy thôi”. Sau đó, bọn cảnh sát đọc địa chỉ của các gia đình tiếp đãi và gia đình bảo quản mà Ngô đã khai, cùng với đặc điểm nhận dạng và tên của các chị em. Tôi đã ngầm thừa nhận những thông tin đó. Nhưng tên cảnh sát lại nói: “Người ta khai rõ ràng hết rồi nên sắp được về nhà. Chị chỉ xác nhận lại những gì cô ta đã khai thôi. Chị chưa tự khai ra một người hay một ngôi nhà nào cả. Nếu chị không khai, chúng tôi vẫn sẽ tống chị vào tù. Ai bảo chị có thái độ không tốt, không chịu hợp tác!”. Tôi nghĩ nếu mình khai thêm một chút nữa, có lẽ chúng sẽ thả mình, hoặc giảm án cho mình. Thế là, tôi đã khai ra địa chỉ của một người chị em tiếp đãi khác. Khoảnh khắc bán đứng người chị em của mình, tôi cảm giác như mình bị đày xuống địa ngục vậy. Tôi không thể diễn tả được cảm giác đó. Toàn thân tôi rã rời. Tôi ngã quỵ xuống sàn, khóc không thành tiếng. Tôi cố vớ lấy sợi dây điện để tự tử, nhưng một tên cảnh sát đã dùng chân giẫm chặt lên tay tôi. Lòng tôi tràn ngập sự hối hận vì đã bán đứng người chị em của mình, trong thâm tâm, tôi không ngừng tự nguyền rủa bản thân, thấy mình thật đáng chết và đáng bị hủy diệt. Tôi nhớ đến lời Đức Chúa Trời: “Đối với những kẻ đã không cho Ta thấy chút ít sự trung thành nào suốt trong những kỳ hoạn nạn, Ta sẽ không thương xót nữa, vì lòng thương xót Ta chỉ nới đến thế thôi. Hơn nữa, Ta không thích bất kỳ ai đã một lần phản bội Ta, Ta càng không thích kết giao với những kẻ bán đứng những lợi ích của bạn bè mình. Đây là tâm tính của Ta, bất kể người đó có thể là ai. Ta phải bảo với các ngươi điều này: Bất kỳ ai khiến Ta buồn lòng sẽ không nhận được sự khoan dung từ Ta lần thứ hai…” (Hãy chuẩn bị đầy đủ những việc lành cho đích đến của mình, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Lời Đức Chúa Trời khiến tôi vô cùng khiếp sợ. Tôi cảm thấy tâm tính công chính của Đức Chúa Trời không thể bị xúc phạm. Tôi đã bán đứng người chị em của mình và phản bội Đức Chúa Trời. Tôi đã xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời, và Ngài sẽ không cần tôi nữa. Cuộc đời tin Đức Chúa Trời của tôi thế là hoàn toàn chấm dứt. Trong khoảnh khắc đó, tôi thấy sống không bằng chết.
Nhưng bọn cảnh sát vẫn không chịu buông tha cho tôi. Chúng tiếp tục tra hỏi thông tin về hội thánh. Chúng ép tôi ngồi trên ghế suốt 24 giờ mỗi ngày, không cho nhúc nhích hay chợp mắt. Chúng tra tấn tôi bằng cách tước đoạt giấc ngủ trong khoảng một tuần liền. Tôi bị hành hạ đến mức không ăn cơm nổi. Thấy tôi sắp gục ngã, bọn cảnh sát liền đưa tôi đến bệnh viện truyền dịch. Vừa về đến nơi, chúng lại chia ca tiếp tục thẩm vấn và đưa cho tôi xem ảnh của các anh chị em, bắt tôi nhận dạng. Tôi tự nhủ với lòng mình: “Mình đã xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời và trở thành một Giu-đa đáng xấu hổ rồi. Mình không thể lại phản bội Đức Chúa Trời nữa”. Thế là, mặc cho chúng thẩm vấn ra sao, tôi cũng không nói gì cả. Một tháng sau, chúng kết án tôi hai năm cải tạo lao động với tội danh “gây rối trật tự xã hội”. Trên đường áp giải tôi và Ngô đến trại cải tạo lao động, Ngô nói cho tôi biết người chị em tiếp đãi mà tôi bán đứng đã bị bắt. Chị ấy được thả sau khi gia đình chạy chọt, nhưng vẫn bị giám sát liên tục. Nghe xong, lòng tôi đau như dao cắt. Tôi hận bản thân đã tham sống sợ chết, hận mình đã bán đứng người chị em, khiến chị ấy không thể đi nhóm họp hay làm bổn phận được nữa. Đã bao lần tôi khóc nức nở và cầu nguyện với Đức Chúa Trời, cầu xin Ngài sắp đặt một hoàn cảnh khác để cho tôi thêm một cơ hội nữa. Tôi thề rằng dù bọn cảnh sát có tra tấn đến chết, tôi cũng sẽ không bao giờ bán đứng anh chị em mình nữa. Trong hai năm ở trại lao động, mỗi khi nhớ lại lời Đức Chúa Trời: “Ta càng không thích kết giao với những kẻ bán đứng những lợi ích của bạn bè mình”, Tôi lại cảm thấy mình sẽ không bao giờ có cơ hội được cứu rỗi nữa và cuối cùng sẽ phải xuống địa ngục, chịu sự trừng phạt. Ý nghĩ đó khiến tôi vô cùng tiêu cực. Nỗi đau đớn ấy khiến tôi sống không bằng chết. Tôi thậm chí còn cảm thấy chết đi cũng là một kiểu giải thoát, như vậy thì không cần phải chịu sự giày vò trong tâm linh nữa.
