Tin Đức Chúa Trời chỉ để được ân điển và phước lành, như vậy có đúng không?
Bởi Trương Ngọc, Trung QuốcTháng 7 năm 2008, dì tôi đã rao giảng phúc âm thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời cho tôi. Qua việc đọc lời của...
Hoan nghênh tất cả những người tìm kiếm sự xuất hiện của Đức Chúa Trời!
Vào tháng 8 năm 2001, một người chị em đã làm chứng với tôi rằng Đức Chúa Trời đã nhập thể lần thứ hai để thực hiện công tác phán xét, làm tinh sạch và biến đổi tâm tính bại hoại của con người, và cuối cùng đưa con người vào vương quốc tốt đẹp. Nghe xong, tôi vô cùng phấn khích. Sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng trong thời kỳ sau rốt. Kể từ đó, tôi tích cực tham gia nhóm họp và thực hiện bổn phận. Sau này, tôi được bầu làm lãnh đạo hội thánh. Thời gian đó, chồng tôi thường ngăn cản tôi tin Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận, nhưng tôi chưa bao giờ vì thế mà trì hoãn bổn phận. Cả ngày tôi ngược xuôi bận rộn trong hội thánh. Ban ngày, tôi đến từng nhóm, thông công với các anh chị em để giải quyết những khó khăn trong lối vào sự sống của họ. Buổi tối, tôi hỗ trợ và giúp đỡ những anh chị em tiêu cực và yếu đuối. Trước đây chồng tôi không kiếm được nhiều tiền, nhưng thời gian đó anh ấy có thu nhập khá tốt và chẳng bao lâu gia đình chúng tôi đã tích góp được một khoản tiết kiệm. Tôi vui mừng khôn xiết. Tôi thầm nghĩ: “Hiện tại mình thực hiện bổn phận có được ân điển và phước lành của Đức Chúa Trời, sau này còn có thể vào vương quốc. Về sau mình phải thực hiện bổn phận cho tốt, Đức Chúa Trời sẽ không đối xử tệ với mình đâu; Ngài sẽ ban phước cho cuộc sống gia đình mình ngày càng tốt đẹp hơn”. Tuy nhiên, ngay khi tôi đang lên kế hoạch thì một chuyện không ngờ đã xảy ra.
Sau một thời gian, chồng tôi cứ phàn nàn bị đau thắt lưng, nên anh ấy đã đi chụp X-quang. Bác sĩ nói: “Anh ấy bị thoát vị đĩa đệm và gai cột sống. Nếu bệnh trở nặng, nó sẽ chèn ép dây thần kinh và gây tê liệt. Từ nay anh ấy không nên làm việc nữa và cần được điều trị gấp”. Nghe vậy, tôi vô cùng kinh ngạc. Tôi thầm nghĩ: “Nhà mới xây còn nợ rất nhiều tiền, cửa ra vào và cửa sổ vẫn chưa lắp đặt. Con gái đang học đại học cũng cần tiền. Mình là lãnh đạo hội thánh nên rất bận rộn, không có thời gian kiếm tiền. Chỉ có đứa con trai 14 tuổi đang học nghề trang trí nội thất, nhưng nó còn nhỏ và vẫn đang học việc, mỗi tháng kiếm được rất ít tiền. Tương lai cả nhà phải trang trải sinh hoạt phí như thế nào đây?”. Trong lòng tôi có chút lo lắng. Tuy nhiên, khi nghĩ đến việc mình cả ngày bận rộn thực hiện bổn phận trong hội thánh, tôi nghĩ Đức Chúa Trời sẽ không phớt lờ khó khăn của gia đình mình, và bệnh của chồng tôi có thể sẽ khỏi sau một thời gian tịnh dưỡng. Nghĩ đến đây, nỗi lo trong lòng tôi vơi đi rất nhiều.
Chẳng mấy chốc đã hơn một năm trôi qua. Chồng tôi liên tục dùng cao dán để điều trị, nhưng bệnh tình của anh ấy vẫn không thuyên giảm, bác sĩ cũng không có phương pháp điều trị nào tốt hơn. Trong lòng tôi rất lo lắng. Tôi không khỏi nghĩ thầm: “Khi nào bệnh của chồng mình mới thuyên giảm đây? Nếu mình không quá bận rộn với bổn phận, mình có thể kiếm chút tiền để phụ giúp gia đình. Nhưng mình bận rộn công việc hội thánh cả ngày và không có thời gian kiếm tiền. Tại sao Đức Chúa Trời không bảo vệ gia đình mình? Tại sao bệnh của chồng mình không khá hơn? Với bao nhiêu khó khăn đang bày ra trước mắt, làm sao mình có thể toàn tâm toàn ý cho bổn phận được chứ?”