Sau hai năm ngồi tù, tôi được thả về nhà, nhưng tôi quá xấu hổ, không dám đối mặt với các anh chị em. Tôi hận bản thân vì đã là một Giu-đa đáng xấu hổ, bán đứng người chị em của mình. Trong lòng tôi vô cùng đau khổ và giày vò, cảm thấy rằng Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ cứu rỗi mình, rằng cuối cùng tôi vẫn sẽ bị rủa sả và trừng phạt. Tôi trở nên nản lòng, thất vọng và chỉ muốn chết quách đi cho xong. Một ngày nọ, tôi nhớ đến lời Đức Chúa Trời: “1. Nếu ngươi thực sự là một kẻ phục vụ, thì ngươi có thể dâng sự phục vụ cho Ta một cách trung thành, mà không có bất kỳ yếu tố qua loa chiếu lệ hay tiêu cực nào không? … 10. Ngươi có thể làm người đi theo trung thành của Ta, sẵn lòng chịu khổ một đời vì Ta dầu ngươi không nhận được bất cứ thứ gì không?” (Một vấn đề rất nghiêm trọng: Sự phản bội (2), Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Lời Đức Chúa Trời như tia sáng soi rọi cõi lòng tăm tối của tôi, cho tôi dũng khí để sống tiếp. Đúng vậy, được phục vụ cho Đức Chúa Trời trong đức tin của mình, đó cũng là sự ân đãi của Đức Chúa Trời. Dù cuối cùng Đức Chúa Trời không cứu rỗi tôi, thì tôi vẫn nên phục vụ cho Ngài. Suy ngẫm lời Ngài, tôi đã lấy lại được một chút đức tin. Tôi mong mỏi đến ngày lại được đọc lời Đức Chúa Trời, được nhóm họp và làm bổn phận cùng các anh chị em. Thỉnh thoảng, các chị em đến nhà mẹ tôi để nhóm họp, tôi lại ghen tị vì họ được cùng nhau đọc lời Đức Chúa Trời. Nghĩ đến việc mình mắc nợ Đức Chúa Trời quá nhiều, tôi muốn làm chút gì đó trong khả năng cho hội thánh. Khi các chị em đến nhóm họp, tôi đứng canh gác bên ngoài, để mắt đến xung quanh. Đôi khi tôi tiết kiệm chút tiền để dâng của lễ. Đó là cách duy nhất khiến lòng tôi thấy nhẹ nhõm phần nào.
Vào mùa xuân năm 2011, một người chị em tìm đến tôi và hỏi: “Chị có sẵn lòng đi nhóm họp không?”. Khoảnh khắc đó, tôi xúc động đến mức nước mắt lưng tròng. Tôi biết đây là lòng thương xót của Đức Chúa Trời, và Ngài đang cho tôi một cơ hội nữa. Sau đó, hội thánh sắp xếp cho tôi làm công tác chăm tưới người mới. Tôi chưa từng bỏ lỡ một ngày nào, dù mưa hay nắng. Tôi chỉ muốn phục vụ một cách đàng hoàng để chuộc lại vi phạm của mình. Mỗi khi đọc những lời khích lệ, an ủi hay động viên của Đức Chúa Trời, tôi cảm thấy Ngài giống như một người mẹ hiền, thấu hiểu những yếu đuối và thương xót cho sự non nớt của chúng ta, cố gắng cứu rỗi chúng ta đến mức tối đa, và nước mắt tôi cứ thế tuôn rơi. Nhưng hễ nhớ lại mình đã trở thành Giu-đa và phản bội Đức Chúa Trời, tôi lại cảm thấy những lời đó không dành cho mình. Đức Chúa Trời sẽ không cứu rỗi một người như tôi. Tôi không đủ tư cách để nhận những lời hứa hay sự cứu rỗi của Ngài. Mỗi lần nghĩ đến điều này, tôi lại chìm trong sự chán nản và đau khổ.
Năm 2016, tôi bắt đầu làm công tác văn tự. Có lần, tôi đọc được bài chứng ngôn trải nghiệm của một người anh em. Anh ấy đã bị cảnh sát tra tấn dã man nhưng thà chết chứ không chịu làm Giu-đa. Tôi cảm thấy vô cùng hổ thẹn. Cùng bị bắt, nhưng anh ấy đã đứng vững làm chứng, còn tôi lại phản bội Đức Chúa Trời và để lại một sự vi phạm. Nếu lúc đó tôi không tiếc rẻ cho xác thịt của mình, chẳng phải tôi cũng đã có thể đứng vững làm chứng giống như anh ấy rồi sao? Chẳng phải tôi đã tránh được bao nhiêu năm bị giày vò nội tâm thế này rồi sao? Trong các buổi nhóm họp, khi nghe các chị em thông công về việc nhận biết sự bại hoại của bản thân ở một khía cạnh nào đó, tôi lại nghĩ thầm: “Họ chỉ đang bộc lộ một vài tâm tính bại hoại thôi. Mình thì khác. Mình đã bán đứng anh chị em, đã làm Giu-đa. Mình là người có vi phạm nghiêm trọng, và nó không bao giờ có thể xóa nhòa được. Đức Chúa Trời sẽ không cứu rỗi mình đâu”. Sau đó, mỗi khi nhìn thấy tài liệu về việc thanh trừ Giu-đa, tôi lại cảm thấy chán nản và đau khổ, sợ rằng một ngày nào đó mình cũng sẽ bị thanh trừ. Mùa đông năm 2022, hai người tôi từng làm việc cùng là Lưu Tĩnh và Trần Hồng đã bị bắt. Bọn họ đã bán đứng anh chị em và gia đình tiếp đãi ngay cả trước khi bị cảnh sát tra tấn. Trần Hồng thậm chí còn bán đứng cả của lễ. Sau đó, họ không hề tỏ ra hối hận chút nào và lần lượt bị thanh trừ khỏi hội thánh. Nghĩ rằng mình cũng giống như họ, cũng đã từng làm Giu-đa và có thể một ngày nào đó sẽ bị thanh trừ, tôi trở nên rất chán nản.