. Càng nghĩ, tôi càng cảm thấy phiền muộn. Lòng tôi như dầu sôi lửa bỏng. Đôi khi, tôi thực sự không chịu nổi nữa và lén khóc một mình. Tôi biết mình không nên oán trách Đức Chúa Trời, nhưng tôi không thể kiểm soát được cảm xúc và cứ sống trong đau đớn, dằn vặt suốt cả ngày. Thấy chồng của người chị em cộng sự kiếm tiền rất giỏi, chị ấy sống cuộc sống sung túc và không bị tiền bạc kìm kẹp, trong lòng tôi cảm thấy chênh vênh. Tôi nghĩ: “Mình còn tích cực thực hiện bổn phận hơn cả chị ấy, tại sao gia đình mình lại ra nông nỗi này? Tại sao Đức Chúa Trời ban ân điển cho họ mà không ban cho mình? Có phải Đức Chúa Trời không thích mình không? Mình trả giá và dâng mình như thế này mà Đức Chúa Trời cũng không ban phước cho gia đình mình, vậy tại sao mình phải tích cực như vậy chứ?”. Tuy nhiên, lúc đó tôi lại nghĩ: “Có phải Đức Chúa Trời đang kiểm tra mình không? Nếu mình cứ tích cực thực hiện bổn phận, biết đâu Đức Chúa Trời thấy được lòng trung thành của mình rồi sẽ ban phước cho gia đình mình. Còn nếu mình làm bổn phận cho có lệ, lỡ sau này Ngài phớt lờ mình thì biết làm sao?”. Thế là, tôi tự nhủ mình không thể qua loa chiếu lệ được, phải thực hiện bổn phận cho đàng hoàng. Vậy nên, tôi vẫn tiếp tục bận rộn suốt cả ngày để làm bổn phận. Thế nhưng, một thời gian sau, bệnh tình của chồng tôi vẫn không có gì cải thiện, mà khó khăn trong nhà cũng chẳng được giải quyết. Lòng tôi càng thêm hoang mang, đau khổ, cảm thấy thật sự không còn lối thoát, ruột gan đắng như mật. Trong một buổi nhóm họp, tôi đã kể về những khó khăn của gia đình. Với vẻ mặt sầu não, tôi than phiền: “Nhìn mọi người ai cũng như đang ở trên thiên đàng, còn tôi thì cứ như đang bị hành hạ dưới địa ngục vậy”. Người chị em đã nghiêm khắc tỉa sửa tôi: “Chẳng phải chị đang oán trách Đức Chúa Trời không công chính sao?”. Lời của chị ấy khiến tôi giật mình. Chẳng phải mình lại đang oán trách Đức Chúa Trời sao? Tôi nhớ đến lời của Ngài: “Mỗi lời than oán của ngươi sẽ để lại một vết nhơ và đó là tội lỗi không thể gột rửa được!” (Khi tin Đức Chúa Trời, điều quan trọng nhất là đạt được lẽ thật, Lời, Quyển 3 – Những cuộc trò chuyện bởi Đấng Christ của thời kỳ sau rốt). Nhận ra sự nghiêm trọng của vấn đề, tôi vội cúi đầu im bặt. Về đến nhà, tôi quỳ trước Đức Chúa Trời và nức nở cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa Trời, con biết mình không nên than phiền khi gia đình gặp khó khăn, nhưng con không biết tâm ý của Ngài là gì, cũng không biết phải trải nghiệm thế nào. Lạy Đức Chúa Trời, xin Ngài khai sáng và dẫn dắt để con có thể biết công tác của Ngài và hiểu được tâm ý Ngài”.
Một hôm, tôi nghe được một bài thánh ca lời Đức Chúa Trời có tựa đề “Mục đích công tác tinh luyện của Đức Chúa Trời”:
1 Đối với tất cả mọi người, sự tinh luyện rất đau đớn và rất khó tiếp nhận – tuy nhiên, chính trong quá trình tinh luyện mà Đức Chúa Trời mới tỏ lộ tâm tính công chính của Ngài với con người, Ngài công khai các yêu cầu của Ngài đối với con người, hơn nữa ban cho họ nhiều sự khai sáng hơn cùng nhiều sự tỉa sửa thực tế hơn. Thông qua việc so sánh giữa thực tế và lẽ thật, con người đạt được sự hiểu biết lớn lao hơn về chính bản thân và lẽ thật, cùng sự thông hiểu lớn lao hơn về tâm ý của Đức Chúa Trời, từ đó cho phép con người có một tình yêu thật hơn và thuần khiết hơn đối với Đức Chúa Trời. Đây là những mục đích của Đức Chúa Trời trong việc thực hiện công tác tinh luyện.
2 Tất cả những công tác Đức Chúa Trời làm trong con người đều có mục đích và ý nghĩa riêng; Đức Chúa Trời không làm công việc vô nghĩa, Ngài cũng không làm công việc nào không mang lại lợi ích cho con người. Sự tinh luyện không có nghĩa là loại bỏ con người ra khuất mắt Ngài, và cũng không có nghĩa là hủy diệt họ nơi địa ngục. Thay vào đó, nó có nghĩa là làm thay đổi tâm tính của con người trong quá trình tinh luyện, thay đổi những ý định, quan điểm cũ của con người, thay đổi tình yêu của con người dành cho Đức Chúa Trời và thay đổi toàn bộ cuộc sống con người. Tinh luyện là sự thử thách thực tế của con người, là một hình thức rèn tập thực tế và chỉ trong quá trình tinh luyện thì tình yêu của con người mới có thể phát huy chức năng vốn có của nó.
– Chỉ bằng cách trải qua sự tinh luyện con người mới có thể sở hữu tình yêu thật sự, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời
Nghe bài thánh ca này, lòng tôi chợt bừng sáng, tôi đã nghe đi nghe lại nhiều lần. Đặc biệt, Đức Chúa Trời phán: “Đức Chúa Trời không làm công việc vô nghĩa, Ngài cũng không làm công việc nào không mang lại lợi ích cho con người. Sự tinh luyện không có nghĩa là loại bỏ con người ra khuất mắt Ngài, và cũng không có nghĩa là hủy diệt họ nơi địa ngục. Thay vào đó, nó có nghĩa là làm thay đổi tâm tính của con người trong quá trình tinh luyện, thay đổi những ý định, quan điểm cũ của con người, thay đổi tình yêu của con người dành cho Đức Chúa Trời và thay đổi toàn bộ cuộc sống con người” (Chỉ bằng cách trải qua sự tinh luyện con người mới có thể sở hữu tình yêu thật sự, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Khi suy ngẫm lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu ra rằng, bất kể Đức Chúa Trời sắp đặt cho con người hoàn cảnh không như ý nào, mục đích của Ngài không phải là để đào thải con người, mà là để làm tinh sạch và biến đổi tâm tính bại hoại của con người, và giúp con người hiểu được tâm tính cùng công tác của Ngài. Khi con người biết Đức Chúa Trời rồi thì có thể thuận phục công tác của Ngài. Lúc đó tôi mới nhận ra, đằng sau việc bệnh của chồng tôi mãi không khỏi suốt thời gian dài là có tâm ý của Đức Chúa Trời, Ngài muốn tôi tìm kiếm lẽ thật và rút ra bài học trong hoàn cảnh đó, để tâm tính bại hoại của tôi có thể được làm tinh sạch và biến đổi. Tôi nghĩ lại lúc mình mới tiếp nhận công tác mới của Đức Chúa Trời. Tôi biết rằng trong thời kỳ sau rốt, Đức Chúa Trời thực hiện công tác phán xét và làm tinh sạch, nhưng tôi vẫn mưu cầu nhận được ân điển và phước lành như trong Thời đại Ân điển, chỉ mong Đức Chúa Trời chữa lành bệnh cho chồng. Khi bệnh tình của anh ấy mãi không cải thiện, tôi đã oán trách Đức Chúa Trời và sống trong tiêu cực, hiểu lầm. Tất cả những đau khổ này đều là do tôi tự chuốc lấy, đều do tôi thiếu hiểu biết về công tác của Đức Chúa Trời, và vì tôi đã đi sai đường trong đức tin của mình. Khi hiểu ra điều này, nỗi đau trong lòng tôi đã vơi đi rất nhiều.
Sau đó, tôi nghĩ đến việc Đức Chúa Trời vạch rõ cách con người đối xử với Ngài như một cái hộp đa năng, một cái chậu châu báu, nên tôi đã tìm lời của Đức Chúa Trời để đọc. Đức Chúa Trời phán: “Bởi vì con người ngày nay không sở hữu cùng một nhân tính như Gióp, thực chất bản tính của họ, và thái độ của họ đối với Đức Chúa Trời là gì? Họ có kính sợ Đức Chúa Trời không? Họ có lánh khỏi điều ác không? Những ai không kính sợ Đức Chúa Trời hay lánh khỏi điều ác chỉ có thể được tóm tắt bằng những từ này: ‘kẻ thù của Đức Chúa Trời’. Các ngươi thường nói những từ này, nhưng các ngươi chưa bao giờ biết ý nghĩa thật của chúng. Những từ ‘kẻ thù của Đức Chúa Trời’ có thực chất như sau: Chúng không nói rằng Đức Chúa Trời xem con người là kẻ thù, mà rằng con người xem Đức Chúa Trời như kẻ thù. Trước tiên, khi con người bắt đầu tin vào Đức Chúa Trời, ai trong số họ không có mục đích, động cơ, và tham vọng riêng? Mặc dù một phần trong họ tin vào sự hiện hữu của Đức Chúa Trời và đã nhìn thấy sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, nhưng đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời vẫn chứa đựng những động cơ đó, và mục tiêu sau cùng của họ trong việc tin vào Đức Chúa Trời là nhận những phúc lành của Ngài và những điều họ muốn. Trong những trải nghiệm sự sống của con người, họ thường tự hỏi rằng: ‘Tôi đã từ bỏ gia đình và sự nghiệp vì Đức Chúa Trời, và Ngài đã cho tôi được gì? Tôi phải tổng lại, và xác nhận rằng – tôi đã nhận được bất kỳ phúc lành nào gần đây chưa? Tôi đã dâng mình rất nhiều trong thời gian này, tôi đã bôn ba và chịu khổ rất nhiều – đổi lại Đức Chúa Trời đã cho tôi bất kỳ lời hứa nào chưa? Ngài có nhớ những việc lành của tôi chưa? Kết cục của tôi sẽ là gì? Tôi có thể nhận những phúc lành của Đức Chúa Trời không? …’. Mỗi người đều liên tục thực hiện