Mặc dù bao năm nay tôi vẫn luôn làm bổn phận, nhưng lòng tôi lúc nào cũng đau khổ và chán nản vì vi phạm của mình, không thể được giải phóng. Tôi chưa bao giờ tìm kiếm lẽ thật để giải quyết tình trạng tiêu cực của mình, cảm thấy một người như mình thì chỉ cần phục vụ cho đàng hoàng là được rồi. Tình trạng này cứ kéo dài cho đến khi tôi đọc được lời Đức Chúa Trời trong lúc tĩnh nguyện: “Ngoài ra còn có một nguyên nhân khác khiến con người chìm đắm trong cảm xúc chán nản, đó là một số việc cụ thể xảy ra với người ta trước khi họ trưởng thành hoặc sau khi họ đã là người lớn, tức là họ vi phạm gì đó hoặc làm một vài việc ngu xuẩn, ngu muội và vô tri. Vì những vi phạm, việc làm ngu xuẩn và vô tri này, mà họ chìm vào sự chán nản. Kiểu chán nản này là sự tự lên án bản thân, đồng thời cũng là một kiểu xác định mình là loại người gì. … những người đã làm những việc này thường vô tình cảm thấy bất an khi một chuyện đặc biệt nào đó xảy ra hoặc trong một số hoàn cảnh và bối cảnh nhất định. Cảm giác bất an này khiến họ vô thức rơi vào trạng thái chán nản sâu sắc, và họ bị ràng buộc và hạn chế bởi sự chán nản của mình. Bất cứ khi nào nghe một bài giảng hoặc một mối thông công về lẽ thật, sự chán nản này dần len lỏi vào tâm trí và thâm tâm họ, và họ tự tra hỏi bản thân: ‘Mình có ổn không? Mình có thể mưu cầu lẽ thật không? Mình có thể đạt được sự cứu rỗi không? Mình là loại người như thế nào? Mình đã từng làm điều đó trước đây, mình đã từng là loại người như thế. Liệu mình có vô phương cứu vãn không? Liệu Đức Chúa Trời có còn cứu mình không?’. Có người đôi khi có thể buông bỏ cảm giác chán nản và thoát khỏi chúng. Họ dùng sự chân thành và dốc hết sinh lực của mình vào việc thực hiện bổn phận, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình, thậm chí có thể dồn hết toàn bộ thể xác và tinh thần vào việc mưu cầu lẽ thật và suy ngẫm lời Đức Chúa Trời, và họ dốc nỗ lực vào lời Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, ngay khi một hoàn cảnh hoặc bối cảnh đặc biệt nào đó xuất hiện, cảm xúc chán nản lại một lần nữa chiếm thế thượng phong và lại khiến họ cảm thấy bị buộc tội trong thâm tâm. Họ tự nhủ: ‘Trước đây mi đã từng làm việc đó và mi là loại người như thế. Mi có thể đạt được sự cứu rỗi không? Thực hành lẽ thật có ích gì chứ? Đức Chúa Trời nghĩ gì về việc mi đã làm? Liệu Đức Chúa Trời có tha thứ cho những gì mi đã làm không? Liệu bây giờ trả giá theo cách này có thể bù đắp cho sự vi phạm đó không?’. Trong thâm tâm, họ thường tự trách, buộc tội bản thân, thường nghi ngờ, luôn tra hỏi bản thân. Họ không bao giờ có thể thoát khỏi hay gạt bỏ những cảm giác chán nản này, và họ không ngừng cảm thấy bất an về chuyện đáng xấu hổ mà mình đã từng làm. Vì vậy, mặc dù đã tin vào Đức Chúa Trời nhiều năm, nhưng dường như họ chưa bao giờ nghe hay hiểu bất kỳ điều gì Đức Chúa Trời phán. Cứ như thể họ không biết liệu việc đạt được sự cứu rỗi có liên quan gì đến họ hay không, liệu họ có thể được xá tội và cứu chuộc hay không, hay liệu họ có đủ tư cách để tiếp nhận sự phán xét, hình phạt và sự cứu rỗi của Ngài hay không. Họ không hề biết gì về tất cả những điều này. Bởi vì không nhận được bất kỳ câu trả lời nào, và bởi vì không nhận được bất kỳ kết luận chính xác nào, nên họ luôn cảm thấy chán nản trong lòng. Trong thâm tâm, họ nhớ đi nhớ lại những gì mình đã làm, họ tua đi tua lại trong tâm trí, nhớ lại mọi chuyện đã bắt đầu như thế nào và kết thúc ra sao, nhớ từ đầu đến cuối. Dù có nhớ thế nào đi nữa, họ vẫn luôn cảm thấy tội lỗi, và vì vậy họ luôn cảm thấy chán nản về vấn đề này suốt những năm qua. Ngay cả khi đang thực hiện bổn phận, ngay cả khi đang phụ trách một công tác nào đó, họ vẫn cảm thấy như thể không còn hy vọng được cứu rỗi” (Cách mưu cầu lẽ thật (2), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). Những gì lời Đức Chúa Trời vạch rõ cũng chính là tình trạng của tôi. Kể từ khi bị bắt, bán đứng người chị em và để lại vi phạm đó, tôi đã luôn sống trong cảm xúc