những sự tính toán như thế trong lòng họ, và họ đưa ra những yêu cầu đối với Đức Chúa Trời, những yêu cầu mang động cơ, tham vọng, và tâm lý đổi chác của họ. Nói vậy nghĩa là, trong lòng mình, con người liên tục thử thách Đức Chúa Trời, liên tục tính kế Đức Chúa Trời, liên tục tranh luận về kết cục cá nhân của riêng mình với Đức Chúa Trời, và cố gắng moi ra một câu tuyên bố từ Đức Chúa Trời, và xem liệu Đức Chúa Trời có thể ban cho họ điều họ muốn hay không. Cùng với việc mưu cầu Đức Chúa Trời, con người không đối đãi với Đức Chúa Trời như một Đức Chúa Trời. Con người luôn cố gắng giao dịch với Đức Chúa Trời, không ngừng đòi hỏi ở Ngài, và thậm chí thúc ép Ngài trong mọi bước, được đằng chân lân đằng đầu. Cùng với việc cố gắng giao dịch với Đức Chúa Trời, con người cũng tranh luận với Ngài, và thậm chí có những người mà khi những thử luyện xảy đến với họ hay họ thấy mình trong những tình huống nhất định, thường trở nên yếu đuối, tiêu cực, bê trễ trong công việc, và đầy than oán về Đức Chúa Trời. Từ khi con người mới bắt đầu tin Đức Chúa Trời, họ đã xem Đức Chúa Trời là một nguồn cung dồi dào, là một con dao gấp đa năng, và họ coi chính mình là chủ nợ lớn nhất của Đức Chúa Trời, như thể việc cố gắng lấy được những phúc lành và lời hứa từ Đức Chúa Trời là quyền lợi và nghĩa vụ vốn có của họ, trong khi việc bảo vệ, chăm sóc cho con người và chu cấp cho họ lại là trách nhiệm mà Đức Chúa Trời nên làm. Đó là sự lĩnh hội cơ bản về ‘đức tin nơi Đức Chúa Trời’ của tất cả những ai tin Đức Chúa Trời, và đó là sự hiểu biết sâu sắc nhất của họ về khái niệm đức tin nơi Đức Chúa Trời” (Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời II, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). “Ngươi mong rằng đức tin vào Đức Chúa Trời sẽ không hề có khó khăn gì, không hề có hoạn nạn gì, không hề có thống khổ gì. Ngươi luôn mưu cầu những thứ vô giá trị và ngươi không coi trọng sự sống, thay vào đó đặt những suy nghĩ ngông cuồng của mình lên trước lẽ thật. Ngươi thật vô giá trị! Ngươi sống như một con lợn – có gì khác giữa ngươi với lợn và chó chứ? Chẳng phải những kẻ yêu xác thịt thay vì mưu cầu lẽ thật đều là súc vật sao? Chẳng phải những người chết không có linh hồn đều là những thây ma biết đi sao? Nơi các ngươi, Ta đã phán bao nhiêu lời rồi? Công tác mà Ta đã thực hiện nơi các ngươi còn ít sao? Ta đã cung cấp trong các ngươi bao nhiêu rồi? Vậy sao ngươi vẫn chưa có được điều đó? Ngươi có gì để oán trách nữa? Chẳng phải là ngươi không có được gì bởi lẽ ngươi quá yêu xác thịt sao? Và chẳng phải vì suy nghĩ của ngươi quá ngông cuồng sao? Chẳng phải vì ngươi quá ngu ngốc sao?” (Các kinh nghiệm của Phi-e-rơ: Hiểu biết của ông về hình phạt và sự phán xét, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Khi đọc những lời vạch trần của Đức Chúa Trời, tôi cảm thấy như bị đâm vào tim. Tôi nhận ra rằng trong đức tin và việc thực hiện bổn phận của mình, tôi hoàn toàn không hề chân thành đi theo Đức Chúa Trời. Tôi đã nghĩ rằng tin vào Đức Chúa Trời thì không chỉ được hưởng ân điển và phước lành của Ngài, mà Ngài còn hứa rằng người ta có thể được cứu rỗi và vào vương quốc. Vì vậy, tôi tin rằng chỉ cần mình thực hiện tốt bổn phận, Đức Chúa Trời sẽ không bạc đãi mình, mà sẽ ban cho mình những phước lành và ân điển dồi dào, bảo vệ mình khỏi tai họa và hoạn nạn, và giữ cho gia đình mình an toàn, bình yên. Tôi đã thực hiện bổn phận của mình với những ý định sai trái này. Ban đầu, khi chồng tôi bị thoát vị đĩa đệm và bác sĩ nói rằng nếu bệnh trở nặng, anh ấy sẽ bị liệt, tôi cho rằng chỉ cần mình tích cực thực hiện bổn phận, Đức Chúa Trời sẽ không bạc đãi mình và chẳng bao lâu nữa bệnh của chồng tôi sẽ được chữa khỏi. Vì vậy, lòng nhiệt tình thực hiện bổn phận của tôi vẫn không hề suy giảm. Tuy nhiên, khi bệnh của chồng mãi không khá hơn và gia đình bắt đầu đối mặt với khó khăn tài chính, trong khi các anh chị em xung quanh lại có cuộc sống sung túc và thoải mái, tôi cảm thấy mất thăng bằng và oán trách rằng Đức Chúa Trời không