chán nản. Tôi cảm thấy mình đã xúc phạm tâm tính của Đức Chúa Trời, rằng Ngài chắc chắn rất ghê tởm tôi, và dù tôi có mưu cầu thế nào đi nữa, Ngài cũng sẽ không bao giờ cứu rỗi tôi. Khi đọc những lời khích lệ và động viên của Đức Chúa Trời, tôi cảm thấy những lời đó không dành cho mình, mà là dành cho những anh chị em chưa từng để lại vi phạm. Mỗi lần nhìn thấy tài liệu về việc thanh trừ Giu-đa, lòng tôi lại thấp thỏm không yên. Tôi cảm thấy vì mình cũng đã làm Giu-đa giống như họ, nên có lẽ một ngày nào đó mình cũng sẽ bị thanh trừ. Mặc dù tôi vẫn đang làm bổn phận trong hội thánh, nhưng lòng tôi luôn khép kín với Đức Chúa Trời, tôi cũng không còn tinh thần để mưu cầu lẽ thật. Chỉ cần phục vụ cho đàng hoàng là tôi đã thấy thỏa mãn. Mặc dù tôi đã để lại vi phạm là bán đứng một người chị em, nhưng Đức Chúa Trời vẫn thương xót tôi và cho tôi cơ hội làm bổn phận. Trong những khoảnh khắc tôi đau khổ và yếu đuối nhất, Đức Chúa Trời đã dùng lời Ngài để dẫn dắt tôi thoát khỏi sự tiêu cực và giúp tôi tìm ra con đường thực hành. Đức Chúa Trời vẫn luôn cung ứng cho tôi lẽ thật và sự sống, nhưng tôi lại không biết tốt xấu. Tôi đã không mưu cầu lẽ thật cho đàng hoàng để báo đáp tình yêu của Đức Chúa Trời. Thay vào đó, tôi lại hiểu lầm và đề phòng Ngài, sống trong cảm xúc chán nản. Tôi thực sự không có chút lương tâm hay lý trí nào. Tôi mắc nợ Đức Chúa Trời quá nhiều và không xứng đáng với sự cứu rỗi của Ngài! Từ lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu ra rằng Ngài không muốn tôi sống trong cảm xúc chán nản vì vi phạm của mình. Ngài muốn tôi thoát khỏi sự kìm kẹp của nó và mưu cầu lẽ thật một cách đàng hoàng, bước lên con đường để được cứu rỗi. Sau này, tôi phải ăn uống lời Đức Chúa Trời nhiều hơn và tìm kiếm lẽ thật để giải quyết tâm tính bại hoại của mình; tôi không thể tiếp tục sống trong sự kìm kẹp của vi phạm và lùi bước trong sự tiêu cực nữa.
Sau đó, tôi tự phản tỉnh: “Tại sao mình lại sống trong sự chán nản khi cảm thấy không còn hy vọng được cứu rỗi? Tâm tính bại hoại nào đang chi phối mình?”. Tôi đã đọc lời Đức Chúa Trời: “Khi tin Đức Chúa Trời, cái mà con người mưu cầu là đạt được phúc lành cho tương lai; đây là mục đích trong đức tin của họ. Mọi người đều có ý định và hy vọng này, nhưng những thứ bại hoại trong bản tính của họ phải được giải quyết thông qua những thử luyện và tinh luyện. Phương diện nào trong người ta chưa được làm cho tinh sạch và vẫn còn sự bộc lộ bại hoại, thì người ta phải được tinh luyện ở phương diện, đây là sự an bài của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời sắp xếp hoàn cảnh cho ngươi, buộc ngươi chịu sự tinh luyện ở trong hoàn cảnh đó mà tiến đến nhận biết sự bại hoại của chính mình. Cuốic cùng, ngươi đạt tới mức có chết cũng phải từ bỏ những mưu đồ và dục vọng của mình, thuận phục sự tể trị và an bài của Đức Chúa Trời. Do đó, nếu con người không có vài năm tinh luyện, không chịu đựng một mức độ đau khổ nhất định, thì trong tư tưởng và tâm linh, họ sẽ không thể thoát khỏi sự kìm kẹp từ sự bại hoại của xác thịt. Trong phương diện nào mà người ta vẫn bị bản tính Sa-tan kìm kẹp, trong phương diện nào mà người ta vẫn còn những dục vọng và đòi hỏi của riêng mình, thì người ta nên chịu khổ trong những phương diện đó. Chỉ thông qua sự đau khổ, người ta mới có thể học được bài học, nghĩa là họ có thể đạt được lẽ thật, và hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời. Thực ra, nhiều lẽ thật được hiểu ra bằng cách trải nghiệm gian khổ và thử luyện. Không ai ở trong một môi trường thoải mái hoặc hoàn cảnh thuận lợi mà có thể hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời, nhận biết sự toàn năng và khôn ngoan của Đức Chúa Trời, hay cảm nhận được tâm tính công chính của Đức Chúa Trời. Đây là chuyện không thể!” (Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Hóa ra việc tôi luôn sống trong sự chán nản là vì dục vọng được ban phước của tôi đã bị dập tắt. Ngay từ đầu, tôi tin Đức Chúa Trời là vì muốn được ban phước. Đó là lý do tại sao tôi rất tích cực đi nhóm họp và nhiệt tình trong bổn phận. Tôi thậm chí không hề bị kìm kẹp khi người chồng không tin của tôi cản trở, chửi rủa và đánh đập. Tin Đức Chúa Trời chưa được bao lâu, tôi đã rời nhà đi làm bổn phận. Tôi đã vứt bỏ mọi thứ để được cứu rỗi, được sống sót và có được đích đến tốt đẹp mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho con người. Sau khi bị bắt và trở thành Giu-đa, tôi cho rằng Đức Chúa Trời sẽ không cứu rỗi mình nữa. Thấy hy vọng được ban phước tiêu tan, tôi luôn sống trong cảm xúc tiêu cực và không còn sẵn lòng mưu cầu lẽ thật nữa. Tôi nhận ra ý định tin Đức Chúa Trời của mình là sai lầm. Đó không phải là để mưu cầu lẽ thật, mà là để nhận được phước lành. Tôi chẳng khác gì những kẻ trong Thời đại Ân điển chỉ kiếm bánh ăn cho no bụng. Trong đức tin của mình, tất cả những gì tôi nghĩ đến là làm sao để nhận được phước lành và lợi ích từ Đức Chúa Trời. Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc làm thế nào để mưu cầu lẽ thật nhằm giải quyết vi phạm của mình, hay làm thế nào để báo đáp tình yêu và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Tôi thật vô nhân tính! Qua việc trải nghiệm sự tỏ lộ này, cuối cùng tôi đã nhận ra những mưu đồ giao dịch và sự uế tạp trong đức tin của mình. Những điều này thực sự khiến Đức Chúa Trời buồn nôn và ghê tởm!
Sau đó, tôi đọc thêm hai đoạn lời Đức Chúa Trời, hiểu được cách tiếp cận với những vi phạm, và tìm ra con đường để giải quyết chúng. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Một số người khi đã vi phạm một chút thì phỏng đoán rằng: ‘Có phải Đức Chúa Trời đã tỏ lộ tôi và đào thải tôi không? Ngài sẽ hạ gục tôi chứ?’. Đức Chúa Trời đến làm công tác lần này không phải để hạ gục con người, mà là để cứu rỗi họ nhiều nhất có thể. Không ai là không mắc lỗi – nếu mọi người đều bị hạ gục, thì đó có phải là cứu rỗi không? Một số vi phạm được thực hiện có chủ đích, trong khi một số khác thì là vô tình. Nếu ngươi có thể thay đổi sau khi nhận ra những việc mà mình làm một cách vô tình, liệu Đức Chúa Trời có hạ gục ngươi trước khi ngươi thay đổi không? Liệu Đức Chúa Trời có cứu rỗi con người theo cách đó không? Đó không phải là cách Ngài làm việc! Bất kể ngươi có tâm tính phản nghịch hay không, hoặc ngươi đã hành động không chủ ý hay không, hãy nhớ điều này: ngươi nên phản tỉnh và biết mình. Hãy mau chóng quay về, nỗ lực đạt đến lẽ thật – và, dù hoàn cảnh nào xảy ra thì cũng không thể cam chịu lạc hậu. Công tác mà Đức Chúa Trời đang làm là công tác cứu rỗi con người, và Ngài sẽ không tùy tiện hạ gục những người Ngài muốn cứu rỗi. Điều này là chắc chắn. Ngay cả khi thực sự có một người tin Đức Chúa Trời mà cuối cùng Ngài đã đánh gục, thì việc làm đó của Đức Chúa Trời vẫn sẽ được bảo đảm là công chính. Theo thời gian, Ngài sẽ cho ngươi biết lý do Ngài đánh gục người đó, để ngươi hoàn toàn bị thuyết phục. Ngay bây giờ, hãy chỉ phấn đấu cho lẽ thật, tập trung vào việc bước vào sự sống, và theo đuổi việc thực hiện tốt bổn phận của mình. Không có sai lầm trong việc này! Cho dù Đức Chúa Trời đối xử với ngươi thế nào vào sau hết thì sự đối xử đó đảm bảo cũng luôn công chính; ngươi không nên hoài nghi điều này, và ngươi không cần lo lắng. Ngay cả khi ngươi không thể hiểu sự công chính của Đức Chúa Trời vào lúc này thì sẽ đến một ngày ngươi sẽ bị thuyết phục. Đức Chúa Trời làm công tác một cách quang minh chính đại; Ngài công khai tiết lộ mọi thứ. Nếu các ngươi ngẫm nghĩ kỹ về điều này, các ngươi sẽ đi đến kết luận chân thành rằng công tác của Đức Chúa Trời là công tác cứu rỗi con người và thay đổi tâm tính bại hoại của họ” (Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). “Và làm thế nào ngươi có thể được Đức Chúa Trời xá tội và tha thứ? Điều này phụ thuộc vào tấm lòng của ngươi. Nếu ngươi thật lòng nhận tội, thực sự nhận ra sai lầm và vấn đề của mình, nhận ra việc mình đã làm – dù đó là vi phạm hay tội nghiệt, có thái độ nhận tội thực