ban phước cho mình, và tôi không còn tích cực thực hiện bổn phận như trước nữa. Tuy nhiên, sau đó tôi lại lo rằng Đức Chúa Trời đang kiểm tra lòng trung thành của mình, sợ rằng nếu mình qua loa chiếu lệ trong công tác thì sẽ không nhận được ân điển và phước lành của Đức Chúa Trời, nên đành phải tiếp tục thực hiện bổn phận. Một thời gian sau, bệnh tình của chồng tôi vẫn không hề cải thiện, và những khó khăn trong cuộc sống của tôi cũng chẳng được giải quyết. Trong lòng, tôi càng oán trách Đức Chúa Trời nhiều hơn, thậm chí còn trút hết sự bất mãn của mình với Ngài trước mặt các chị em, phàn nàn rằng Ngài đã không công chính với tôi. Bộ mặt xấu xí của việc tôi cố gắng giao dịch với Đức Chúa Trời đã bị phơi bày hoàn toàn, và tôi đã bị tỏ lộ triệt để! Trong những năm chồng tôi bị bệnh, tôi đã không tìm kiếm lẽ thật hay rút ra bài học. Thay vào đó, tôi liên tục sống trong tiêu cực, oán trách và hiểu lầm Đức Chúa Trời. Dù vẫn đang thực hiện bổn phận, nhưng tôi chỉ đang cố gắng giao dịch với Đức Chúa Trời để đổi lấy phước lành của Ngài, coi Ngài như một cái hộp đa năng, một cái chậu châu báu. Trước đây, tôi từng nghĩ mình khá tích cực trong việc thực hiện bổn phận. Bất kể chồng tôi bảo tôi đi kiếm tiền hay khi anh ấy bị bệnh, tôi cũng chưa bao giờ xao lãng bổn phận, và công tác của tôi cũng đạt được một số kết quả. Vì vậy, tôi tự dán cho mình cái mác là một người trung thành với Đức Chúa Trời và thật lòng tin Ngài. Tôi hoàn toàn không hề tự biết mình! Những người trung thành với Đức Chúa Trời là những người hết lòng hết dạ làm tốt bổn phận của mình, và không hề than phiền dù Đức Chúa Trời có ban phước cho họ hay không. Lấy Gióp làm ví dụ. Dù Đức Chúa Trời ban cho hay lấy đi, Gióp vẫn có thể thuận phục Đức Chúa Trời và luôn ca ngợi danh Ngài. Dù Đức Chúa Trời đối xử với ông thế nào, Gióp cũng không có đòi hỏi gì của riêng mình. Đây mới thực sự là một người trung thành với Đức Chúa Trời. Còn tôi, tôi tin vào Đức Chúa Trời và thực hiện bổn phận chỉ để nhận được lợi ích từ Ngài. Tôi hoàn toàn không có lòng trung thành hay sự chân thành nào, chỉ là một kẻ cơ hội đạo đức giả. Đức tin và việc đi theo Đức Chúa Trời của tôi là giả dối, chỉ có đòi hỏi ân điển và phước lành mới là thật. Tôi coi trọng những thứ vật chất này hơn tất cả, và liên tục đòi hỏi ân điển và phước lành từ Đức Chúa Trời. Tôi hoàn toàn không phải là một người thật lòng tin Đức Chúa Trời, và thực sự đang khiến Ngài ghê tởm và chán ghét. Nếu Đức Chúa Trời không tỏ lộ tôi theo cách này, tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy rõ con người thật của mình.
Tiếp theo, tôi đọc thêm lời của Đức Chúa Trời: “Trong nhiều năm, những suy nghĩ mà con người dựa vào vì sự sống còn của họ đang ăn mòn tâm hồn họ đến mức họ đã trở nên gian dối, hèn nhát và đáng khinh. Họ không những thiếu ý chí và quyết tâm, mà còn trở nên tham lam, kiêu ngạo và ngoan cố. Họ hoàn toàn không có bất kỳ quyết tâm nào để vượt qua bản ngã, và hơn thế nữa, họ không có một chút can đảm nào để rũ bỏ sự ràng buộc của những thế lực tối tăm. Những tư tưởng và đời sống của con người mục nát đến nỗi những quan điểm của họ về việc tin vào Đức Chúa Trời vẫn còn đáng ghê tởm không thể chịu được, và ngay cả khi con người nói đến quan điểm của họ về niềm tin nơi Đức Chúa Trời thì hoàn toàn không thể nghe được. Hết thảy mọi người đều hèn nhát, bất tài, ti tiện và yếu đuối. Họ không cảm thấy kinh tởm các thế lực của bóng tối, và họ không cảm thấy yêu sự sáng và lẽ thật; thay vào đó, họ làm hết sức mình để trục xuất chúng” (Tại sao ngươi không sẵn sàng là một vật làm nền? Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). “Những ai được sinh ra nơi vùng đất bị bại hoại sâu sắc nhất trong tất cả còn càng không biết Đức Chúa Trời là gì, hay tin vào Đức Chúa Trời có nghĩa là gì. Mọi người càng bị làm bại hoại, họ càng ít biết đến sự tồn tại của Đức Chúa Trời, ý thức và sự thông sáng của họ càng kém. Nguồn gốc của sự chống đối và sự dấy loạn chống lại Đức Chúa Trời của con người chính là sự bại hoại của họ gây ra bởi Sa-tan. Bởi vì sự bại hoại của Sa-tan, lương tâm của con người đã trở nên u mê, đạo đức bại hoại, suy nghĩ suy đồi, và quan điểm tinh thần thì lạc hậu. Trước khi bị Sa-tan làm bại hoại, con người đã thuận phục Đức Chúa Trời một cách tự nhiên và thuận phục lời Ngài sau khi nghe chúng. Họ đã tự nhiên có ý thức cùng lương tâm tốt, và có nhân tính bình thường. Sau khi bị Sa-tan làm cho bại hoại, thì ý thức, lương tâm và nhân tính ban đầu của con người trở nên trì độn và bị hư hoại bởi Sa-tan. Do đó, họ đã đánh mất sự thuận phục và tình yêu đối với Đức Chúa Trời. Ý thức của con người đã trở nên khác thường, tâm tính của họ đã trở nên giống như của một con vật, và sự dấy loạn cùng Đức Chúa Trời của họ ngày càng thường xuyên và trầm trọng hơn. Ấy vậy mà con người vẫn không biết, cũng không thừa nhận điều này, và chỉ đơn thuần chống đối và dấy loạn một cách nhất quán. Tâm tính của con người được bộc lộ trong những biểu hiện về ý thức, sự thông sáng và lương tâm của họ; bởi vì ý thức và sự thông sáng của họ không tốt, và lương tâm của họ đã trở nên vô cùng tăm tối, thế nên tâm tính của họ dấy loạn chống lại Đức Chúa Trời” (Có một tâm tính không thay đổi là thù nghịch với Đức Chúa Trời, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Khi suy ngẫm lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu rằng chính Sa-tan đã làm bại hoại và ăn mòn tâm trí con người. Mọi người đều sống theo những triết lý của Sa-tan như “Người không vì mình, trời tru đất diệt”, “Lợi nhuận là trên hết”, và “Chỉ chiếm lợi chứ không chịu thiệt”, trở nên ích kỷ và đê tiện, hoàn toàn bất chấp lương tâm. Trong mọi việc họ làm, trước tiên họ đều nghĩ đến việc liệu nó có lợi cho họ hay không. Nếu có lợi, họ sẽ làm; nếu không, họ sẽ không làm. Tôi cũng đã bị những tư tưởng và quan điểm của Sa-tan này làm bại hoại sâu sắc. Khi thấy mình có được sự chăm sóc và bảo vệ của Đức Chúa Trời từ việc tin vào Ngài và thực hiện bổn phận, và cuộc sống gia đình dường như đang cải thiện, tôi cho rằng đây là những phước lành từ Đức Chúa Trời mà tôi đã nhận được vì tôi đã trung thành trong việc thực hiện bổn phận, và miễn là tôi tiếp tục tích cực thực hiện bổn phận theo cách này, tôi cũng sẽ có thể nhận được sự cứu rỗi và vào vương quốc trong tương lai. Khi chồng tôi ngã bệnh và gia đình tôi gặp khó khăn tài chính, tôi đã hiểu lầm Đức Chúa Trời và oán trách Ngài, và muốn thực hiện bổn phận của mình một cách qua loa chiếu lệ. Sự thật đã tỏ lộ rằng tôi hoàn toàn không có chút chân thành nào trong việc thực hiện bổn phận của mình. Tất cả những gì tôi đang làm là cố gắng lừa dối Đức Chúa Trời và tính kế với Ngài, cố gắng một cách vô ích để lừa gạt phước lành từ Đức Chúa Trời bằng cách thực hiện bổn phận của mình. Đức Chúa Trời đã đích thân nhập thể và bày tỏ lẽ thật để cứu rỗi chúng ta. Ngài dành trọn vẹn cái giá tâm huyết cho chúng ta, và không bao giờ xem xét đến lợi ích của riêng mình. Thực chất của Đức Chúa Trời là thành tín; Ngài là vị tha, tốt đẹp và thiện lành. Ngược lại, trong chút ít bổn phận mà tôi đã làm lại ẩn giấu những sự giao dịch, đòi hỏi và lừa dối, và tôi đơn giản là hoàn toàn không đối xử với Đức Chúa Trời như Đức Chúa Trời. Tôi là một người ích kỷ và đê tiện đã mất hết nhân tính và lý trí. Nếu Đức Chúa Trời không sắp đặt hoàn cảnh này, tôi sẽ không bao giờ nhìn thấy rõ bản chất thật sự của mình. Chỉ đến lúc đó tôi mới hiểu rằng, bệnh tật của chồng và khó khăn tài chính của gia đình không phải là Đức Chúa Trời cố tình gây khó dễ cho tôi. Thay vào đó, mục đích là để tôi nhìn thấy rõ bộ mặt xấu xí ích kỷ và đê tiện của mình, thức tỉnh trái tim tôi, và chỉ cho tôi cách làm người. Đây là sự cứu rỗi lớn lao của Đức Chúa Trời dành cho tôi, chứa đựng tình yêu của Ngài trong đó, nhưng tôi đã quá đui mù, không hiểu được tâm ý của Ngài, và đã liên tục hiểu lầm, oán trách Ngài. Khi hiểu ra điều này, tôi tràn đầy hối hận và căm ghét bản thân. Tôi trở nên sẵn lòng thuận phục Đức Chúa Trời và trải nghiệm công tác của Ngài.