sự, có sự căm ghét thực sự đối với những gì mình đã làm, và thực sự quay đầu, sau này tuyệt đối không tái phạm nữa, thì cuối cùng sẽ có một ngày nào đó, ngươi nhận được sự xá tội và tha thứ của Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời sẽ không còn quyết định kết cục của ngươi dựa trên những điều vô tri, ngu xuẩn và bẩn thỉu mà ngươi đã từng làm trước đây nữa. Khi ngươi đạt đến mức độ này, Đức Chúa Trời sẽ không ghi nhớ chút gì về chuyện này; ngươi sẽ giống như những người bình thường khác, không có một chút khác biệt nào. Tuy nhiên, tiền đề cho việc này là ngươi phải chân thành và có thái độ thực sự ăn năn, giống như Đa-vít. Đa-vít đã rơi bao nhiêu nước mắt vì vi phạm mà ông đã phạm phải? Muôn vàn nước mắt. Ông đã khóc bao nhiêu lần? Vô số lần. Những giọt nước mắt ông rơi có thể được diễn tả bằng những lời này: ‘Hàng đêm nước mắt nhận chìm giường’. Ta không biết sự vi phạm của ngươi nghiêm trọng đến mức nào. Nếu thực sự nghiêm trọng, thì ngươi có thể phải khóc cho đến khi nhận chìm giường – có lẽ ngươi phải thú tội và ăn năn đến mức đó thì mới có thể nhận được sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Nếu không làm được như vậy, thì Ta e rằng sự vi phạm của ngươi sẽ trở thành tội lỗi trong mắt Đức Chúa Trời và ngươi sẽ không được xá tội. Khi đó ngươi sẽ gặp rắc rối và có nói thêm gì về điều này cũng vô ích. … Nếu muốn nhận được sự xá tội của Đức Chúa Trời thì trước hết ngươi phải thành tâm: một mặt ngươi phải có thái độ thành khẩn thú tội, đồng thời ngươi cũng phải dâng sự thành tâm và làm tròn bổn phận của mình, nếu không thì chẳng còn gì để nói. Nếu ngươi có thể làm được hai điều này, nếu ngươi có thể lay động Đức Chúa Trời bằng thành tâm và thành ý của mình, để Đức Chúa Trời xóa bỏ tội lỗi cho ngươi, thì ngươi cũng sẽ giống như những người khác. Đức Chúa Trời sẽ nhìn ngươi giống như cách Ngài nhìn người khác, Ngài sẽ đối xử với ngươi giống như cách Ngài đối xử với người khác, và Ngài sẽ phán xét và hành phạt, thử luyện và tinh luyện ngươi giống như cách Ngài làm với người khác – ngươi sẽ được đối xử không khác gì. Như thế, ngươi sẽ không chỉ có quyết tâm và mong muốn mưu cầu lẽ thật, mà trong quá trình ngươi mưu cầu lẽ thật, Đức Chúa Trời còn sẽ khai sáng, dẫn dắt và cung ứng cho ngươi theo cách tương tự. Tất nhiên, vì bây giờ ngươi thành tâm thật ý, có thái độ thành khẩn, nên Đức Chúa Trời sẽ đối xử với ngươi không khác bất kỳ ai khác và ngươi sẽ có cơ hội đạt được sự cứu rỗi như những người khác. Các ngươi hiểu được không? (Thưa, hiểu.)” (Cách mưu cầu lẽ thật (2), Lời, Quyển 6 – Về việc mưu cầu lẽ thật). Từ lời Đức Chúa Trời, tôi thấy rằng Ngài hành động theo các nguyên tắc. Ngài không kết án con người vĩnh viễn chỉ vì một vi phạm duy nhất mà không cho họ cơ hội ăn năn. Đức Chúa Trời xem xét liệu chúng ta có thể thực sự ăn năn sau vi phạm và không bao giờ tái phạm nữa hay không. Tôi nghĩ đến Đa-vít, người đã dùng quyền lực của mình để chiếm đoạt vợ của U-ri. Khi nhận ra mình đã phạm tội và chuốc lấy sự ghê tởm của Đức Chúa Trời, ông đã chân thành ăn năn với Đức Chúa Trời và không bao giờ phạm lại tội lỗi đó nữa. Khi về già, ông thậm chí không hề động đến cô gái trẻ được đưa đến để sưởi ấm giường cho mình. Sự ăn năn của ông không chỉ ở lời nói; ông đã chứng minh điều đó bằng những hành động thực tế, và vì thế ông đã nhận được lòng thương xót và sự khoan thứ của Đức Chúa Trời. Rồi tôi nghĩ đến Lưu Tĩnh và Trần Hồng, những kẻ đã làm Giu-đa ngay cả khi chưa bị tra tấn. Trần Hồng thậm chí còn khai ra nơi cất giấu hơn một triệu nhân dân tệ tiền của lễ. Sau đó, cả hai người họ không hề tỏ ra hối hận chút nào. Việc thanh trừ họ khỏi hội thánh đã tỏ lộ hoàn toàn sự công chính của Đức Chúa Trời. Hội thánh đã chấp nhận tôi quay lại vì tôi đã bán đứng người chị em của mình trong một phút yếu đuối, không thể chịu đựng nổi sự tra tấn. Sau đó, tôi vô cùng hối hận và tự trách bản thân, còn làm bổn phận hết khả năng của mình, nên nhà Đức Chúa Trời đã cho tôi thêm một cơ hội nữa. Tâm tính của Đức Chúa Trời là công chính và tốt lành, và Ngài đối đãi với mọi người theo các nguyên tắc. Nhất là khi đọc được những lời này của Đức Chúa Trời: “Không ai là không mắc lỗi – nếu mọi người đều bị hạ gục, thì đó có phải là cứu rỗi không?” (Phần 3, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Tôi cảm thấy Đức Chúa Trời giống như một người mẹ hiền, dùng lời Ngài để dạy dỗ một đứa trẻ mắc lỗi, nhắc nhở và khích lệ chúng đừng từ bỏ chính mình. Giữa những dòng chữ trong lời Đức Chúa Trời, tôi cảm nhận được sự lao tâm khổ tứ của Ngài, cùng sự khoan dung và lòng thương xót của Ngài dành cho con người. Tôi biết mình phải thực sự ăn năn. Tôi không thể để vi phạm của mình trói buộc nữa, tự kết án và từ bỏ bản thân vì nó. Tôi phải dồn hết tâm huyết vào bổn phận, tìm kiếm lẽ thật nhiều hơn khi có chuyện xảy đến, tập trung vào việc hành động theo các nguyên tắc, và dùng những hành động thực tế để chuộc lại vi phạm của mình.
Sau đó, tôi phản tỉnh và nhận ra rằng nguyên nhân gốc rễ của sự thất bại của mình là do tôi tham sống sợ chết. Vậy làm thế nào tôi có thể giải quyết vấn đề này? Một ngày nọ, tôi đọc một đoạn lời Đức Chúa Trời và đã hiểu được cách đối mặt với cái chết. Đức Chúa Trời Toàn Năng phán: “Các môn đồ đó của Đức Chúa Jêsus đã chết như thế nào? Trong số các môn đồ, có những người bị ném đá, bị kéo lê phía sau một con ngựa, bị đóng đinh lộn ngược xuống, bị ngũ mã phanh thây – mọi kiểu chết chóc đã xảy đến với họ. Lý do cho cái chết của họ là gì? Họ đã bị xử tử đúng luật vì tội lỗi của họ phải không? Không. Họ loan truyền phúc âm của Chúa, nhưng người đời không tiếp nhận, ngược lại còn lên án, đánh chửi, còn đẩy họ vào chỗ chết – đó là cách mà họ tử vì đạo. Chúng ta không nhắc đến kết cục cuối cùng của những người tử vì đạo đó, hay việc Đức Chúa Trời quy định hành vi của họ như thế nào, mà hãy nói xem khi họ đi đến cuối cùng, thì cách họ kết thúc sự sống có hợp với quan niệm của con người không? (Thưa, không.) Từ góc độ quan niệm của con người, nếu họ trả cái giá đắt như thế để rao truyền công tác của Đức Chúa Trời, thế mà họ lại bị Sa-tan giết chết. Điều này không phù hợp với các quan niệm của con người, nhưng chính xác là chuyện xảy ra với họ – Đây là chuyện Đức Chúa Trời cho phép xảy ra. Lẽ thật nào có thể tìm thấy trong chuyện này? Có phải việc Đức Chúa Trời cho phép họ chết theo cách này chính là sự nguyền rủa và lên án của Ngài, hay đó là kế hoạch và phúc lành của Ngài không? Cả hai đều không phải. Đó là gì? Mọi người giờ đây thật đau lòng khi suy ngẫm về cái chết của họ, nhưng mọi việc đã diễn ra như thế: Những người tin vào Đức Chúa Trời đã chết theo cách đó, có thể giải thích điều này như thế nào? Khi chúng ta nhắc đến chủ đề này, các ngươi hãy đặt mình vào vị trí của họ; lòng của các ngươi khi đó có buồn không, và các ngươi có cảm nhận một nỗi đau âm ỉ không? Các ngươi nghĩ rằng: ‘Những người này đã thực hiện bổn phận rao truyền phúc âm của Đức Chúa Trời và nên được coi là người tốt, vậy tại sao họ có thể đi đến một hồi kết như thế, một kết cục như thế?’. Thật ra, đây là cách thể xác của họ đã chết và qua đời; đây là cách thức họ rời khỏi thế giới loài người, nhưng điều đó không có nghĩa kết cục của họ là như vậy. Bất kể những cách thức họ chết và ra đi như thế nào đi nữa, hay nó đã xảy ra làm sao, thì cũng không phải là cách Đức Chúa Trời quy định kết cục cuối cùng cho những sinh mệnh, cho những loài thọ tạo đó. Đây là một điều ngươi phải thấy rõ. Trái lại, họ đã sử dụng một cách chính xác những cách thức đó để lên án thế gian này và làm chứng cho những việc làm của Đức Chúa Trời. Những loài thọ tạo này đã sử dụng mạng sống quý giá nhất của họ – họ đã sử dụng khoảnh khắc cuối cùng của sự sống để làm chứng cho những việc làm của Đức Chúa Trời, để làm chứng cho quyền năng vĩ đại của Đức Chúa Trời và tuyên bố cho Sa-tan và thế gian rằng những việc làm của Đức Chúa Trời là đúng, rằng Đức Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời, rằng