Sau đó, tôi đọc thêm lời của Đức Chúa Trời: “Gióp đã không nói chuyện đổi chác với Đức Chúa Trời, và đã không yêu cầu hay đòi hỏi gì ở Đức Chúa Trời. Sự ngợi khen danh Đức Chúa Trời của ông là vì quyền năng và thẩm quyền vĩ đại của Đức Chúa Trời trong việc tể trị muôn vật, và nó không lệ thuộc vào việc ông đạt được những phúc lành hay bị tai họa giáng xuống. Ông đã cho rằng bất kể Đức Chúa Trời ban phúc cho con người hay giáng thảm họa xuống họ, thì quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Trời sẽ không thay đổi, do đó, bất kể hoàn cảnh của người ta thế nào, thì danh Đức Chúa Trời đều nên được ngợi khen. Việc con người được Đức Chúa Trời ban phúc lành là bởi sự tể trị của Đức Chúa Trời, và khi tai họa xảy đến với con người, đó cũng là vì sự tể trị của Đức Chúa Trời. Quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Trời tể trị và sắp đặt mọi thứ của con người; họa phúc nay mai của con người là biểu hiện cho quyền năng và thẩm quyền của Đức Chúa Trời, và bất kể ngươi nhìn nhận chuyện này từ góc độ nào, danh Đức Chúa Trời phải được ngợi khen. Đây là điều Gióp đã trải nghiệm và bắt đầu biết đến trong những năm tháng của cuộc đời ông. Tất cả những ý nghĩ và hành vi của Gióp đều đến tai Đức Chúa Trời và đến trước Đức Chúa Trời, cũng như được Đức Chúa Trời xem trọng. Đức Chúa Trời trân trọng nhận thức này của Gióp, và trân quý Gióp vì có tấm lòng như vậy. Tấm lòng này luôn chờ đợi lệnh truyền của Đức Chúa Trời, ở mọi nơi, và bất kể thời gian hay nơi chốn, nó cũng chào đón bất cứ điều gì xảy đến với ông. Gióp đã không yêu cầu gì ở Đức Chúa Trời. Điều ông yêu cầu chính mình là chờ đợi, chấp nhận, đối diện, và thuận phục tất cả những sự sắp đặt đến từ Đức Chúa Trời; Gióp tin đây là chức trách của ông, và đó chính là điều Đức Chúa Trời muốn” (Công tác của Đức Chúa Trời, tâm tính của Đức Chúa Trời, và chính Đức Chúa Trời II, Lời, Quyển 2 – Về việc biết Đức Chúa Trời). Khi Gióp mất hết chiên bò và của cải, mặc dù ông vô cùng đau khổ trong lòng, nhưng ông vẫn có lý tính. Ông không vội kết luận khi không hiểu tâm ý của Đức Chúa Trời, và không bao giờ thốt ra một lời oán trách hay phản nghịch chống lại Đức Chúa Trời. Ông biết rằng Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời thật duy nhất, Đấng tạo dựng hết thảy và tể trị vạn vật. Dù Đức Chúa Trời ban cho hay lấy đi, danh Ngài vẫn luôn đáng được ca ngợi và tán dương. Gióp đã có thể đón nhận từ Đức Chúa Trời và thuận phục mọi hoàn cảnh mà Đức Chúa Trời sắp đặt. Nhìn lại mình thì ngược lại, tôi thấy rằng khi Đức Chúa Trời ban cho tôi ân điển và phước lành, tôi vui mừng ca ngợi danh Ngài, nhưng khi chồng tôi ngã bệnh và gia đình gặp khó khăn tài chính, tôi đã không đến trước Đức Chúa Trời cầu nguyện để tìm kiếm và nắm bắt tâm ý của Ngài. Thay vào đó, tôi muốn dùng việc thực hiện bổn phận để lừa dối hòng chiếm được lòng tin của Đức Chúa Trời, và để Ngài giúp giải quyết những khó khăn của gia đình tôi. Khi những gì Đức Chúa Trời làm không theo ý muốn của tôi, tôi đã oán trách rằng Ngài không công chính với tôi. Sự thuận phục của tôi hoàn toàn dựa trên việc liệu tôi có thể nhận được lợi ích cá nhân nào từ đó hay không. So với Gióp, tôi khác một trời một vực. Nhân tính của tôi quá tồi tệ!
Sau đó, tôi đọc được thêm lời của Đức Chúa Trời: “Không có mối tương quan giữa bổn phận của con người và việc liệu họ được phúc hay gánh họa. Bổn phận là việc con người phải thực hiện; đó là thiên hướng của họ và không nên lệ thuộc vào sự tưởng thưởng, điều kiện hay lý do. Chỉ khi đó mới là thực hiện bổn phận của mình. Được ban phúc là khi ai đó được làm cho hoàn thiện và vui hưởng các phúc lành của Đức Chúa Trời sau khi trải qua sự phán xét. Gánh họa là khi tâm tính của ai đó không thay đổi sau khi họ đã trải qua hình phạt và sự phán xét, đó là khi họ không trải nghiệm việc được làm cho hoàn thiện, mà bị trừng phạt. Nhưng bất kể họ được ban phúc hay gánh họa, những loài thọ tạo cũng phải thực hiện bổn phận của mình, làm những điều họ cần phải làm, và làm những điều họ có thể làm; đây chính là điều tối thiểu mà người mưu cầu Đức Chúa Trời nên làm. Ngươi không nên thực hiện bổn phận của mình chỉ để được ban phúc, và ngươi không nên từ chối hành động vì sợ gánh họa. Để Ta bảo các ngươi điều này: Việc thực hiện bổn phận của con người là những gì họ cần phải làm, và nếu họ không thể thực hiện bổn phận của mình, thì đây là sự phản nghịch của họ” (Sự khác nhau giữa