Ngài là Chúa và là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời. Thậm chí đến giây phút cuối cùng của sự sống họ, họ không bao giờ chối bỏ danh của Đức Chúa Jêsus. Đây chẳng phải là một hình thức tuyên án thế gian này hay sao? Họ đã dùng mạng sống của mình để tuyên bố với thế gian, để xác nhận với loài người rằng Đức Chúa Jêsus là Chúa, rằng Đức Chúa Jêsus là Đấng Christ, rằng Ngài là xác thịt nhập thể của Đức Chúa Trời, rằng công tác cứu chuộc toàn nhân loại mà Ngài làm khiến cho nhân loại này được tiếp tục sống sót – sự thật này đời đời không bao giờ thay đổi. Những người đã tử vì đạo vì rao truyền phúc âm của Đức Chúa Jêsus, họ đã thực hiện bổn phận của mình đến mức độ nào? Đã đến mức tối đa chưa? Mức tối đa được biểu lộ như thế nào? (Họ đã dâng mạng sống của mình.) Đúng vậy, họ đã trả giá bằng mạng sống của mình. … Dù con người có chết như thế nào, họ cũng không nên chết trước Sa-tan và không nên chết trong tay Sa-tan. Nếu một người sắp chết, họ nên chết trong tay Đức Chúa Trời. Con người đến từ Đức Chúa Trời, và họ trở về với Đức Chúa Trời – đó là lý trí và thái độ mà một loài thọ tạo nên có” (Rao truyền phúc âm là bổn phận không thể thoái thác của tất cả những người tin Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Các môn đồ đi theo Đức Chúa Jêsus đã bị thế gian lên án và bách hại vì loan truyền phúc âm của Ngài, và thậm chí còn tử vì đạo. Mặc dù xác thịt họ đã chết, nhưng họ đã mang lời chứng mạnh mẽ và vang dội trước Sa-tan. Những gì họ làm đã được Đức Chúa Trời khen ngợi, và linh hồn họ đã trở về với Ngài. Tôi đã không nhìn thấu được chuyện này. Tôi sợ bị tra tấn đến chết, nên để bảo toàn cho bản thân, tôi đã bán đứng người chị em của mình và phản bội Đức Chúa Trời. Xác thịt tôi tránh được nỗi đau khổ, nhưng sự cắn rứt của lương tâm và sự giày vò trong tâm linh giống như một cái gai đâm vào tim tôi. Tôi cảm thấy sống không bằng chết! Nỗi đau thuộc linh này là điều mà không một thứ vật chất nào có thể bù đắp được. Nhận ra gốc rễ của sự thất bại, tôi sẵn lòng trang bị cho mình nhiều lẽ thật hơn về phương diện này. Tôi cũng âm thầm hạ quyết tâm rằng sau này nếu bị bắt lại, tôi sẽ không bán đứng anh chị em hay lợi ích của nhà Đức Chúa Trời, ngay cả khi bị đánh đến chết. Tôi sẽ đứng vững làm chứng bằng cách cậy dựa vào lời Đức Chúa Trời!
Bao năm qua, tôi đã sống trong cảm xúc chán nản, không sao được giải phóng. Chính lời Đức Chúa Trời đã cởi bỏ nút thắt trong lòng tôi, cho phép tôi buông bỏ những hiểu lầm và đối mặt với vi phạm của mình một cách đúng đắn, mang lại cho tâm linh tôi sự giải phóng và tự do. Tôi thầm cầu nguyện trong lòng: “Lạy Đức Chúa Trời, con không muốn phản nghịch Ngài nữa. Bất luận sau này có kết cục và đích đến tốt đẹp hay không, con cũng không muốn làm bổn phận chỉ để được ban phước nữa. Con nguyện đứng ở vị trí của một loài thọ tạo và làm bổn phận của mình một cách đàng hoàng. Bất kể sau này Ngài đối đãi với con ra sao, và ngay cả khi Ngài trừng phạt và rủa sả con, đó cũng là sự công chính của Ngài”. Sau khi cầu nguyện, lòng tôi cảm thấy vô cùng vững vàng. Qua trải nghiệm này, tôi thực sự thể nghiệm và lĩnh hội được rằng dù lời hành phạt và phán xét của Đức Chúa Trời có nghiêm khắc đến đâu, và dù đó là những lời rủa sả hay định tội, tâm ý của Đức Chúa Trời luôn là để cứu rỗi con người!
Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?
Bởi Trình Nặc, Trung Quốc Một ngày tháng Mười một năm 2020, một lãnh đạo dự buổi họp của nhóm chúng tôi và sau khi kết thúc buổi họp, anh...
Bởi Lý Tấn, Trung Quốc Năm 2014, khi làm lãnh đạo một hội thánh nọ, tôi làm việc có chút hiệu quả trong bổn phận và có được ít kinh nghiệm,...
Bởi Marissa, Hà LanNăm 2017, tôi được bầu làm lãnh đạo hội thánh. Ban đầu, tôi vẫn đạt được một chút hiệu quả khi làm bổn phận, nhưng sau...
Bởi Christina, Hoa Kỳ Tháng 1 năm 2022, tôi được chọn làm lãnh đạo hội thánh, chủ yếu phụ trách công tác sản xuất video. Lúc đó tôi cảm...