chức vụ của Đức Chúa Trời nhập thể và bổn phận của con người, Lời, Quyển 1 – Sự xuất hiện và công tác của Đức Chúa Trời). Từ lời Đức Chúa Trời, tôi hiểu rằng sự sống của con người là do Đức Chúa Trời ban cho, và mọi thứ mà con người tận hưởng đều do Đức Chúa Trời cung cấp. Con người nên thực hiện bổn phận của mình một cách vô điều kiện. Đây là chuyện thiên kinh địa nghĩa. Con người không nên đưa ra điều kiện hay đòi hỏi; càng không nên chỉ thực hiện bổn phận của mình để nhận được phước lành và ân điển. Đây là việc thiếu lý trí nhất. Giống như cha mẹ chịu nhiều gian khổ để nuôi nấng con cái, con cái nên phụng dưỡng cha mẹ. Đây là chuyện thiên kinh địa nghĩa. Con người không nên phụng dưỡng cha mẹ chỉ vì họ nhận được tài sản thừa kế, và đuổi cha mẹ đi nếu họ không nhận được. Những người như vậy là nghịch tử, là súc sinh. Làm như vậy là không có nhân tính. Thực hiện bổn phận là thiên chức của tôi với tư cách là một loài thọ tạo, và tôi không nên mang bất kỳ ý định hay mục đích nào vào đó. Bất kể Đức Chúa Trời có ban phước cho tôi hay không, tôi nên vô điều kiện làm tốt bổn phận của mình. Hơn nữa, chồng tôi đã cố ngăn cản tôi tin vào Đức Chúa Trời. Bệnh của anh ấy không khỏi là do lỗi của chính anh ấy, không đáng được thương hại. Anh ấy là một người chống đối Đức Chúa Trời, vậy mà tôi lại xin Đức Chúa Trời chữa bệnh cho anh ấy và thậm chí còn oán trách Đức Chúa Trời. Làm vậy là hoàn toàn bất chấp lý lẽ, và đã chuốc lấy sự ghê tởm và chán ghét của Đức Chúa Trời. Bây giờ, bất kể chồng tôi có khỏi bệnh hay không, tôi sẵn lòng thuận phục sự sắp đặt và an bài của Đức Chúa Trời, điều chỉnh thái độ của mình, một lòng một dạ làm tốt bổn phận của mình, giao phó những khó khăn của gia đình cho Đức Chúa Trời, và thuận phục sự sắp đặt và an bài của Ngài. Khi đã hiểu ra điều này, tôi không còn quá cay đắng nữa, và tôi biết rằng mình cần có hoàn cảnh này thì mới có thể thay đổi. Đó là sự giàu có của sự sống, được Đức Chúa Trời ban cho tôi. Sau đó tôi nghĩ đến những lời trong Kinh Thánh nói: “Hãy xem loài chim trời: chẳng có gieo, gặt cũng chẳng có thâu trử vào kho tàng, mà Cha các ngươi trên trời nuôi nó. Các ngươi há chẳng phải là quí trọng hơn loài chim sao?” (Ma-thi-ơ 6:26). Đức Chúa Trời phán rằng chim trời không gieo cũng không gặt, vậy mà Ngài còn nuôi chúng, huống chi là con người. Đức Chúa Trời không muốn tôi chuẩn bị, lên kế hoạch, hay xem xét những việc trong tương lai, mà muốn tôi để mọi việc diễn ra tự nhiên. Cố gắng tự mình suy nghĩ quá xa chỉ là tự chuốc lấy phiền não; tôi nên biết đủ với việc có cơm ăn áo mặc. Mặc dù gia đình chúng tôi gặp khó khăn về tài chính, nhưng chúng tôi vẫn có thể xoay sở được, và tôi sẵn lòng thuận phục sự tể trị và an bài của Đức Chúa Trời trong hoàn cảnh này, không còn đau khổ và lo lắng cho ngày mai nữa.
Sau đó, chú của bạn chồng tôi đến nghỉ mát. Ông đã dạy chồng tôi về các loại cao dán và phương pháp điều trị đau lưng và chân, và còn chữa bệnh miễn phí cho anh ấy. Một thời gian sau, chồng tôi đã khá hơn nhiều, anh ấy còn mở một phòng khám ở chợ để điều trị đau lưng và chân, kiếm được một số tiền để phụ giúp thu nhập gia đình. Sau khi trải qua những điều này, chồng tôi không còn cố gắng ngăn cản tôi tin vào Đức Chúa Trời nhiều như trước, và tôi không còn bị kìm kẹp như trước khi ra ngoài làm bổn phận. Sau đó, bệnh của chồng tôi tái phát nhiều lần, nhưng tôi không còn oán trách Đức Chúa Trời vì bệnh của chồng tôi nữa. Tôi biết rằng bất cứ điều gì Đức Chúa Trời sắp đặt đều là tốt, và tôi nên thuận phục Đức Chúa Trời và làm tốt bổn phận của mình. Việc tôi có thể thay đổi theo cách này là kết quả của sự dẫn dắt của lời Đức Chúa Trời. Tạ ơn Đức Chúa Trời!
Hồi chuông thời sau hết báo động đã vang lên, đại thảm họa đã ập xuống, bạn có muốn cùng gia đình nghênh đón được Thiên Chúa, và có cơ hội nhận được sự che chở của Thiên Chúa không?
Bởi Trương Ngọc, Trung QuốcTháng 7 năm 2008, dì tôi đã rao giảng phúc âm thời kỳ sau rốt của Đức Chúa Trời cho tôi. Qua việc đọc lời của...
Bởi Đồng Vũ, Trung QuốcTừ nhỏ, tôi đã có thể chất kém và là một con ma bệnh, điều này khiến tôi đặc biệt khao khát bản thân có thể có một...
Bởi Lý Y Thuận, Trung QuốcKhi tôi mới tin Chúa thì rất sốt sắng, hai tháng sau tôi bắt đầu thực hiện bổn phận sự vụ, sau đó lại làm công...
Tôi sinh ra trong một gia đình Cơ Đốc giáo. Năm 60 tuổi, tôi tiếp nhận công tác của Đức Chúa Trời Toàn Năng vào thời kỳ sau rốt. Tôi cảm...